Mô hình hệ thống thông tin quản lý tài chính công quốc gia

Cập nhật lúc : 9:33 AM, 03/06/2013
(eFinance số 117 Ngày 15/03/2013) - Kể từ khi Việt Nam thực hiện Đề án Cải cách tổng thể hành chính công và trong đó cải cách tài chính công là một hạng mục đặc biệt quan trọng từ năm 2000, tính đến nay, ngành Tài chính đã có những thành tựu rất lớn thông qua việc tin học hóa các hoạt động tác nghiệp; Đồng thời xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) hiện đại phục vụ vận hành các ứng dụng phần mềm nghiệp vụ chuyên môn được vận hành trên toàn quốc.

Hiện tại ngành Tài chính đã hoàn tất xây dựng cơ sở hạ tầng truyền thông thống nhất (hệ thống mạng trục), cho phép kết nối mạng truyền thông tới tất cả các đơn vị trong ngành Tài chính trên toàn quốc. Cùng với đó là việc trang bị cơ sở hạ tầng CNTT hiện đại từ các thiết bị đầu cuối phục vụ như: mạng LAN, máy trạm, các thiết bị chuyên dụng phục vụ hoạt động chuyên ngành, hệ thống an toàn bảo mật, hệ thống máy chủ và các trung tâm dữ liệu hiện đại.

Cùng với hạ tầng CNTT đó, ngành Tài chính đã thực hiện tin học hoá hơn 95% nghiệp vụ với hơn 100 ứng dụng phần mềm đã được triển khai trong toàn ngành phục vụ công tác chuyên môn.  Các hệ thống CNTT hiện đại ứng dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến nhất thế giới, quy mô lớn, tập trung toàn quốc cũng được  ngành Tài chính đã và đang thực hiện triển khai như TABMIS (Hệ thống quản lý thông tin ngân sách và kho bạc), PIT (Hệ thống quản lý thuế thu nhập cá nhân), TCS (Hệ thống trao đổi thông thông tin thu ngân sách nhà nước), ITAIS (Hệ thống thông tin quản lý thuế tích hợp)…

Lĩnh vực quản lý tài chính công bao gồm rất nhiều các cấu phần có nghiệp vụ chuyên môn khác nhau như: Quản lý lập và phân bổ dự toán ngân sách; Quản lý kho quỹ và kế toán ngân sách; Quản lý nợ công; Quản lý thu ngân sách; Quản lý công sản; Quản lý đầu tư công; Quản lý chi tiêu ngân sách… Cho nên nếu đứng ở góc độ ứng dụng CNTT giải quyết bài toán quản lý tài chính công tổng thể, thì sẽ nhìn thấy một thực trạng bất cập; Đó là các hệ thống CNTT đã và đang được xây dựng còn rất phân tán, các hệ thống thiếu liên kết và trao đổi thông tin với nhau và đặc biệt là các chỉ tiêu quản lý tài chính công thiếu sự xuyên suốt giữa các hệ thống thông tin dẫn tới thông tin bị gián đoạn, không phản ánh đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Việc ứng dụng CNTT hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ quản lý tài chính công là một trong các biện pháp thực hiện cải cách được quan tâm, đầu tư rất lớn thực hiện song song với các chương trình thực hiện cải cách khác.

Trong gian đoạn 2011-2012, mục tiêu thực hiện cải cách quản lý tài chính công đó chính là việc ngày càng tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát đa chiều của các tổ chức bên ngoài ngành Tài chính (như các cơ quan dân cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thanh tra Chính phủ, các tổ chức quốc tế…), chuyển đổi vai trò hệ thống Kho bạc Nhà nước từ chức năng quản lý ngân quỹ sang Tổng kế toán Nhà nước, từng bước đáp ứng các thông lệ và chuẩn quản lý tài chính công quốc tế khi thực hiện cải cách, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính công của Việt Nam.

