Hạ tầng viễn thông đã thực sự trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng và bùng nổ đó cũng xuất hiện những mối lo ngại về một hạ tầng viễn thông thiếu bền vững, phát triển manh mún…
Làm sao phát triển bền vững?
Hạ tầng viễn thông trong truyền tải thông tin, dữ liệu được ví như những con đường huyết mạch của quốc gia. Do vậy, việc xây dựng và phát triển bền vững viễn thông để trở thành cơ sở hạ tầng của quốc gia theo hướng hiện đại, đồng bộ là một việc hết sức quan trọng và cấp thiết. Nhưng nếu nhìn vào tình trạng xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông theo kiểu “mạnh ai người đó làm” của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông mà không có sự quy hoạch, như mạng dây cáp chằng chịt, “lếch thếch” trên đường, trạm thu phát sóng di động thì thi nhau phát triển dày đặc (có những điểm, chỉ trong vòng bán kính 50m, có đến 4 trạm phát sóng, mỗi doanh nghiệp một trạm) mà không có sự chia sẻ, dùng chung lẫn nhau…., thì thật khó hình thành một hạ tầng viễn thông bền vững.
Tình trạng các doanh nghiệp viễn thông đua nhau xây dựng hạ tầng mạng viễn thông, Internet phủ rộng khắp nơi nhưng lại không có sự hợp tác, khai thác lẫn nhau cũng tạo nên một sự phát triển không bền vững. Tại các thành phố lớn thì hạ tầng mạng viễn thông còn sử dụng hiệu quả, còn với các vùng nông thôn, miền núi với nhu cầu sử dụng hạn chế, nên hạ tầng mạng viễn thông dù xây dựng tốn kém nhưng tỷ lệ khai thác lại rất thấp. Nếu như các doanh nghiệp viễn thông không mạnh ai nấy làm, chắc chắn việc cùng nhau chia sẻ hạ tầng viễn thông sẽ đem lại hiệu quả to lớn. Đặc biệt, các doanh nghiệp viễn thông đều là của nhà nước, dùng nguồn lực nhà nước để đầu tư, thì việc không hợp tác này còn thực sự gây ra sự lãng phí lớn.
Một tình trạng nữa cũng ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của lĩnh vực viễn thông, đó là sự “phung phí” nguồn tài nguyên kho số viễn thông quốc gia. Hiện cả nước đã có khoảng 60 triệu thuê bao di động. Tuy nhiên, phần lớn trong số đó là thuê bao di động trả trước, phát triển bùng nổ thông qua các đợi khuyến mại rầm rộ của các nhà cung cấp dịch vụ, kéo theo tình trạng số điện thoại dùng một lần rồi bỏ khá phổ biến. Hậu quả là kho số di động ngày càng cạn kiệt. Nếu tài nguyên có hạn này tiếp tục bị “hoang phí” mà không được kiểm soát chặt chẽ trong thời gian tới, chắc chắn một ngày nào đó cả xã hội sẽ lại “nháo nhào” lên vì phải thêm đầu số di động mới giống như toàn bộ số điện thoại cố định trên toàn quốc vừa qua đã phải thêm đầu số mới vì kho số đã hết…
Một hạ tầng viễn thông được xem là phát triển một cách bền vững thì hạ tầng đó phải mang tính hiện đại, đồng bộ, tốc độ cao, vùng bao phủ rộng, đáp ứng cao nhu cầu phát triển xã hội, và cũng phải gắn liền với việc bảo đảm sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên viễn thông.
Theo các nhà quản lý viễn thông, để có được một hạ tầng viễn thông quốc gia phát triển bền vững, trước hết chúng ta cần phải có một môi trường pháp lý về viễn thông hoàn thiện, một năng lực quản lý nhà nước về viễn thông được đảm bảo từ trung ương đến địa phương.
Tiếp đến là cần có một môi trường cạnh tranh trong phát triển dịch vụ viễn thông và có sự quy hoạch số lượng doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc: phát triển thị trường lành mạnh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tích lũy vốn, duy trì và mở rộng kinh doanh; tận dung cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet sẵn có; sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên viễn thông và các nguồn lực quốc gia….
