Cụ thể, giá bán than cám 4b chưa bao gồm VAT cho sản xuất điện của EVN giao tại các kho, bến, cảng của TKV là 648.000 đồng/tấn, tăng 47% so với năm 2009, than cám 5 là 520.000 đồng/tấn, tăng 28%.
Các loại than trước đây chưa có nhu cầu sử dụng là than cám 6a nay có giá là 450.000 đồng/tấn và than cám 6b là 395.000 đồng/tấn.
Mức tăng giá này đã có sự thống nhất với EVN, thực hiện theo văn bản của Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) về giá bán than cho điện và thông tư của Bộ Công Thương về giá bán điện năm 2010.
Chuyện đặng chẳng đừng khi giá thành tăng
Phát biểu tại buổi họp báo chiều 3/3 tại Hà Nội, Phó Tổng Giám đốc TKV Nguyễn Văn Hải cho biết, giá thành than năm 2008 đã được kiểm toán là 696.213 đồng/tấn; năm 2009, giá thành dự kiến 722.456 đồng/tấn, tăng 3,7% so với năm 2008; năm 2010, giá thành kế hoạch là 803.300 đồng/tấn. Giá thành năm 2010 tăng do khai thác ngày càng xuống sâu và xa hơn, giá cả đầu vào từ cuối năm 2009 đã có nhiều biến động làm tăng giá thành.
Hai yếu tố chính ảnh hưởng tới giá thành than năm 2010 gồm các chỉ tiêu công nghệ và các chi phí đầu vào đều tăng so với năm ngoái.
Về chỉ tiêu công nghệ, hệ số đất kế hoạch năn 2010 là 8,5m3/tấn so với dự kiến năm 2009 là 8,13m3/tấn thì làm tăng giá thành 11.171 đồng/tấn, cung độ vận chuyển đất 2,85km so với năm 2009 – 2,69km thì làm tăng 8.359 đồng/tấn.
Về các chi phí đầu vào: giá thép chống lò tăng từ 11.500 đồng/kg lên 12.500 đồng/kg làm tăng 1.163 đồng/tấn; săm lốp ô tô tăng 10% làm giá thành tăng 4.457 đồng/tấn, nhiên liệu tăng từ 12.600 đồng/lít (bình quân năm 2009) 14.600 đồng/lít (theo giá từ cuối năm 2009) làm tăng 17.663 đồng/tấn; thuế tài nguyên tăng 10.465 đồng/tấn; chi phí thăm dò khảo sát tăng 2.326 đồng/tấn; dự kiến lãi vay bình quân tăng từ 10,5%/năm lên 11%/năm làm tăng 3.987 đồng/tấn; thuế giá trị gia tăng than xuất khẩu không được khấu trừ làm tăng 11.628 đồng/tấn (riêng phần nộp ngân sách trong giá thành gồm thuế tài nguyên và thuế giá trị gia tăng không được khấu trừ năm 2010 tăng so với năm 2008 khoảng 2.500 tỷ đồng)….
Để giảm giá thành, thời gian qua, TKV đã áp dụng nhiều giải pháp đổi mới công nghệ, khoán quản chi phí, tăng năng suất lao động (năng suất lao động năm 2009 tăng gấp 3,15 lần so với năm 1999). Và trong kế hoạch 2010, TKV sẽ khoán cho các đơn vị tiếp tục áp dụng các biện pháp như tiết kiệm điện năng, tiết kiệm nhiên liệu, chi phí quản lý… để giá thành giảm trên 12.000 đồng/tấn.
Tuy nhiên, những nỗ lực đó vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu. Và chuyện tăng giá bán than cho ngành điện đã trở thành chuyện đặng chẳng đừng của TKV.
Giá bán vẫn thấp hơn giá thành
Ông Hải cũng lưu ý rằng, mặc dù giá than tăng như vậy nhưng hiện nay, giá bán than cho sản xuất điện mới chỉ bằng 50 - 60% so với giá thành năm 2009 và bằng 70% so với giá thành năm 2010.
|
Tháng 3/2010, TKV sẽ đấu giá than xuất khẩu nhằm tăng giá than. Đây là một giải pháp cơ bản để bù đắp chi phí đầu tư.
|
Giá bán than cho các nhà máy điện của EVN hiện tương đương với giá bán than cho các nhà máy điện của TKV (đã được điều chỉnh trong năm 2009).