Do đó, một bài toán đặt ra đó là cần xây dựng hệ thống thông tin quản lý tài chính công quốc gia vừa giải quyết tốt các bài toán tác nghiệp, nhưng phải đáp ứng các yêu cầu quản lý, điều hành xuyên suốt, cho phép khả năng dự báo phục vụ hỗ trợ ra các quyết sách và cung cấp thông tin hỗ trợ  hoạt động giám sát.

Các yêu cầu trọng yếu đối với “Hệ thống thông tin quản lý tài chính công quốc gia – Government Public Financial Management Information Systems – GPF” đó là tính xuyên suốt với các thông tin quản lý, quản trị, tính đồng bộ giữa các cấu phần hình thành và tính tức thời trong khả năng cập nhật thông tin đáp ứng nhu cầu khai thác của mọi đối tượng.

Như vậy, hệ thống thông tin tài chính công quốc gia phải được quy hoạch tổng thể luồng thông tin từ kế hoạch – thực thi – kiểm tra giám sát để hình thành cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia đáp ứng yêu cầu quản lý, hỗ trợ ra quyết định của Chính phủ và các tổ chức liên quan.

Cùng với việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện một hệ thống GPF phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khác như quá trình thực hiện cải cách quy trình nghiệp vụ, chế độ chính sách, các điều kiện hữu hạn về các nguồn lực mà chính phủ có thể cung cấp nên quá trình thực hiện triển khai hệ thống GPF cần một lộ trình xây dựng phát triển phù hợp với các điều kiện thực tế Việt Nam.


Trên cơ cở phân tích hiện trạng ứng dụng CNTT trong lĩnh vực quản lý tài chính công Việt Nam, tham khảo các mô hình quản lý tài chính công một số quốc gia và giải pháp của các đối tác tư vấn lớn trên thế giới như IBM, Accenture, FreeBalance... cùng với kinh nghiệm gần 20 năm đồng hành cùng ngành Tài chính Việt Nam xây dựng và phát triển các hệ thống thông tin chuyên ngành, Công ty FPT đề xuất mô hình tổng thể hệ thống quản lý tài chính công quốc gia cho chính phủ Việt Nam bao gồm 4 khối chính:

Khối 1 - khối ứng dụng tác nghiệp của nghiệp vụ tài chính công bao gồm các hệ thống ứng dụng giải quyết các bài toán tác nghiệp nghiệp vụ tài chính công sau:

-         Quản lý dự toán: Gồm quản lý lập và phân bổ dự toán, trong điều kiện cho phép phần lập kế hoạch dự toán sẽ bao gồm cả kế hoạch dự toán theo từng niên độ và kế hoạch dự toán trung hạn, dài hạn.

-         Quản lý nợ công: Gồm quản lý vay nợ (hệ thống DMFAS đã triển khai) và quản lý phát hành trái phiếu chính phủ.

-         Quản lý thu ngân sách: Gồm quản lý các sắc thuế và các loại phí lệ phí, vì một số loại thuế - phí có liên quan đến các hoạt động hải quan nên trong nghiệp vụ này gồm luôn cả hệ thống quản lý hải quan điện tử. Để phục vụ giao diện với hệ thống kế toán ngân sách và công tác phối hợp thu ngân sách liên quan đến thuế - phí – lệ phí nên giao điện thu ngân sách cũng được đưa vào phối này để giải quyết yêu cầu trên.

-         Quản lý đầu tư công: Gồm có quản lý đầu tư công (quản lý nội dung các dự án đầu tư từ mọi nguồn ngân sách) và quản lý thanh toán vốn đầu tư (quản lý tiến độ thực hiện và quá trình cấp – thanh toán – quyết toán dự án đầu tư theo kế hoạch vốn tại từng niên độ ngân sách đã được phê duyệt thực hiện).

