Hướng dẫn xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội

Cập nhật lúc : 2:48 PM, 21/09/2010
Ảnh minh hoạ.
(eFinance Online) - Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện Qui chế Xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng chính sách xã hội ban hành kèm theo quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Cụ thể hoá 4 nguyên nhân khách quan

Theo Quy chế Xử lý nợ rủi ro, có 4 nguyên nhân khách quan được chấp nhận, gồm: (1) Thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, dịch bệnh xảy ra làm thiệt hại trực tiếp đến vốn, tài sản của khách hàng hoặc của dự án;

(2) Nhà nước thay đổi chính sách làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng (không còn nguồn cung cấp nguyên vật liệu; mặt hàng sản xuất, kinh doanh bị cấm…);

(3) Khách hàng là cá nhân vay vốn, học sinh sinh viên hoặc người đi lao động tại nước ngoài vay vốn thông qua hộ gia đình: bị mất năng lực hành vi dân sự; người vay vốn ốm đau thường xuyên, mắc bệnh tâm thần, có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không nơi nương tựa; chết; mất tích hoặc bị tuyên bố là chết, mất tích không còn tài sản để trả nợ hoặc không có người thừa kế hoặc người thừa kế thực sự không có khả năng trả nợ thay cho khách hàng;

(4) Khách hàng là pháp nhân, tổ chức kinh tế đã có quyết định giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật mà không còn pháp nhân, không còn vốn, tài sản để trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội.

Để tăng tính chính xác, thuận tiện trong việc xác định các nguyên nhân khách quan, Dự thảo Thông tư của Bộ Tài chính đã quy định một cách chi tiết hơn.

Trong đó, khoản (1) được cụ thể hoá bằng các trường hợp: Thiên tai và các tác động do biến đổi khi hậu gây thiệt hại đến vốn, tài sản của khách hàng gồm: bão, lũ, lụt, lũ quét, hạn hán, động đất, sét đánh, mưa đá, sạt lở đất, lốc xoáy, sóng thần, rét đậm, rét hại, nắng nóng; Địch hoạ, chiến tranh; Hoả hoạn, cháy rừng; Các dịch bệnh liên quan đến gia súc, gia cầm, thuỷ hải sản, động vật nuôi khác và cây trồng.

Khoản (2) được cụ thể hoá bằng các trường hợp: Nhà nước điều chỉnh chính sách làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng như không còn nguồn cung cấp nguyên vật liệu; mặt hàng sản xuất kinh doanh bị cấm, bị hạn chế theo qui định của pháp luật hoặc khách hàng phải thực hiện việc chuyển đổi sản xuất, kinh doanh theo quyết định của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Do biến động chính trị, kinh tế - xã hội ở khu vực, quốc tế và nước nhận lao động của Việt Nam làm ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài như: Doanh nghiệp tiếp nhận lao động bị phá sản, giải thể; Doanh nghiệp tiếp nhận lao động bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động...

Khoản (3) được cụ thể hoá bằng các trường hợp: Khách hàng là cá nhân vay vốn, học sinh sinh viên hoặc người đi lao động tại nước ngoài vay vốn thông qua hộ gia đình: bị mất năng lực hành vi dân sự; người lao động bị tai nạn nghề nghiệp trong quá trình lao động ở nước ngoài; người vay vốn ốm đau thường xuyên, mắc bệnh tâm thần, có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không nơi nương tựa; chết; mất tích hoặc bị tuyên bố là chết, mất tích không còn tài sản để trả nợ hoặc không có người thừa kế hoặc người thừa kế thực sự không có khả năng trả nợ thay cho khách hàng.

Riêng Khoản (4) vẫn giữ nguyên như trong Quy chế.

Cách xác định mức độ thiệt hại về vốn và tài sản

Dự thảo quy định: Khi khách hàng vay vốn gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan và có đơn đề nghị xử lý rủi ro, Ngân hàng Chính sách xã hội phối hợp các tổ chức, cá nhân có liên quan tiến hành thẩm tra, lập biên bản xác nhận mức độ thiệt hại về vốn và tài sản của khách hàng.

Biên bản xác nhận mức độ thiệt hại về vốn và tài sản của khách hàng có xác nhận của lãnh đạo Ngân hàng Chính sách xã hội nơi cho vay, Tổ trưởng tổ tiết kiệm vay vốn; Lãnh đạo tổ chức chính trị xã hội địa phương nhận uỷ thác cho vay; Chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, phường nơi khách hàng cư trú; xác nhận của các cơ quan chuyên ngành tại địa phương (nếu có) như cơ quan phòng chống lụt bão, cơ quan phòng cháy chữa cháy, cơ quan y tế dự phòng, cơ quan thú y. Giao Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách ban hành mẫu biên bản xác nhận mức độ thiệt hại về vốn và tài sản của khách hàng để áp dụng thống nhất trong cả nước.

