Xu hướng tiếp tục gia tăng lượng vốn ODA cam kết mới

Cập nhật lúc : 4:36 PM, 15/11/2013
Ảnh minh họa.
(eFinance Online) - Tại Hội nghị kiểm điểm chung tình hình thực hiện dự án ODA lần thứ 8 (JPPR 8) tổ chức hôm nay, ngày 15/11, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiến hành đánh giá khái quát tình hình thực hiện các dự án ODA của 6 ngân hàng (NH) đã cam kết cho Việt Nam vay.

Khắc phục tình trạng giải ngân chậm

Trong 2 thập kỷ vừa qua, 6 ngân hàng là ADB, AFD, JICA, Korea Eximbank, KFW và WB đã cam kết cho Việt Nam vay hơn 50 tỷ USD, bao gồm cả vay theo dự án (86%) và chương trình (14%).  Đến năm 2012, mức cam kết cho vay theo dự án và chương trình của 6 NH tiếp tục duy trì ở mức cao. Mức cam kết kỷ lục là 7,2 tỷ USD vào năm 2011. Trong suốt 7 năm, tổng số vốn cam kết đạt gần 31 tỷ USD với lượng vốn chưa giải ngân là khoảng 20 tỷ USD.Từ cuối 2010 đến 2012, lượng cam kết vốn vay kém ưu đãi hơn (LCL) đã tăng trưởng 72%, từ 4,2 tỉ USD lên mức hơn 7,3 tỉ USD, chủ yếu thông qua khoản vay OCR của ADB và IBRD của WB. AFD cung cấp khoản vay kém ưu đãi hơn trong năm 2010 và 2011 trong khuôn khổ của chương trình Sáng kiến cải cách đầu tư công. Trong năm 2011, WB và ADB đã tăng mạnh loại vốn vay này với hơn 1 tỉ USD cam kết từ mỗi NH.

Cùng với lượng vốn cam kết lớn, số vốn giải ngân của 6 NH trong năm 2012 cũng tăng nhanh, đặc biệt là đối với vốn vay cho các dự án. Tỉ lệ giải ngân trong năm 2012 tăng 40% so với năm 2011, đạt mức 3,6 tỷ USD giải ngân cho các dự án, đưa tổng mức vốn giải ngân trong 7 năm qua lên mức 14 tỷ USD. Nếu tính cả phần vốn giải ngân cho vay theo các chương trình, tổng vốn giải ngân từ năm 2006 đến 2012 đạt mức 19 tỷ USD.

Với xu hướng tiếp tục gia tăng lượng vốn cam kết mới, phần vốn chưa được giải ngân cũng tăng lên là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, với tình hình thực hiện khả quan trong năm 2012, lượng vốn chưa được giải ngân của các dự án đang hoạt động chỉ tăng 0,6%, từ mức 19,9 tỷ USD năm 2011 lên mức 20 tỷ USD trong năm 2012. Sự phân bổ vốn vào các lĩnh vực ưu tiên trong danh mục đầu tư của 6 NH cũng không có thay đổi. Giao thông/viễn thông và kho vận vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 41%, tiếp theo sau là cơ sở hạ tầng xã hội và năng lượng lần lượt đứng thứ 2 và 3 với 22% cho mỗi lĩnh vực. Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (ARD) (10%) và Tài Chính/Ngân Hàng/Công nghiệp (3%) chiếm phần còn lại của danh mục.

Trong giai đoạn này, AFD giảm đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng xã hội và tập trung nhiều vào năng lượng; WB triển khai nhiều dự án hơn ở lĩnh vực năng lượng và cơ sở hạ tầng xã hội. ADB tập trung mở rộng cơ sở hạ tầng xã hội, trong khi JICA tiếp tục đầu tư nhiều vào lĩnh vực giao thông; KEXIM vẫn tập trung vào giao thông và cơ sở hạ tầng xã hội. Trong 6 NH, cơ cấu lĩnh vực của KfW có sự thay đổi đáng kể.  Đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng xã hội tăng một cách tuyệt đối xét trên phương diện vốn đầu tư nhưng giảm trong tương quan tương đối với các lĩnh vực khác. Lĩnh vực Nông nghiệp phát triển nông thôn và năng lượng gần như không thay đổi xét trên khía cạnh tổng vốn đầu tư cho ngành nhưng tỉ lệ phân bổ vốn cho 2 lĩnh vực này giảm trong tương quan với các lĩnh vực khác. Các lĩnh vực Ngân hành/Tài chính/Công nghiệp không còn trong danh mục đầu tư.   