-         Quản lý tài sản công: Quản lý toàn diện tài sản công (quá trình hình thành, nguồn vốn hình thành, quá trình sử dụng - luân chuyển tài sản). Trước mắt có thể chỉ quản lý những tài sản quan trọng, có gía trị lớn à lâu dài có thể mở rộng phạm vi quản lý toàn bộ các tài sản công có nguồn hình thành từ các nguồn ngân sách.

-         Quản lý nguồn nhân lực: Quản lý toàn bộ - toàn diện cán bộ nhà nước (công - viên chức nhà nước và cả lao động thời vụ hợp đồng có thụ hưởng ngân sách nhà nước) gồm quá trình công tác, khen thưởng kỷ luật, lương thưởng, luân chuyển, bằng cấp – trình độ … phần ứng dụng tác nghiệp này sẽ cung cấp cho kho dữ liệu Tài chính quốc gia phục vụ phân tích các chỉ số liên quan đến nguồn nhân lực.

-         Quản lý chi tiêu ngân sách: Quản lý hoạt động tài chính – kế toán tại đơn vị hành chính sự nghiệp thụ hưởng hoặc có quan hệ sử dụng ngân sách. Không nhất thiết toàn bộ các đơn vị hành chính sự nghiệp phải sử dụng hệ thống này tuy nhiên đối với các đơn vị mang tính chất quản lý ngành dọc (nhiều cấp) thì và nghiệp vụ đồng nhất thì rất nên sử dụng như các Bộ/Ban/ Ngành của Chính phủ, các UBNN từ cấp tỉnh đến huyện. Việc các đơn vị hành chính sự nghiệp sử dụng hệ thống này sẽ có cơ hội tích hợp – trao đổi thông tin với các hệ thống tác nghiệp khác, với hệ thống kế toán nhà nước (TABMIS)…

Khối 2: Khối ứng dụng phục vụ chức năng Tổng kế toán Nhà nước bao gồm hai hệ thống ứng dụng chính đó là:

-         Kế toán nhà nước: Đây là hệ thống tác nghiệp lõi của kế toán nhà nước (kế toán ngân sách) phục vụ hạch toán kế toán và lập các báo cáo kế toán theo yêu cầu, hiện nay hệ thống này chính là hệ thống quản lý thông tin ngân sách và kho bạc (TABMIS) mà Bộ Tài chính đang triển khai.

-         Hệ thống Kho dữ liệu riêng của Kế toán nhà nước: Từ thông tin hệ thống tác nghiệp, Tổng kế toán cần có một kho dữ liệu và công cụ khai thác kho dữ liệu phù hợp phục vụ phân tích các thông tin tài chính – kế toán nhà nước nhằm phục vụ công tác quản trị, hỗ trợ công tác ra quyết định trong lĩnh vực này.

Khối 3: Khối Cổng thông tin tài chính quốc gia với các chức năng chính:

-         Cung cấp các thông tin pháp quy, quy trình, thủ tục cho các đối tượng liên quan có nhu cầu một cách đầy đủ, hệ thống, có khả năng tham chiếu trực tuyến thông tin liên quan khác có quan hệ để các đối tượng liên quan có đầy đủ thông tin khi tham gia vào quá trình chấp hành, thực hiện các quy định liên quan đến lĩnh vực tài chính công.

-         Cung cấp các thông tin liên quan đến công khai tài chính công cho các đối tượng phù hợp như cá tổ chức liên quan, các tổ chức giám sát, các tổ chức thanh tra, kiểm tra …

-         Các kênh thanh toán với các tổ chức tài chính bên ngoài như các ngân hàng thương mại, ngân hàng nhà nước, các tổ chức tín dụng khác…

-         Cổng cung cấp dịch vụ tài chính công cho đối tượng bên ngoài như quản lý tài khoản ngân sách điện tử, tra cứu thông tin đối tượng sử dụng ngân sách - nguồn vốn, tra cứu thông tin và quản lý thông tin dự án đầu tư,  tiếp nhận các dữ liệu của các đơn vị sử dụng ngân sách không tham gia trực tuyến vào hệ thống phục vụ này công tác tổng hợp thông tin - báo cáo số liệu liên quan đến hoạt động tài chính công của đơn vị.

