Buồn vui vụ điều tra chống bán phá giá đầu tiên của VN

Sau hơn 1 năm theo đuổi vụ việc, Bộ Công Thương đã ra quyết định cuối cùng về việc áp thuế chống bán phá giá mặt hàng thép không gỉ cán nguội nhập khẩu đến từ Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Đài Loan. Đây là thành công đầu tiên của cơ quan điều tra chống bán phá gía Việt Nam, nhưng vụ việc cũng để lại nhiều điều còn tiếc nuối. Phóng viên Tài chính điện tử đã có cuộc trao đổi với ông Lê Sỹ Giảng, chuyên gia về điều tra chống bán phá giá, Bộ Công Thương để có cái nhìn rõ hơn về vụ việc.

Ông Lê Sỹ Giảng, chuyên gia về điều tra chống bán phá giá.Ông Lê Sỹ Giảng, chuyên gia về điều tra chống bán phá giá.

Ông đánh giá như thế nào về kết quả của cơ quan điều tra, cũng như quyết định áp thuế chống bán phá giá của Bộ Công Thương với một số doanh nghiệp đến từ 4 quốc gia này?

Như chúng ta đã biết, thời gian điều tra kéo dài hơn 12 tháng. Các cơ quan điều tra đã mất khá nhiều thời gian từ giai đoạn chuẩn bị tới giai đoạn đi vào điều tra chính thức. Quyết định của Bộ Công Thương ra đời, đánh dấu thành công đầu tiên của Việt Nam trong việc điều tra chống bán phá giá. Nó sẽ tạo ra cú hích rất lớn cho doanh nghiệp Việt Nam, từ chỗ chúng ta còn bỡ ngỡ không biết chống bán phá giá là công cụ gì và chúng ta thường xuyên bị các nước khác kiện chứ chưa đi kiện ai bao giờ, cơ quan nhà nước đi cùng doanh nghiệp cũng bỡ ngỡ thì nay họ đã sử dụng công cụ hiện đại đó rất thành thạo.

Cách đây gần 10 năm, khi Cục Quản lý cạnh tranh của Bộ Công Thương nhận được hồ sơ kiện của nước ngoài dài tới 100 trang bằng tiếng Anh, họ thực sự bị “ngợp”. Vậy mà bây giờ chính họ trong vai trò người đi kiện cũng soạn được hồ sơ dài tới 100 trang, chất lượng tương đương với hồ sơ của các nước ở Châu Âu, Mỹ. Vì vậy, có thể coi đây là sự trưởng thành rất lớn, một thành công của Việt Nam trong 10 năm qua kể từ khi Pháp lệnh chống bán phá giá của Việt Nam ra đời từ năm 2014. Cho dù tôi biết rằng, xung quanh mức thuế áp dụng đối với các doanh nghiệp nhập khẩu đến từ 4 nước này vẫn còn nhiều tranh cãi thuế cao hay thấp.

Quyết định áp thuế của Bộ Công Thương kéo dài 5 năm sẽ dựng lên hàng rào bảo hộ cho doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp cần có một bài toán trung hạn trong 5 năm này để có thể tận dụng tốt nhất cơ hội cũng như các bước chuẩn bị chiến lược tốt nhất cho giai đoạn sau đó.

Đây là lần đầu tiên doanh nghiệp Việt Nam đi kiện, vậy đâu sẽ là khó khăn cho cơ quan điều tra, thưa ông?

Theo tôi, khó khăn đầu tiên là hàng hóa điều tra thuộc mặt hàng khá phức tạp. Ngành thép vốn có hàng trăm mẫu mã chủng loại, thép không rỉ cũng có nhiều mặt hàng, để bóc tách được sản phẩm điều tra đòi hỏi cơ quan điều tra phải đi từng mã hàng và tiêu chí phân loại, từng giao dịch của mã đó. Cách phân chia từng mã sản phẩm để ra biên độ cuối của từng mã một, phân loại đã khó, ở đây chúng ta lại kiện không chỉ 1 nước mà kiện đồng thời 4 nước 1 lúc nên khối lượng công việc càng nặng nề.

Hơn nữa, sản phẩm này có khối lượng nhập khẩu và lượng sản xuất trong thị trường nội địa lại rất lớn nên đã tạo ra áp lực không nhỏ cho cơ quan điều tra. Bởi vì quyết định đưa ra sẽ ảnh hưởng đến giá trị mặt hàng rất lớn.

Pháp lệnh của Việt Nam về chống bán phá giá ra đời cách đây đã 10 năm và chưa có DN Việt Nam nào đi kiện cho tới vụ việc này. Vậy theo ông những quy định đã quá lâu chưa được cập nhật liệu có là trở ngại?

Tôi cho là pháp lệnh có sự chưa hoàn hảo nhưng phần cơ bản nhất 90 % là đầy đủ rồi, những nguyên tắc chung đều bám sát nguyên tắc của WTO. Với những quy định hiện tại chúng ta vẫn có thể làm tốt, điều cần chỉnh sửa theo tôi chỉ là những cái tương đối nhỏ mà khi xây dựng chưa lường trước được hết mà thôi, chẳng hạn như quy định về tư cách nguyên đơn đối với doanh nghiệp Việt Nam cần được làm rõ hơn để doanh nghiệp trong nước có thể tự xác định được mình có đủ tư cách nguyên đơn hay không, hay vấn đề về tỷ giá quy đổi cũng cần quy định rõ hơn… Với các quy định hiện tại của pháp lệnh năm 2004, cơ quan điều tra phải tuân thủ nguyên tắc chung của WTO, tuyệt đối không được làm trái, trong chừng mực có thể nên sử dụng kinh nghiệm tốt nhất của nước ngoài để áp dụng vào thì cơ hội thành công trong các vụ kiện quốc tế sẽ cao.