Việc xác định mức độ (tỷ lệ) thiệt hại về vốn và tài sản của khách hàng để áp dụng biện pháp xử lý nợ được căn cứ trên cơ sở số vốn, tài sản thực tế của khách hàng bị tổn thất do các nguyên nhân khách quan (được các cơ quan thẩm tra xác nhận) so với số vốn để thực hiện dự án, phương án sản xuất kinh doanh được ghi trong hợp đồng tín dụng hoặc đơn xin vay vốn của khách hàng. Trường hợp học sinh sinh viên vay vốn để theo học tại các trường hoặc đối tượng chính sách vay vốn để đi lao động có thời hạn ở nước ngoài thì việc xác định mức độ thiệt hại được căn cứ trên cơ sở số vốn và tài sản thực tế bị tổn thất so với tổng số vốn khách hàng đang vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội.

Hồ sơ pháp lý để xử lý nợ bị rủi ro

Đối với khoanh nợ, gia hạn nợ, cần có đơn xin khoanh nợ, gia hạn nợ của khách hàng. Trong đơn, khách hàng nêu rõ nguyên nhân gây thiệt hại; mức độ thiệt hại về vốn và tài sản; khả năng trả nợ; số tiền dư nợ gốc và lãi còn phải trả Ngân hàng; số tiền đề nghị khoanh nợ, gia hạn nợ; Biên bản xác định mức độ thiệt hại về vốn và tài sản do Ngân hàng Chính sách xã hội và khách hàng vay lập có xác nhận của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền; Bản sao Hợp đồng tín dụng, sổ vay vốn có rút số dư nợ (gốc, lãi) đến ngày bị rủi ro (Ngân hàng Chính sách xã hội nơi cho vay ký sao y, đóng dấu);

Trường hợp người vay là tổ chức kinh tế thì ngoài các văn bản nêu trên, cần có các giấy tờ sau: Biên bản xác định mức độ tổn thất, thiệt hại về vốn và tài sản theo quy định của pháp luật kèm báo cáo tài chính 2 năm gần nhất của tổ chức kinh tế; Phương án khôi phục sản xuất - kinh doanh của tổ chức kinh tế.

Đối với xoá nợ, đơn xin xóa nợ nêu rõ nguyên nhân dẫn đến rủi ro không trả được nợ; mức độ thiệt hại về vốn và tài sản; khả năng trả nợ; số tiền gốc và lãi đang còn nợ Ngân hàng; số tiền gốc và lãi xin xoá nợ. Trường hợp khách hàng vay chết, mất tích mà không còn người thừa kế thì không cần phải có đơn đề nghị xử lý nợ.

Đồng thời cần có biên bản xác định mức độ thiệt hại về vốn và tài sản của khách hàng. Trên biên bản phải thể hiện nội dung: đã áp dụng các biện pháp tận thu mọi nguồn có khả năng thanh toán của khách hàng; hộ vay không còn tài sản để trả nợ, không có người thừa kế hoặc còn người thừa kế nhưng người thừa kế không có khả năng trả nợ thay cho khách hàng.

Dự thảo của Bộ Tài chính cũng đã quy định cụ thể các loại giấy tờ liên quan của người vay, học sinh sinh viên, người đi lao động nước ngoài bị rủi ro đối với từng trường hợp cụ thể như sau:

Trường hợp khách hàng vay vốn hết thời gian khoanh nợ (kể cả trường hợp được khoanh nợ bổ sung) vẫn không có khả năng trả nợ: Trên biên bản xác nhận nợ vay bị rủi ro phải đánh giá cụ thể về khả năng trả nợ của khách hàng và thể hiện nội dung: món vay đã hết thời gian khoanh nợ (kể cả trường hợp khoanh nợ bổ sung) mà khách hàng vẫn không có khả năng trả nợ, Ngân hàng Chính sách xã hội đã áp dụng các biện pháp tận thu mọi nguồn có khả năng thanh toán.

Trường hợp người vay mất năng lực hành vi dân sự: Bản sao có chứng thực của Quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của Tòa án hoặc giấy xác nhận cụ thể, rõ ràng về việc mất năng lực hành vi dân sự của cơ quan y tế cấp huyện trở lên.