Khối 4: Kho dữ liệu tài chính công quốc gia và công cụ khai thác kho dữ liệu (Tài chính quốc gia thông minh):

-         Kho dữ liệu tài chính công quốc gia: Đây là nơi lưu trữ toàn bộ thông tin cần thiết cho công tác phân tích, quản lý, điều hành, dự báo liên quan đến nghiệp vụ Tài chính công và bao gồm cả thông tin tài chính lẫn thông tin phi tài chính.

Kho dữ liệu tài chính công quốc gia được thiết kế theo yêu cầu quản lý từ trên xuống (tức là các yêu cầu quản lý tài chính công vĩ mô từ cấp cao nhất đến các yêu cầu quản lý Tài chính công riêng, đặc thù của cấp thấp hơn). Thông tin đầu vào của Kho dữ liệu này được trích xuất từ các hệ thống từ hệ thống tác nghiệp tài chính công (khối 1), Tổng Kế toán Nhà nước (khối 2) và Cổng thông tin tài chính (khối 3).

Để đảm bảo thông tin đầu vào cho Kho dữ liệu, các yêu cầu quản lý cần được tập hợp, phân cấp, phân rã thành các chiều thông tin cơ bản một cách khoa học và hợp lý. Trên cơ sở các chiều thông tin cơ bản đã được phân rã, cần xác định độ sâu và quan hệ giữa các chiều thông tin cần quản lý đồng thời xác định nguồn cung cấp thông tin. Để đảm bảo thông tin được đầy đủ, vẹn toàn và đáp ứng nhu cầu về tần xuất khai thác, đơn vị quản lý Kho dữ liệu sẽ phải đưa ra các yêu cầu cụ thể đối với các hệ thống nguồn cung cấp thông tin và các hệ thống nguồn cung cấp thông tin khi xây dựng và thiết kế mới ngoài đáp ứng các yêu cầu nghiệp vụ chuyên môn phải bắt buộc đáp ứng cung cấp đầy đủ các thông tin này nếu chưa có.

Chỉ có như vậy, Kho dữ liệu mới có đầy đủ thông tin cần thiết để thực hiện tổng hợp thông tin phục vụ các hoạt động quản lý, điều hành khai thác của nhiều đối tượng, tổ chức khác nhau.

Kho dữ liệu này sẽ gồm hai phần: Một kho dữ liệu nguồn được trích xuất từ các nguồn dữ liệu (lưu trữ riêng phục vụ đảm bảo tính vẹn toàn, đầy đủ số liệu nguồn và đồng thời phục vụ công tác truy suất dữ liệu chi tiết trực tiếp trên Kho dữ liệu mà không phải quay lại nơi lưu trữ dữ liệu nguồn), một Kho dữ liệu phân tích – tổng hợp (được tổng hợp theo yêu cầu phân tích dựa trên các chiều thông tin cơ bản đã được xác định từ thiết kế Kho dữ liệu và được tổng hợp với tổ hợp một số chiều thông tin cơ bản để tạo ra vùng dữ liệu đáp ứng yêu cầu quản lý điều hành khác nhau).

-         Tài chính quốc gia thông minh (công cụ khai thác Kho dữ liệu): Đây là công cụ trình diễn, khai thác Kho dữ liệu. Công cụ này phải là đáp ứng các yêu cầu cơ bản như sau: hỗ trợ quản lý thông tin trên Kho dữ liệu, thân thiện với người sử dụng, bảo mật, cho phép trình diễn thông tin với nhiều định dạng đầu ra như báo cáo (cho phép truy suất thông tin sâu hơn trực tuyến, nhiều tầng, Dashboard (giao diện trình bày thông tin cô đọng dưới dạng biểu đồ, hình ảnh cho phép quan sát so sánh trực quan), hỗ trợ lập kế hoạch dự báo với nhiều kịch bản khác nhau, phân quyền linh hoạt…

Để thực hiện xây dựng thành công hệ thống quản lý tài chính công quốc gia như trên, một trong những điểm cần lưu tâm hàng đầu không phải là về công nghệ mà chính là các vấn đề về chiến lược định hướng, lộ trình xây dựng hệ thống này.