Là người theo sát vụ việc ngay từ đầu, điều gì khiến ông còn tiếc nuối khi kết thúc vụ kiện với phần thắng thuộc về cơ quan điều tra của Việt Nam?

Một điều đáng buồn là sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong tư cách nguyên đơn là người bị ảnh hưởng lại khá mờ nhạt. Đây là vụ việc mất hàng năm trời với khối lượng công việc lớn mà phản biện của doanh nghiệp Việt Nam lại cực kỳ sơ sài. Dù họ là một phần trong vụ việc, là người vác đơn đi kiện nhưng họ lại không đưa ra được nhiều chứng cứ, không có nhiều tài liệu để phục vụ cơ quan điều tra. Vì vậy, cơ quan điều tra trực tiếp là Cục Quản lý cạnh tranh không có căn cứ để phân tích thấu đáo ngay từ đầu, dẫn đến những khó khăn trong việc đánh giá thiệt hại kinh tế trong nước do việc bán phá giá gây ra, cũng như khó khăn trong xác định doanh nghiệp nào bị thiệt hại, doanh nghiệp nào được hưởng lợi.

Bên cạnh đó, đội ngũ luật sư của chúng ta tuy đã từng bước đi cùng doanh nghiệp nhưng trong vụ kiện đầu tiên này vẫn chưa hỗ trợ doanh nghiệp thật sát sao từ khâu chuẩn bị hồ sơ vụ việc cụ thể.

Đối với vụ việc này, khi chúng ta áp thuế chống bán phá giá thì điều cân nhắc nhất là để bảo vệ sản xuất trong nước, nhưng phải ở mức độ làm sao vẫn giúp cho doanh nghiệp Việt Nam có thể trưởng thành được. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ làm được vài công đoạn trong chuỗi giá trị mà sản xuất đem lại nên khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá, cơ quan điều tra cần phải tính toán dựng hàng rào ở mức nào để thúc đẩy chính nền sản xuất trong nước. Vậy mà các doanh nghiệp chúng ta khi đi kiện lại không thể nói rõ được vấn đề đó với cơ quan điều tra.

Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ rút ra được bài học kinh nghiệm gì nếu muốn "vác" đơn đi kiện?

Mặc dù còn nhiều trăn trở nhưng tôi đánh giá đây là vụ kiện thành công mang tính khích lệ doanh nghiệp trong nước, điều quan trọng là các doanh nghiệp sẽ ứng xử như thế nào trong các vụ việc tiếp theo nếu có. Tôi cho rằng điểm đầu tiên là doanh nghiệp cần phải tham vấn chặt chẽ với cơ quan điều tra. Doanh nghiệp chúng ta thường có suy nghĩ ngại va chạm với cơ quan công quyền, nhưng cơ quan điều tra theo phòng vệ thương mại không phải là cơ quan công quyền thuần túy như cơ quan khác mà họ điều tra rất kỹ lưỡng, khối lượng dữ liệu, thông tin hồ sơ đồ sộ. Họ sẵn sàng trao đổi dữ liệu với các doanh nghiệp liên quan, thậm chí tranh cãi từng số liệu chi tiết một. Vậy điều lạ là tại sao doanh nghiệp lại không ngồi với cơ quan điều tra để tranh thủ những chia sẻ của họ? Theo tôi biết thì doanh nghiệp Việt Nam thường không thích chia sẻ nhiều.

Một điểm nữa là doanh nghiệp khi đi kiện cần phải có luật sư để hỗ trợ, vì nếu chưa từng va chạm về vấn đề này thì chắc chắn sẽ không thể thắng kiện, nên doanh nghiệp cần tư vấn của các luật sư để có các bước chuẩn bị cho mình. Từ lúc lên "lưng ngựa" rồi họ phải chuẩn bị cho đến cùng, phải lường trước khó khăn khi đi đường dài, và nhớ chuẩn bị kỹ lưỡng hồ sơ của mình trong quá trình thẩm tra.

Các doanh nghiệp đi kiện cũng nên nhìn trong 1 bối cảnh chung của toàn ngành, có như vậy mới có được ủng hộ tốt hơn của các doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực của mình. Ngoài ra, doanh nghiệp bị thiệt hại cần lưu ý sau 1 năm có quyền rà soát nếu tình hình thay đổi thì phải sử dụng quyền đó để đề nghị cơ quan điều tra xem xét.

Công cụ phòng vệ thương mại là công cụ hiện đại không giống như công cụ hành chính đơn thuần. Khi chúng ta càng hội nhập sâu rộng với quốc tế thì hàng rào thuế quan càng bãi bỏ, cơ hội sử dụng công cụ hành chính không còn nhiều thì đây chính là công vụ phòng vệ hữu hiệu và hợp pháp. Từ sau vụ việc này, tôi cho rằng doanh nghiệp trong nước cần sẵn sàng cho những cuộc chơi cao hơn, chẳng hạn như chống trợ cấp, các cơ quan điều tra cũng phải nghĩ đến hướng đó để bảo vệ sản xuất trong nước mình.

Xin cám ơn ông!

(Thanh Huyền)