Bên cạnh đó cần đẩy mạnh công tác xây dựng tiêu chuẩn trong lĩnh vực viễn thông và Internet phù hợp với pháp luật Việt Nam, thông lệ và quy định quốc tế. Tăng cường quản lý chất lượng mạng lưới, dịch vụ viễn thông và Internet thông qua hình thức công bố chất lượng trên cơ sở các tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng hoặc do các doanh nghiệp viễn thông và Internet tự nguyện áp dụng.
Việc kết nối và sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet cũng rất quan trọng. Chúng ta cần phải xây dựng và ban hành quy định về kết nối mạng viễn thông công cộng nhằm tạo thuận lợi cho việc ký kết và thực hiện thỏa thuận kết nối giữa các doanh nghiệp. Xây dựng và ban hành tiêu chí đánh giá năng lực mạng lưới và các cơ chế kinh tế, tài chính phục vụ cho việc thực hiện kết nối và giải quyết tranh chấp giữa các doanh nghiệp. Khuyến khích sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet bao gồm: vị trí lắp đặt thiết bị kết nối, thiết bị trung chuyển, ống cáp, bể cáp, cáp, sợi cáp, cột trụ ăng ten, thiết bị phụ trợ trong nhà và các phương tiện khác. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp viễn thông thuê hạ tầng của các ngành khác như truyền hình, điện lực để thiết lập mạng cung cấp dịch vụ viễn thông và Internet.
Việc quy hoạch tài nguyên viễn thông và Internet trên cơ sở đảm bảo đầu tư, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả cũng vô cùng cấp thiết. Cần ưu tiên quy hoạch và phân bổ tài nguyên cho công nghệ, dịch vụ mới như Internet thế hệ sau, thông tin di động thế hệ mới,truy nhập vô tuyến băng rộng….
Cuối cùng là cần xây dựng và hoàn thiện các quy định về đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trên mạng viễn thông và Internet. Áp dụng các công nghệ và giải pháp kỹ thuật mật mã làm tăng độ tin cậy, an toàn cho các giao dịch trên mạng viễn thông và Internet…
Giá viễn thông tiếp tục hạ
Thời gian gần đây, lĩnh vực viễn thông lại tiếp tục được “làm nóng” lên với những xu hướng giảm giá mới, cả trong lĩnh vực cố định lẫn di động.
Trong lĩnh vực điện thoại cố định hiện tồn tại một bất cập lớn trong việc áp dụng cách tính cước nội hạt, nội tỉnh. Vì tại 3 thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, các cuộc gọi nội vùng được áp mức cước nội hạt với giá rẻ. Nhưng tại các tỉnh khác, các cuộc gọi bên trong tỉnh lại bị áp dụng mức cước nội tỉnh cao hơn cước nội hạt tại các thành phố lớn, dù khoảng cách giữa 2 đầu cuộc gọi có thể còn ngắn hơn cuộc gọi nội hạt trong thành phố lớn.
Để khắc phục bất cập này, vừa qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng đề án trình Chính phủ với nội dung tái cơ cấu cước điện thoại nội hạt và nội tỉnh, sẽ đặt mục tiêu giảm mức cước nội tỉnh xuống thấp như cước nội hạt tại các thành phố lớn, nhằm giúp người dân tại các vùng nông thôn được tiếp cận với mức cước điện thoại rẻ hơn khi gọi điện thoại nội tỉnh.
Theo đó từ năm 2009 cước điện thoại cố định gọi nội tỉnh và nội hạt sẽ thống nhất mức chung 200 đồng một phút thay cho các mức 120 đồng, 400 đồng và 700 đồng hiện hành. Và cước thuê bao từ 27.000 đồng một tháng xuống còn 20.000 đồng. Như vậy, cước các cuộc gọi trong phạm vi nội hạt (các thuê bao trong cùng một quận huyện) sẽ tăng khoảng 66%, tuy nhiên, cước liên lạc nội tỉnh lại giảm từ 50% đến 71,4%.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay cước điện thoại nội hạt đang thấp hơn giá thành (cước điện thoại cố định hầu như không thay đổi từ năm 2000 đến nay) khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn, càng kinh doanh càng lỗ nặng. Mức cước nội hạt bị thấp hơn giá thành còn xuất phát từ hệ quả trước đây, để phổ cập rộng dịch vụ điện thoại cố định, cước nội hạt đã được bù chéo từ các dịch vụ khác. Nhưng đến nay, chi phí giá thành của các dịch vụ đó cũng đã tiến sát tới phí dịch vụ, nên không thể tiếp tục bù chéo lợi nhuận cho cước nội hạt nữa.