Đầu tiên đó là chiến lược về giải pháp thực hiện được xác định như sau:

-         Cải cách: Theo lộ trình về cải cách hành chính, cải cách hoạt động tài chính công của chính phủ thì công các cải cách đã là điều tất yếu phải thực hiện và Việt nam đang trong quá trình thực hiện công tác này. Tuy nhiên dễ dàng nhận thấy đó là hoạt động cải cách sẽ là một tiến trình không ngừng nghỉ vì các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động tài chính công liên tục vận động. Nhưng để đảm bảo có thể đáp ứng được các yêu cầu đặt ra hiện nay và dự phòng trong tương lai thì hoạt động cải cách chế độ, chính sách, quy trình nghiệp vụ tài chính công phải đảm bảo các yếu tố sau: Phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam, hướng đến đáp ứng hoàn toàn các thông lệ quốc tế. Đặc biệt quan trọng đó là muốn ứng dụng CNTT làm tăng hiệu quả, chất lượng thì phải đặc biệt chú trọng đến tính khả thi tin học hóa khi thực hiện các hoạt động cải cách về chế độ, chính sách, quy trình nghiệp vụ.

-         Tích hợp: Một vấn đề nữa cần quan tâm đặc biệt đó là khả năng trao đổi thông tin vẹn toàn, thông suốt, đầy đủ theo yêu cầu giữa các hệ thống thông tin xử lý các nghiệp vụ tài chính công chuyên biệt nhưng lại có quan hệ chặt chẽ, kế thừa thông tin của nhau. Việc tích hợp các hệ thống CNTT là một quá trình lâu dài, cần được thực hiện theo một quy hoạch định trước với một lộ trình phù hợp với quá trình phát triển và xây dựng các hệ thống thông tin chuyên biệt.

Chỉ có như vậy, hệ thống quản lý tài chính công quốc gia mới có thể được xây dựng và hoàn thiện dần một cách đầy đủ và hữu ích. Không chỉ dừng lại việc hỗ trợ xử lý, quản lý các nghiệp vụ tài chính công chuyên biệt, hệ thống quản lý tài chính công quốc gia sẽ có khả năng đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin đầu ra phục vụ công tác quản trị, hỗ trợ ra quyết định mạnh mẽ như sau:

-         Cung cấp thông tin đầu ra cơ bản đa chiều, linh hoạt, hiệu quả trên một cơ sở dữ liệu thông tin thống nhất toàn vẹn. Thông tin này sẽ không chỉ phục vụ các đối tượng có nhu cầu thông tin truy xuất thông tin từ tổng hợp đến chi tiết một cách đầy đủ, cập nhật thường xuyên, toàn diện và tin cậy mà còn cung cấp thông tin hỗ trợ cho các hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo tính chấp hành pháp quy một cách chính xác và đầy đủ.

-         Cung cấp thông tin đầu ra đã tổng hợp, phân loại theo các tiêu chí quản lý phục vụ các cấp quản lý, các cấp chính quyền đưa ra các quyết định điều hành tổ chức, đơn vị mình quản lý một cách chính xác và nhanh chóng nhất phù hợp với các biến động khách quan tác động.

