Chỉ 1% trong số các lô hàng nhập khẩu được kiểm tra không đạt chuẩn?

Thực tế, qua quá trình kiểm tra hàng xuất nhập khẩu mới chỉ phát hiện ra khoảng dưới 1% trong số các lô hàng hàng không đạt chuẩn.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Cơ quan quản lý XNK phải là Bộ chuyên ngành?

Tại hội thảo “Thực hiện Nghị quyết 19 của Chính phủ: đơn giản hóa thủ tục quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK)” do Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) phối hợp tổ chức, bà Đặng Thị Bình An, Chuyên gia tư vấn Dự án USAID GIC (Nguyên Tổng cục phó Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thuế) cho biết: Theo đánh giá của cơ quan hải quan thì có tới trên 60% hàng nhập khẩu phải chịu quản lý chuyên ngành và kiểm tra chất lượng hoặc kiểm dịch…, nhiều nhất là thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT). Đây là hiện tượng rất không bình thường trong quản lý XNK, bởi nếu tỷ lệ này là thực tế thì cơ quan quản lý XNK chủ yếu không phải Bộ Công thương, mà là các Bộ quản lý chuyên ngành.

Trong khi đó, danh mục quản lý hàng hóa cần quản lý chuyên ngành quy định quá nhiều, không xác định được mặt hàng thuộc đối tượng kiểm tra, mặt khác, cơ quan kiểm định cũng không biết nên áp dụng theo quy chuẩn nào đối với từng loại hàng hóa. Các thủ tục quy định hợp quy còn phức tạp gây tốn kém thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Có quá nhiều sự trùng lắp về yêu cầu quản lý, ví dụ sữa, hay chè phải kiểm tra chuyên ngành liên quan đến Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT, Bộ Y tế…

Về cấp giấy chứng nhận CO nhiều DN cho rằng thủ tục cấp CO còn nhiều giấy tờ, có doanh nghiệp cho biết để lo khâu này, luôn phải tốn nhân lực chuyên làm khâu sao y bản chính tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu, đóng dấu từng trang. Thực tế, hồ sơ chuyên ngành, phổ biến là từ 6 đến 9 loại giấy tờ và  thời gian thực hiện kiểm tra, quản lý là từ 7 đến 15 ngày, có nhiều trường hợp đến 30 ngày, thậm chí 60 ngày (đăng kiểm mẫu xe ô tô mới và nâng cấp mẫu xe cũ). Cùng với đó, chi phí thực tế của DN khi làm thủ tục XNK một lô hàng (kể cả chi phí thực hiện kiểm tra chuyên ngành) cao hơn nhiều so với mức  600 - 610 USD. 

Đáng chú ý là tuy tốn kém nhiều thời gian chi phí của DN nhưng thực tế chỉ phát hiện ra khoảng dưới 1% trong số các lô hàng hàng kiểm tra không đạt chuẩn, hầu hết các trường hợp không phát hiện được lô hàng nào. 

Không chỉ riêng DN gặp khó

Thừa nhận những vướng mắc của DN, nhưng Phó Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan Ngô Minh Hải cho rằng: Những vướng mắc lô hàng nhập khẩu mà DN gặp phải cũng là vướng mắc Hải quan đang phải đối mặt. Thực tế, đang có vấn đề trong khuôn khổ pháp lý. Có những quy định nêu ra trong các văn bản pháp luật, thực tế một văn bản không phải ai cũng hiểu hết hoặc mỗi nơi hiểu một khác. Điển hình như Thông tư 20 của Bộ Khoa học và Công nghệ có quy định việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng áp dụng từ ngày 1/9, tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, các DN XNK vẫn cho rằng khó chứng minh hàng hóa cái nào phục vụ công nghiệp, nông nghiệp khai khoáng.  

Đại diện một số DN cũng cho rằng, cần rà soát lại danh mục hàng hóa quản lý chuyên ngành nhằm giảm bớt đến mức tối thiểu danh mục hàng hóa. Bên cạnh đó, các Bộ ngành cần ban hành Thông tư hướng dẫn phương pháp quản lý, kiểm tra phù hợp với từng đối tượng DN, giám sát, chỉ định rõ cơ quan kiểm tra, phân loại hàng hóa nào cần kiểm tra ở cửa khẩu.

Có thể nói, việc đơn giản hóa thủ tục quản lý, kiểm tra bằng cách sử dụng thông tin lẫn nhau giữa các Bộ ngành khi thực hiện lấy mẫu, kiểm tra, cấp giấy chứng nhận hợp chuẩn... là một trong những yêu cầu cấp thiết nhằm tăng hiệu quả cũng như giảm thiểu chi phí cho hoạt động XNK.  

(T.Hương)