Nửa đầu tháng 5: Một số mặt hàng thiết yếu giá có xu hướng tăng

(eFinance Online) - Trong 15 ngày đầu tháng 5/2016 so với cùng kỳ tháng 4/2016, giá các mặt hàng thiết yếu trên thị trường thế giới chủ yếu có xu hướng tăng như: giá chào bán gạo xuất khẩu tại Thái Lan và Việt Nam, giá LPG, giá xăng dầu, giá đường và giá thép; riêng giá phân bón Ure ổn định. Cụ thể như sau: 
Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Báo cáo của Cục Quản lý Giá - Bộ Tài chính cho biết, tại Thái Lan, loại gạo 5% tấm giá ở mức 398-400 USD/tấn, tăng 20-38 USD/tấn; loại 25% tấm giá ở mức khoảng 388 USD/tấn, tăng khoảng 23-38 USD/tấn.

Giá chào bán gạo của Việt Nam, loại 5% tấm dao động ở mức 370-380 USD/tấn, tăng khoảng 5 USD/tấn; loại 25% tấm dao động ở mức 355-365 USD/tấn, tăng khoảng 5 USD/tấn.

Giá phân bón Ure (giá FOB) tại một số thị trường chính như Yuzhny, Baltic, Trung Đông, Trung Quốc ổn định.

Giá đường thô tại New York giao tháng 7/2016 khoảng 15,35-16,77 Uscent/Lb, tăng khoảng 0,88-1,06 Uscent/Lb; giá đường trắng tại Luân Đôn giao tháng 8/2016 khoảng 440,2-479,8 USD/tấn, tăng khoảng 19,4-23,5 USD/tấn.

Giá chào phôi thép dao động ở mức khoảng 430-460 USD/tấn CFR Đông Nam Á, tăng khoảng 20-30 USD/tấn so với tháng trước. Giá LPG do Công ty Aramco của Ả Rập công bố bình quân tháng 5/2016 là 352,5 USD/tấn, tăng 17,5 USD/tấn. Giá xăng dầu bình quân 15 ngày đầu tháng 5/2016 tăng từ 6,59% đến 20,2% tùy từng chủng loại so với cùng kỳ tháng 4/2016.

Tại thị trường trong nước, trong 15 ngày đầu tháng 5/2016, một số mặt hàng thiết yếu giá có xu hướng tăng như: thép, LPG, thóc gạo tại miền Nam; các mặt hàng có giá ổn định: thóc gạo tại miền Bắc, đường, xi măng; riêng giá phân bón giảm. Cụ thể như sau:

Tại miền Bắc, giá thóc tẻ thường dao động  phổ biến ở mức 6.500-7.500 đồng/kg, giá một số loại thóc chất lượng cao hơn phổ biến ở mức 8.000-9.500 đồng/kg; giá gạo tẻ thường dao động phổ biến ở mức 8.500-14.000 đồng/kg. Tại miền Nam, giá gạo thành phẩm xuất khẩu loại 5% tấm dao động từ 7.750-8.025 đồng/kg, tăng 25-50 đồng/kg và gạo 25% tấm khoảng 7.500-7.775 đồng/kg, tăng khoảng 325-600 đồng/kg.

Giá thực phẩm tươi sống tăng, giảm tùy từng mặt hàng: Thịt lợn hơi tăng khoảng 1.000 đồng/kg: Tại miền Bắc, giá phổ biến khoảng 46.000-51.000 đồng/kg; tại miền Nam, giá phổ biến khoảng 43.000 - 48.000 đồng/kg. Thịt gà ta làm sẵn có kiểm dịch, giá phổ biến ở mức 100.000 - 110.000 đồng/kg, giảm 5.000-10.000 đồng/kg; thịt gà công nghiệp làm sẵn ở mức 50.000 - 60.000 đồng/kg, ổn định.

Giá hầu hết các loại rau, củ, quả ổn định so với tháng trước. Bắp cải phổ biến 13.000 - 15.000 đồng/kg; khoai tây phổ biến 17.000 - 18.000 đồng/kg; cà chua phổ biến 15.000 - 20.000 đồng/kg. Giá phân bón Ure tại miền Bắc, mức giá phổ biến khoảng 7.500-8.000 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg; tại miền Nam, mức giá phổ biến khoảng 7.500-7.700 đồng/kg, giảm 500 đồng/kg. Giá đường bán lẻ trên thị trường dao động ở mức 17.000-19.000 đồng/kg.

Giá xi măng tại các nhà máy cơ bản ổn định.

Giá thép tại một số nhà máy tăng khoảng 500-1.000 đồng/kg tùy từng loại. Giá LPG tăng khoảng 451-455 đồng/kg, tương ứng với mức điều chỉnh tăng khoảng 5.000-5.500 đồng/bình 12kg. Giá xăng dầu trong nước được các doanh nghiệp điều chỉnh tăng phù hợp với quy định tại công văn số 3835/BCT-TTTN ngày 05/5/2016 của Bộ Công Thương. 

Giá bán vàng 99,99% tại các công ty kinh doanh vàng bạc Nhà nước tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đầu tháng dao động lần lượt ở mức 3,395-3,392 triệu đồng/chỉ, đến giữa tháng, giá vàng tăng nhẹ và dao động phổ biến ở mức 3,405-3,402 triệu đồng/chỉ. Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá Đôla Mỹ đầu tháng được niêm yết ở mức mua vào/ bán ra là: 22.250-22.320 đồng/USD, đến giữa tháng tỷ giá có xu hướng tăng, thời điểm giữa tháng được niêm yết ở mức 22.270-22.340 đồng/USD, với cùng mức giảm ở hai chiều mua vào/bán ra là 20 đồng/USD.

(T.H)