Quản lý nguồn vốn FDI: Đến lúc phải đổi mới tư duy

Cập nhật lúc : 3:49 PM, 15/03/2012
Đến lúc phải đổi mới tư duy quản lý nguồn vốn FDI.
(eFinance Online) - Đổi mới tư duy trong quản lý dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, tạo nên một hình ảnh mới về địa điểm đầu tư Việt Nam gắn với chất lượng, hiệu quả bằng cách lựa chọn dự án đầu tư có chất lượng… Đang là hướng đi được đề cập tại Hội thảo Giải pháp thúc đẩy và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vừa diễn ra sáng nay, ngày 15/3, tại Hà Nội.

Các nền kinh tế càng phát triển thì tính tất yếu hiển nhiên của FDI càng cao, thậm chí người ta mặc nhiên không bàn nhiều về chính sách thu hút FDI.

Đối với các nước đang phát triển, ngày càng nhiều nước không chỉ chấp nhận việc bị cuốn hút vào dòng chảy FDI thế giới, mà còn ngày càng chủ động xây dựng các chính sách thu hút và sử dụng FDI vì mục tiêu phát triển của mình. Nhằm mục tiêu gia nhập chuỗi giá trị toàn cầu để phát triển, các nước đang phát triển ngày càng chủ động tích cực thúc đẩy các hoạt động FDI và ngoại thương.

Chính vì vậy, dòng chảy FDI toàn cầu ngày càng chứng kiến xu hướng gia tăng tỷ phần nhanh chóng của các nước đang phát triển, đặc biệt là nhóm các nền kinh tế mới nổi, trước hết là Trung Quốc, Brazil, Nga và Ấn Độ.

Tính tất yếu của thu hút FDI

Với nền kinh tế Việt Nam trong 1/4 thế kỷ qua đã ghi nhận những đóng góp to lớn của dòng vốn FDI, sau 25 thực hiện chính sách mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực phát triển năng động, ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Làn sóng FDI sau những năm đầu mở cửa chiếm tới 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, Khu vực ĐTNN chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nếu như năm 1995, khu vực ĐTNN, kể cả dầu thô, chỉ chiếm 27% tổng xuất khẩu cả nước, thì đến năm 2011 đã chiếm 59%.

Thực tế, đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư phát triển. Trong bối cảnh tích lũy không đáp ứng nhu cầu về đầu tư thì nguồn vốn ĐTNN đã thực sự là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển.Trong giai đoạn 2001-2005, ĐTNN đã đóng góp 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ trọng này tăng lên 24,8% trong thời kỳ 2006-2011.

Bên cạnh đó, nguồn vốn này cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. Theo đó, nông nghiệp từ chỗ chiếm tới 80% (1988) nay chỉ còn 22%, thay vào đó, công nghiệp và dịch vụ chiếm tới 78%. Trong khối ngành công nghiệp - dịch vụ tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực có vốn ĐTNN luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của cả nước từ mức 21,7% (1996) lên 21,8% (2000) những đến năm 2010 giảm còn 17,2%. Như vậy, đã có sự đảo chiều trong cơ cấu ngành của Việt Nam.

Theo đánh giá của Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Đỗ Nhất Hoàng, ĐTNN đã mang đến một phương thức đầu tư kinh doanh mới, từ đó có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước. Thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực quản lý, kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI sang các doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, các doanh nghiệp ĐTNN cũng tạo động lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa, qua đó nâng cao được năng lực của các doanh nghiệp trong nước.

Năm 2011, kinh tế Việt Nam có biến động, lạm phát tăng cao, xuất khẩu vẫn đạt trên 33%, 2 tháng đầu năm 2012, trong lúc doanh nghiêp trong nước gặp khó khăn, IIP của Việt Nam giảm mạnh thì khu vực FDI vẫn duy trì sản xuất tốt, đóng góp lớn cho tăng trưởng xuất khẩu, góp phần vào tỷ lệ xuất khẩu 20% của Việt Nam. Có thể thấy, các DN FDI ít chịu tác động của khó khăn trong tiếp cận vốn, thị trường ít bị tác động,

Cần khẳng định, thu hút FDI đã tạo nguồn lực to lớn cho tái cơ cấu Việt Nam, đưa vào công nghệ tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại hơn, tạo môi trường cạnh tranh để DN Việt Nam phát triển. - Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bùi Quang Vinh đánh giá cao vai trò của FDI trong 25 năm qua và giai đoạn hiện nay.