“Để đảm bảo hạch toán kinh doanh, không nên duy trì tiếp cơ chế bán than dưới giá thành, và tiến tới cần thực hiện theo giá thị trường, Nhà nước điều tiết qua các công cụ thuế và các khoản nộp ngân sách”, ông Hải nhấn mạnh.
Dự kiến năm 2010, với sản lượng than bán cho các nhà máy điện của EVN là 8,65 triệu tấn, tổng giá trị than bán cho điện thấp hơn giá thành năm 2010 là 3.100 tỷ đồng.
Cần thêm chi phí để tái đầu tư
Cũng theo ông Hải, cho biết TKV tăng giá than cho sản xuất điện theo cơ chế thị trường lần này nhằm tạo điều kiện cho TKV ổn định sản xuất, cân đối tài chính và có vốn đầu tư phát triển, đáp ứng nhu cầu tăng đột biến của ngành điện và các ngành khác trong nước vào các năm 2013 - 2015.
“TKV đang đầu tư song song 5 mỏ mới với sản lượng từ 1,5 - 2 triệu tấn cần vốn đầu tư từ 2.000 - 2.500 tỷ đồng/mỏ. Với giá than như hiện nay, TKV khó có điều kiện để đầu tư các mỏ mới. Đợt tăng giá than lần này, TKV cũng có cơ hội tăng lương cho công nhân mỏ”, ông Hải nói.
Mặt khác, theo quy hoạch điện VI và theo các dự án mà TKV đã cam kết cung cấp than thì nhu cầu than cho điện từ năm 2013 tăng rất cao. Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển hàng năm giai đoạn 2010 – 2015 cho sản xuất than khoảng 10.000 – 15.000 tỷ đồng/năm, TKV cần vốn đối ứng khoảng 3.000 tỷ đồng/năm (tương đương phải có lợi nhuận trước thuế sản xuất than khoảng 5.000 – 6.000 tỷ đồng vì TKV không có nguồn khác như ODA, vay ưu đãi…).
Với giá bán than cho điện đã tăng như hiện nay cũng chỉ bằng dưới 50% giá nhập khẩu loại than có chất lượng tương đương (than cám cho điện TKV đề nghị 960.000 đồng/tấn, trong khi nếu nhập khẩu về tới Việt Nam thì cũng phải tối thiểu 110 USD/tấn). Vì vậy, việc sớm thị trường hoá than cho điện để có nguồn đầu tư phát triển các dự án than trong nước phục vụ cho sản xuất điện vẫn là giải pháp tối ưu nhất. Điều này có ý nghĩa chiến lược quan trọng góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
“Nếu sớm thị trường hoá giá than cho sản xuất điện thì sản lượng than sản xuất và xuất khẩu sẽ giảm được một phần do không phải bù than cho điện, TKV sẽ tăng cường lực lượng cho xây dựng mỏ mới góp phần làm chậm quá trình nhập khẩu than”, ông Hải kiến nghị.
 |
|
"TKV mong Chính phủ sớm cho thị trường hoá giá than cho sản xuất điện", ông Nguyễn Văn Hải chia sẻ với báo giới. Ảnh: B.M.
|
Năm 2010 chỉ điều chỉnh tăng 1 lần
Lộ trình điều chỉnh giá than cho điện theo cơ chế thị trường năm 2010 mà TKV đề nghị với Thủ tướng Chính phủ gồm 2 bước: Trong quý 1/2010 điều chỉnh giá bán than cho điện ít nhất đảm bảo bù đắp được chi phí sản xuất than theo nguyên tắc bằng giá thành đã được kiểm toán năm 2008 cộng với phần tăng trong năm 2010 được các Bộ liên quan thẩm định (tổng chi phí tăng giá than chỉ ảnh hưởng tới khoảng 4,38% giá bán điện); Từ quý 4/2010, điều chỉnh giá bán than cho điện theo cơ chế giá thị trường bằng giá bán cho các hộ ở thị trường trong nước.
Tuy nhiên, chia sẻ với phóng viên Tài chính điện tử tại buổi họp báo chiều qua, ông Hải cho biết: Nếu không có gì thay đổi biến động thì lần tăng giá lần này sẽ là lần duy nhất trong năm 2010.
(Bình Minh)