-         Cung cấp thông tin đầu ra mang tính dự báo dựa trên xu hướng thay đổi được thống kê trong quá khứ đối với từng loại thông tin quản lý cùng với các mô hình, kịch bản thay đổi trong tương lai để xây dựng, điều chỉnh các chiến lược, kế hoạch phát triển của đơn vị/tổ chức mình phù hợp và hiệu quả nhất. Các thông tin này cũng giúp cho sự điều hòa, cân đối tổng thể trong chiến lược phát triển đơn vị/tổ chức tránh tình trạng bỏ sót các lĩnh vực, công tác không được chú trọng hoặc giảm nhiệt các lĩnh vực, công tác phát triển quá nóng để đảm bảo phát triển cân bằng và bền vững.

Mặc dù việc ứng dụng CNTT giải quyết các bài toán quản lý tài chính công được tiến hành hơn 10 năm và các cấu phần trong mô hình đề xuất đã có những thành tựu nhất định, cũng như chiến lược phát triển cho từng cấu phần; Nhưng hiện nay Việt Nam chưa có một mô hình và chiến lược phát triển cho bài toán tổng thể quản lý tài chính công, một cách rõ ràng mạch lạc, khả thi thực sự.

Do đó, cần phải bắt tay ngày vào thiết kế quy hoạch tổng thể và chiến lược xây dựng hệ thống quản lý tài chính công quốc gia; Nếu không có quy hoạch tổng thể này, thì sau khi các hệ thống cấu phần của hệ thống quản lý tài chính công quốc gia phát triển tương đối hoàn thiện, việc tích hợp các cấu phần trong hệ thống để xây dựng kho dữ liệu tài chính công quốc gia sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì không đảm bảo các yêu cầu thông tin quản lý chủ đạo được thống nhất, xuyên suốt trong toàn bộ các cấu phần.

Quy hoạch tổng thể này cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: Mô hình các cấu phần, thành phần cơ bản của toàn bộ hệ thống thông tin quản lý tài chính công quốc gia được định danh, miêu tả đầy đủ. Trước mắt tập trung vào các cấu phần quan trọng và các thành phần quan trọng của từng cấu phần đã được xác định, việc thiết kế mô hình sẽ là một thiết kế mở để có thể bổ sung các cấu phần, thành phần của cấu phần sau này. Miêu tả rõ về vị trí, vai trò, chức năng, tổ chức/đơn vị có chức năng quản lý/thực hiện đầu tư - vận hành - khai thác liên quan của từng cấu phần, thành phần đã được xác định. Phương thức ghép nối, trao đổi thông tin giữa các cấu phần, giữa các thành phần trong cấu phần. Các yêu cầu nội dung thông tin bắt buộc cần có khi thực hiện trao đổi thông tin giữa các cấu phần, giữa các thành phần trong cấu phần đáp ứng các yêu cầu quản lý thông tin tài chính công quốc gia xuyên suốt và các thông tin quản lý khác theo phân cấp quản lý - tác nghiệp nghiệp vụ của từng cấu phần.

Đặc biệt, để có thể xây dựng thành công hệ thống thông tin quản lý tài chính công quốc gia thì rất cần sự quyết tâm, quan tâm và phối hợp triển khai từ Chính phủ, các Bộ, Ngành liên quan, chính quyền các cấp vì đây là hệ thống thông tin cấp quốc gia và cần sự tham gia của tất cả các bên liên quan đến nó.

(Dương Quốc Cường)                     

01/1102/1103/11

25°C

20°C - 25°C

20°C - 26°C

Thay đổi: 1,04 Tổng số GD: 20.900
Tổng KLGD: 75.998.425 Tổng GTGD: 944,00 tỷ
Thay đổi: -1,57 Tổng số GD: 57.520
Tổng KLGD: 161.905.991 Tổng GTGD: 3.095,06 tỷ
Cung cấp, lắp đặt hệ thống thang máy cho Chi cục Hải quan Ninh Thuận
Cục Hải quan tỉnh Khánh Hòa tổ chức đấu thầu, gói thầu số 08 - Cung cấp, lắp đặt hệ thống thang máy thuộc dự án...

Liên kết Website Đăng ký tin thư