Tuy vậy, bên cạnh những cái đạt được, vẫn thẳng thắn nhận thấy còn nhiều vấn đề trong FDI chưa đạt được. Cụ thể, việc thu hút, sử dụng và quản lý đầu tư nước ngoài (ĐTNN) thời gian qua đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập. Mặt khác, sự yếu kém về cơ sở hạ tầng, nhất là tình trạng thiếu điện, năng lực hạn chế của hệ thống cảng biển và các công trình ha tầng liên quan, sự thiếu hụt trầm trọng nguồn lao động đã qua đào tạo tiếp tục là những rào cản đối với hoạt động ĐTNN, làm giảm khả năng cạnh tranh của môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Đã đến lúc phải đổi mới tư duy

Theo đánh giá của Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài - Đỗ Nhất Hoàng: Song song với sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn ĐTNN trong thời gian vừa qua là sự xuất hiện ngày càng nhiều những vấn đề nổi cộm liên quan tới khu vực ĐTNN tại Việt Nam. Cụ thể như đình công kéo dài, ô nhiễm môi trường, sự chậm chễ và thiếu thống nhất trong việc cấp đất và giải phóng mặt bằng, cấp phép đầu tư ồ ạt dẫn tới sử dụng không hiệu quả nguồn tài nguyên đất, năng lượng, gây phá vỡ quy hoạch trong các ngành công nghiệp trọng yếu, hay vấn đề tổ chức hoạt động XTĐT manh mún, trùng lắp, hiệu quả thấp...

Thực trạng này đang đòi hỏi công tác XTĐT, từ cấp trung ương tới địa phương, phải tăng cường hơn nữa tính chủ động, đặc biệt là tính chủ động trong định hướng và chọn lọc ĐTNN, trong tiếp cận nhà đầu tư và dự án tiềm năng và trong quản lý hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các dự án ĐTNN.

Thực tế, với tư duy kinh tế chậm đổi mới, các loại thị trường chưa được tạo lập theo nguyên tắc kinh tế thị trường, mặt khác, vẫn còn có sự phân biệt khác nhau giữa đầu tư trong nước và FDI, chưa thực sự coi FDI là thành phần kinh tế của Việt Nam, thể hiện ngay từ khâu quy hoạch sản phẩm, phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế (lao động, đất đai, vốn…)… đã có những ảnh hưởng nhất định tới hiệu quả thu hút vốn FDI giai đoạn vừa qua.

Hơn thế, dòng FDI vào Việt Nam thời gian qua mới chỉ đạt được về lượng mà chưa đáp ứng được về chất. Thực tế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của chúng ta ngay từ đầu không phải xem nhẹ vấn đề chất, song nhu cầu về vốn trong giai đoạn đầu đã dẫn tới kết quả đánh đổi một phần “chất” để đạt được về “lượng”.

Xuất phát từ nhu cầu tái cấu trúc nền kinh tế, tạo động lực tăng trưởng, đã đến lúc phải đổi mới tư duy thu hút cũng như quản lý nguồn vốn FDI, nâng cấp dòng vốn FDI tại Việt Nam, tạo nên một hình ảnh mới về địa điểm đầu tư Việt Nam gắn với chất lượng, hiệu quả bằng cách lựa chọn dự án đầu tư có chất lượng.

Chiến lược thu hút FDI trong thời gian tới đã khẳng định, cần tập trung thu hút và lựa chọn dự án FDI có “chất lượng”, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, đi kèm đó là hàng loạt điều chỉnh về chỉnh sách phát triển kinh tế xã hội, điều chỉnh về luật pháp, trình độ quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô để tác động tới dòng FDI vào Việt Nam  trong thời gian tới.

Cụ thể, trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020, Việt Nam đang hình thành chiến lược mới về ĐTNN cho giai đoạn tới theo hướng tập trung vào 4 mục tiêu: chất lượng và hiệu quả cao; phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế ít các bon; khuyến khích mạnh mẽ chuyển giao công nghệ thích hợp với từng lĩnh vực; phát triển nguồn nhân lực, lao động có kỹ năng cao.

Trên cơ sở định hướng này, trong thời gian tới, Chính phủ tăng cường khuyến khích ĐTNN phát triển theo quy hoạch; ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai, tạo điều kiện và tăng cường liên kết với các doanh nghiệp trong nước; tập trung thu hút vào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức cao, công nghệ thông tin; dịch vụ khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, phát triển kết cấu hạ tầng; thu hút có chọn lọc công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp năng lượng, luyện kim, hóa chất; ưu tiên phát triển các dự án có sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, các sản phẩm có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Mặt khác, Việt Nam sẽ dần hạn chế các dự án đầu tư vào khu vực phi sản xuất, làm gia tăng tình trạng nhập siêu, tiêu tốn năng lượng, khai thác không gắn với chế biến. Không cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án sử dụng lãng phí năng lượng, tài nguyên, sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.

(T.Hương)

25/1026/1027/10

23°C

23°C - 27°C

23°C - 29°C

Thay đổi: 1,04 Tổng số GD: 20.900
Tổng KLGD: 75.998.425 Tổng GTGD: 944,00 tỷ
Thay đổi: -1,57 Tổng số GD: 57.520
Tổng KLGD: 161.905.991 Tổng GTGD: 3.095,06 tỷ

Liên kết Website Đăng ký tin thư