Nhìn vào  Báo cáo hoàn thành dự án (PCR) và Báo cáo đánh giá thực hiện dự án (PPAR) của 6 NH, kết quả khả quan khi việc giảm tỉ lệ dự án không thành công trên tổng số các dự án được 6 NH và các nhóm độc lập đánh giá từ năm 2010 đến 2012 cho thấy một sự cải thiện trong việc thực hiện dự án của 6 NH. Cuối năm 2010, theo Báo cáo JPPR 7, có 4 trên tổng số 117 dự án bị đánh giá là không thành công, tương đương với 3,5% tổng dự án. Tuy nhiên, đến cuối năm 2012, 5 trên tổng số 154 dự án bị đánh giá là không thành công. Tỉ lệ này trong 2 năm đã giảm từ 3,5% xuống 3,3%. Mức này được xem là chấp nhận được và được kì vọng sẽ giảm trong 2 năm tiếp theo.

Một cách tổng quan, mặc dù vẫn còn chậm trễ và nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện dự án, Việt Nam tiếp tục sử dụng các nguồn lực ODA ở một mức độ thành công nhất định trên cơ sở xem xét các Báo cáo hoàn thành dự án.

Góp phần vào thành công này, 6 NH đã khắc phục tình trạng giải ngân chậm và tỷ lệ giải ngân không cao. Kết quả thể hiện qua việc trong 2 năm  gần đây (2011-2012), tỷ lệ giải ngân của 6 NH tăng trưởng tốt đạt tốc độ 25%, tương đương mức 2 tỷ USD năm 2010 lên 2,6 tỷ USD năm 2011. Sự quyết tâm của Chính phủ trong “Năm giải ngân” đã góp phần tạo nên thành công này. Cùng với đó, 6 NH thường xuyên bày tỏ sự quan ngại về việc khởi động dự án chậm trễ sau khi được phê duyệt, mà có thể kể đến các nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng chậm trễ này như việc thành lập các ban quản lý dự án mới, thuê tuyển tư vấn để chuẩn bị thiết kế chi tiết, đấu thầu và các vấn đề quản lý, đặc biệt là ở các dự án được giao về địa phương để quản lý, thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề chậm trễ trong khởi động dự án cũng được giải quyết. Theo chỉ số thời gian từ lúc khoản vay được phê duyệt đến lúc khoản vay có hiệu lực trong 7 năm để đánh giá tiến độ khởi động dự án, chỉ số này cho thấy những cải thiện đáng khích lệ mặc dù 6 NH và các đối tác vẫn cần nỗ lực hơn nữa để giảm khoảng thời gian này xuống mức 3 tháng như tiêu chuẩn. Còn việc gia hạn dự án, dù việc kéo dài thời gian thực hiện dự án thường dẫn đến nhiều hệ lụy: các lợi ích từ dự án không được chuyển giao cho đối tượng hưởng lợi kịp thời, chi phí giám sát và quản lý gia tăng, gánh nặng của Chính phủ trong việc chi trả các phí, chi phí cam kết tăng...Song nhiều dự án của 6 NH vẫn yêu cầu được  gia hạn trong thời gian qua bởi các NH đều đồng ý rằng mặc dù trong một số trường hợp, việc gia hạn là cần thiết để đạt được các mục tiêu của dự án. Từ năm 2009, việc hủy khoản vay của 6 NH có xu hướng tăng lên. Trong 7 năm qua, ADB chiếm 55% tổng số khoản vay bị hủy.

Giải phóng mặt bằng vẫn là thách thức

Từ các dự án đang được triển khai và những sáng kiến quản lý danh mục đầu tư mà 6 NH đang tiến hành trong quá trình thiết kế và quản ký danh mục đầu tư có thể thấy, giải phóng mặt bằng và Tái định cư tiếp tục là một thách thức lớn, đặc biệt là đối với các dự án trong lĩnh vực giao thông, chủ yếu là do các công tác chuẩn bị chưa sẵn sàng, thiếu vốn đối ứng và mức bồi thường không hợp lý. Chậm trễ trong công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư gây nên sự đình trệ cho công tác đấu thầu và thực hiện dự án và do đó, dẫn tới vượt chi phí dự án do lạm phát và các chi phí phát sinh khi dự án bị kéo dài.

Đối với Dự án Đường cao tốc Bến Lức - Long Thành (ADB), công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư bị chậm trễ nghiêm trọng do thiếu vốn đối ứng từ năm 2011. Đầu năm 2012, dự án đã bị đình chỉ do thiếu vốn đối ứng. Trong số 337 triệu USD theo yêu cầu, chỉ có 53 triệu USD được cung cấp theo từng lần. Dự án đã trải qua 38% thời gian thực hiện nhưng chưa hề có bất kỳ hoạt động trao thầu và giải ngân nào được triển khai. Nếu phần vốn đối ứng còn lại cho năm 2013 chưa được bố trí, một lần nữa dự án có thể bị đình chỉ và sẽ thuộc diện xem xét hủy bỏ dự án.