Trường hợp người vay ốm đau thường xuyên, mắc bệnh tâm thần: Giấy xác nhận về tình trạng sức khỏe (bản sao có chứng thực) của cơ quan y tế cấp huyện trở lên.

Trường hợp người vay có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không nơi nương tựa: Có xác nhận rõ ràng của Uỷ ban nhân dân cấp xã trên biên bản về hoàn cảnh cụ thể của hộ vay: hộ vay có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không nơi nương tựa.

Trường hợp người vay chết, mất tích: Bản sao có chứng thực Giấy chứng tử, bản sao có chứng thực Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án.

Trường hợp người vay bị tuyên bố là chết, mất tích: Có xác nhận rõ ràng của Uỷ ban nhân dân cấp xã và công an xã trên biên bản về các nội dung sau: họ và tên, hộ khẩu thường trú, thời gian, địa điểm chết, mất tích.

Trường hợp người lao động bị tai nạn nghề nghiệp trong quá trình lao động ở nước ngoài: Các giấy tờ liên quan đến xác nhận mức độ thương tích, bệnh án và các hồ sơ liên quan khác

Trường hợp không còn người thừa kế phải có các giấy tờ sau: Giấy chứng tử người thừa kế (nếu người thừa kế chết), hoặc xác nhận cụ thể của Uỷ ban nhân dân xã trên biên bản: người thừa kế chết hoặc không có người thừa kế hoặc người thừa kế mất tích hoặc người thừa kế không có khả năng trả nợ.

Trường hợp khách hàng là pháp nhân, tổ chức kinh tế đã phá sản, giải thể phải có Quyết định phá sản, giải thể của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc tuyên bố của Tòa án (bản sao có chứng thực) và các văn bản có liên quan đến việc thanh lý tài sản của đơn vị bị phá sản, giải thể theo quy định của pháp luật; Bản sao giấy nhận nợ, bản sao hợp đồng tín dụng, sổ vay vốn có rút số dư nợ (gốc và lãi) đến ngày bị rủi ro (Ngân hàng Chính sách xã hội nơi cho vay ký sao y, đóng dấu); Các giấy tờ liên quan khác (nếu có).

Nguồn vốn để xử lý rủi ro

Nguồn vốn để xoá nợ gốc cho khách hàng được sử dụng từ quĩ dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội. Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội không đủ bù đắp, Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng chính sách xã hội báo cáo Bộ Tài chính để trình Thủ tướng chính phủ xem xét, quyết định. Đối với nợ lãi, Ngân hàng chính sách xã hội xoá nợ lãi chưa thu đối với khách hàng.

Nguồn vốn để gia hạn nợ, khoanh nợ cho khách hàng được tính trong tổng nguồn vốn hoạt động hàng năm của Ngân hàng Chính sách xã hội.

Trong thời gian gia hạn nợ, Ngân hàng Chính sách xã hội tính lãi, thu lãi đối với khách hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và theo chế độ qui định.

Trong thời gian khoanh nợ, Ngân hàng Chính sách xã hội không tính lãi, không thu lãi đối với khách hàng. Khi tính toán, xác định số cấp bù chênh lệch lãi suất hàng năm, Ngân hàng Chính sách xã hội được tính lãi suất cho vay bằng 0% đối với số dư nợ cho vay được khoanh (khi tính lãi suất cho vay bình quân).

(Ngọc Mai)

24/1025/1026/10

23°C

22°C - 28°C

23°C - 27°C

Thay đổi: 1,04 Tổng số GD: 20.900
Tổng KLGD: 75.998.425 Tổng GTGD: 944,00 tỷ
Thay đổi: -1,57 Tổng số GD: 57.520
Tổng KLGD: 161.905.991 Tổng GTGD: 3.095,06 tỷ
Rút thuế TTĐB đối với trò chơi điện tử trực tuyến
(eFinance Online) - Bộ Tài chính vừa có văn bản 14749/BTC-CST báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho rút nội dung thu thuế TTĐB đối với...
Huy động 1.800 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ
(eFinance Online) - Ngày 22/10/2014, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã tổ chức phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ do Kho bạc Nhà...
Triển khai VNACCS/VCIS tại các cục hải quan
(eFinance Online) - Hệ thống thông quan hàng hóa tự động VNACCS/VCIS đã được Tổng cục Hải quan triển khai từ 01/4/2014, trên toàn quốc nhằm...
Dùng hoá đơn GTGT hay hoá đơn xuất khẩu?
(eFinance Online) - Hỏi: Công ty đang hợp tác với Google Adwords đặt quảng cáo game lên hệ thống của họ. Một điều kiện bắt buộc...

Liên kết Website Đăng ký tin thư