Trong lĩnh vực di động, từ tháng 11 vừa qua, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) quyết định áp dụng mức cước chung 909,1 đồng/phút cho tất cả các cuộc gọi nội mạng giữa các loại thuê bao thuộc VNPT, giảm khoảng 20% so với trước đó. Ngoài ra, VNPT còn cho phép VinaPhone và MobiFone giảm từ 30% đến 80% cước gọi ngoài giờ cao điểm. Trong đó, mức giảm tối đa 50% được áp dụng với các cuộc gọi từ 1h đêm đến 5h sáng, đồng thời giữ nguyên mức giảm 30% cước cho tất cả các cuộc gọi từ 23h đêm hôm trước đến 1h sáng hôm sau và từ sau 5h đến trước 7h sáng.
Trước đó, đầu tháng 10, nhà cung cấp dịch vụ di động đứng đầu về số thuê bao hiện nay là Viettel cũng thực hiện đợt giảm giá cước dịch vụ kết nối Internet GPRS lớn nhất từ trước tới nay, với mức giảm từ 50% đến 73%. Cùng với sự tham gia của hàng loạt các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông mới như G- Tel, VTC, CMC…, thời gian tới chắc chắc lĩnh vực viễn thông sẽ còn chứng kiến nhiều cuộc chạy đua hạ giá mới nữa.
Theo đánh giá của các tổ chức viễn thông, thị trường viễn thông tại nước ta mới chỉ đạt khoảng 60% với nhu cầu, các nhà kinh doanh dịch vụ này sẽ vẫn tiếp tục cuộc đua xác định thị phần trước khi thị trường đi vào ổn định vào khoảng năm 2010.
Chủ động với tài nguyên Internet cạn kiệt
Nguồn tài nguyên địa chỉ Internet IPv4 hiện nay tại nước ta cũng như trên thế giới đang sắp cạn kiệt. Các nước trên thế giới đã ban hành những nghị quyết chung về việc chuyển đổi IPv4 sang IPv6 (với số lượng địa chỉ gấp nhiều lần IPv4) và thiết lập đồng hồ đếm ngược về thời điểm cạn kiẹt IPv4.
Tại Việt Nam, cơ quan quản lý về tài nguyên Internet (Trung tâm Internet Việt Nam - VNNIC) cũng đã tham gia thử nghiệm IPv6 ngay từ giai đoạn đầu khi IPv6 chưa cấp phát chính thức ra cộng đồng và ra các thông báo, khuyến cáo kịp thời cho cộng đồng về tình hình cạn kiệt IPv4, các bước của tiến trình chuẩn bị chuyển đổi sang IPv6. Hiện tại các ISP Việt Nam đều đã được cấp và sẵn sàng về nguồn tài nguyên địa chỉ để cung cấp rộng rãi ra cộng đồng, xin dự phòng IPv4 để sử dụng trong thời kỳ chuyển giao.
Trong năm 2008, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành chỉ thị về việc thúc đẩy sử dụng địa chỉ Internet thế hệ mới IPv6 cho các cơ quan, tổ chức doanh nghiệp triển khai quá trình chuyển đổi này. Ngoài việc yêu cầu các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhanh chóng lên kế hoạch sử dụng IPv6, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet nghiên cứu triển khai cung cấp các dịch vụ trên nền IPv6, Bộ Thông tin và Truyền thông đang chỉ đạo các đơn vị tập trung xây dựng mạng thử nghiệm trên diện rộng và từng bước xây dựng mạng IPv6 quốc gia trên cơ sở hệ thống trung chuyển Internet quốc gia VNIX, đưa các yêu cầu phải sử dụng IPv6 vào trong các chương trình ứng dụng CNTT của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các dự án CNTT sử dụng ngân sách nhà nước.