Dự án Xây dựng cầu Nhật Tân (JICA) cũng đang đối mặt với sự chậm trễ do trì hoãn trong công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư. Phạm vi của giải phóng mặt bằng rất lớn, trong đó gồm 2 quận/huyện Tây Hồ và Đông Anh và bao gồm một khu vực dân cư lớn nhưng lại thiếu sự chuẩn bị chu đáo, chậm triển khai các thủ tục, đặc biệt là trong công tác kiểm kê và phê duyệt kế hoạch đền bù đất của các UBND quận/huyện. Đã có rất nhiều khiếu nại từ các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án do giá đền bù quá thấp. Kết quả là, công tác đấu thầu cho một gói thầu xây lắp (Gói thầu số 2) đã bị chậm trễ nghiêm trọng suốt hơn 2 năm do phải đấu thầu lại (sau hai lần tiến hành đấu thầu nhưng không có nhà thầu nào tham gia do không chắc chắn về việc sở hữu hiện trường dự án và hợp đồng), và hai hợp đồng xây lắp khác (Gói thầu số 1 và số 3) phải gia hạn tới 27 tháng.

Tuy nhiên, đối với một số dự án, công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư không phải là vấn đề khó khăn. Khi triển khai dự án Xây dựng đường vành đai 3 - Hà Nội (JICA), phần đất đã giải tỏa cho dự án được bàn giao cho nhà thầu ngay sau khi ký hợp đồng. Đường vành đai 3 bao gồm các đoạn đường trên cao và đường trên mặt đất, giai đoạn đầu dự án chỉ có đoạn đường trên mặt đất được thực hiện bằng ngân sách nhà nước và hoàn thiện vào năm 2009. JICA đã tài trợ cho đoạn trên cao và trong quá trình thực hiện giai đoạn đầu dự án, giai đoạn hai bắt đầu được chuẩn bị và phần đất dự án phù hợp đã được đảm bảo. Đây cũng là một yếu tố thu hút sự quan tâm mạnh mẽ và do đó, thúc đẩy tính cạnh tranh từ các nhà thầu tiềm năng. Vài tháng sau khi hoàn thành đoạn đường trên mặt đất, hợp đồng đầu tiên cho phần đường trên cao đã được ký kết.

Thành công từ một số dự án của Kexim và JICA là do hiện trường dự án đã được bàn giao đúng thời hạn. Một số bài học thành công từ các dự án khác cũng cho thấy nguồn vốn cho công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư cần phải linh hoạt. Đối với các dự án lớn với chi phí giải phóng mặt bằng và tái định cư lớn, chi phí này cần được tài trợ bởi các nhà tài trợ. Các dự án có chi phí cho công tác này nhỏ có thể lấy từ nguồn vốn đối ứng

Theo đề xuất, trong trung hạn, cần phải hoàn thiện khung thể chế với các hướng dẫn và các thông tư (Nghị định 38 và các thông tư, các luật và quy định quan trọng khác như Luật Đất đai, Luật Đấu thầu sửa đổi và Luật Đầu tư công). 6 NH sẵn sàng hỗ trợ trong tăng cường năng lực, phổ biến thông tin, đào tạo và chia sẻ về các thông lệ quốc tế để thúc đẩy việc sử dụng các kết quả đầu ra trong việc thực hiện các dự án ODA. 6 NH mong muốn tập trung vào chất lượng dự án và các cách làm hiệu quả như sử dụng của BQLDA chuyên nghiệp hiện có, các hành động trước, hướng dẫn chung và thống nhất về tài liệu dự án (báo cáo khả thi) và đơn giản hóa các quy trình gia hạn/hủy bỏ/tái cơ cấu dự án. Đối với tình hình đang có nhiều thay đổi ở Việt Nam, 6 NH đã chỉ ra các lĩnh vực mới cần được phát triển nhằm thu hẹp khoảng cách, chẳng hạn như quản lý hợp đồng, kiểm toán, quản trị nhà nước, cho vay ít ưu đãi hơn và tài chính sáng tạo.

(T.Hương)

25/726/727/7

28°C

25°C - 32°C

23°C - 30°C

Thay đổi: 0,07 Tổng số GD: 13.288
Tổng KLGD: 44.481.899 Tổng GTGD: 618,69 tỷ
Thay đổi: 4,56 Tổng số GD: 34.574
Tổng KLGD: 87.860.250 Tổng GTGD: 1.489,97 tỷ
Ký kết hợp đồng kỹ thuật hỗ trợ các dự án PPP giữa Việt Nam...
(eFinance Online) - Chiều ngày 22/7/2014, tại Hà Nội, bà Fleur Pellerin, Quốc vụ khanh phụ trách Ngoại thương, Xúc tiến Du lịch và người Pháp...

Liên kết Website Đăng ký tin thư