Hiện các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet đang triển khai thiết lập kết nối vào mạng IPv6 của VNNIC để thử nghiệm và từng bước kiện toàn mạng IPv6 quốc gia. Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đang xúc tiến thành lập Ban công tác phát triển IPv6 quốc gia (IPv6 Task Force) để làm đầu mối hoạch định, triển khai IPv6 tại Việt Nam.
Chạy đua phát triển công nghệ di động mới 3G
Cuộc chay đua để được triển khai công nghệ di động mới 3 G cũng đang trở nên “nóng” hơn bao giờ hết. Tháng 11 vừa qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phát hành hồ sơ mời thi tuyển cấp phép thiết lập mạng và dịch vụ di động thế hệ thứ 3 (3G) ở băng tần số 1900-2200 MHz.
Có 7 doanh nghiệp đã được cấp Giấy phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất thế hệ thứ hai (2G) đã được phát hồ sơ, gồm: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel), Công ty Thông tin di động (VMS), Công ty cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT), Công ty cổ phần Viễn thông Hà Nội (Hanoi Telecom), Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN Telecom) và Công ty cổ phần Viễn thông di động Toàn Cầu (Gtel Mobile).
Theo dự kiến, Hội đồng thi tuyển sẽ đánh giá, chấm điểm các hồ sơ thi tuyển, lựa chọn 4 doanh nghiệp và báo cáo kết quả thi tuyển với Bộ TT&TT để xem xét cấp phép chính thức cho các doanh nghiệp trúng tuyển 3G vào quý II/2009.
3G là tiêu chuẩn của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) đối với công nghệ truyền thông di động thế hệ thứ ba. Các dịch vụ 3G gồm: tốc độ dữ liệu cao, truy cập các dịch vụ đa phương tiện, hội nghị truyền hình... trong môi trường di động. 3G chính là công nghệ tiên tiến nhất cho phép các nhà khai thác di động triển khai dịch vụ giá trị gia tăng. Theo ước tính đầu tư một mạng di động 3G thường mất khoảng thời gian 15 năm và sẽ tốn 1,2 - 2 tỷ USD.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, công nghệ 3G ở băng tần 1900 - 2200 đã được triển khai trên thế giới từ cuối năm 1999, đầu năm 2000. Hiện đã có hàng trăm nhà khai thác và rất nhiều triệu người dân trên thế giới đã sử dụng công nghệ và dịch vụ này. Đến nay, nhiều nước tiên tiến đã bắt đầu chuyển sang nghiên cứu và đưa vào sử dụng công nghệ 4G.
Vào thời điểm cách đây 8 năm thì các thiết bị công nghệ vẫn còn tương đối đắt, nhưng đến nay, giá thành của các thiết bị đã hạ rất nhiều, và gần như ngang bằng với các thiết bị của mạng 2G. Trong khi đó, những lợi ích, tiên tiến của công nghệ 3G mang lại là rất lớn.
Việc chỉ cấp phép cho 4 nhà cung cấp dịch vụ 3G là bởi một băng tần 1900 - 2200 MHz có 60 megaherz chỉ cấp đủ cho 4 doanh nghiệp. Chia đều cho 4 thì với độ rộng băng tần 15 megaherz là đủ. Nếu chia nhỏ hơn hay lớn hơn đều không hiệu quả và không phù hợp với thực tế thị trường Việt Nam. Phần lớn các nước trên thế giới cung phân chia băng tần này thành 4. Tuy nhiên, cơ hội triển khai 3G vẫn không phải đã hết đối với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác. Vì 3G có 6 tiêu chuẩn công nghệ khác nhau, và lần này Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép là chuẩn WCDMA, với băng tần từ 1900 - 2200 MHz. Việc thi tuyển lần này ở một băng tần, với một tiêu chuẩn cụ thể. Trong tương lai, các doanh nghiệp viễn thông có thể phát triển mạng 3G ở các băng tần khác, với các tiêu chuẩn công nghệ khác trong tương lai.
(Nguyễn Linh)