Doanh nghiệp cần vượt qua tâm lý ỷ lại vào ưu đãi GSP

Mặt hạn chế của quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) là đem lại tâm lý ỷ lại cho doanh nghiệp, không tạo sức ép để tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Chính vì thế, cùng với việc tranh thủ tận dụng chế độ GSP, doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu nhằm nâng cao sức cạnh tranh, tăng năng lực xuất khẩu bền vững.

Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, Chuyên gia chính Dự án EU – MUTRAP Trương Đình Tuyển. Ảnh: TH.Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, Chuyên gia chính Dự án EU – MUTRAP Trương Đình Tuyển. Ảnh: TH.

Đó là nhận định của Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, Chuyên gia chính Dự án EU - MUTRAP Trương Đình Tuyển tại Hội thảo “Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của Liên minh châu Âu (EU) - cơ hội tăng cường xuất khẩu vào thị trường châu Âu”.

Theo ông Trương Đình Tuyển, do chênh lệch thuế xuất khẩu nhờ Hệ thống GSP nên có thể hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tăng khả năng cạnh tranh, GSP cũng có tác động nhất định đối với việc thu hút đầu tư. Hiện nay, bên cạnh Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Canada, Thụy Sĩ, Liên minh thuế quan Nga - Kazactan - Belarut (thuế suất bằng 75% thuế MFN) cũng dành cho Việt Nam ưu đãi GSP. Ngoài ra, Úc và New Zealand cũng dành cho Việt Nam ưu đãi theo nhóm nước chậm phát triển và đang phát triển.

Tuy nhiên, trong không ít trường hợp, GSP thường kèm theo các điều kiện phi kinh tế, nhất là chế độ GSP của Hoa Kỳ. Ở nhiều nước có chế độ GSP, danh mục và mức thuế GSP không cố định mà được điều chỉnh theo định kỳ, làm ảnh hưởng đến khả năng xâm nhập thị trường, từ đó, ảnh hưởng đến sức sản xuất mặt hàng bị điều chỉnh của nước được hưởng GSP.

Để có thể khai thác chế độ GSP, các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm vững các quy định về GSP của từng nước (quy tắc xuất xứ, chế độ trưởng thành, điều kiện về cạnh tranh, quy định về vận chuyển) để tránh những vướng mắc khi xuất khẩu theo chế độ này. Mặt khác, các doanh nghiệp xuất khẩu cần không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm, giảm chi phí, hạ giá thành nhằm tăng cường sức cạnh trạnh của hàng hóa Việt Nam. Đồng thời, mở rộng, đa dạng hóa hơn nữa thị trường xuất khẩu, tránh tập trung xuất khẩu vào một thị trường.

Đặc biệt, các hiệp hội ngành hàng, nhất là những ngành có tỷ trọng xuất khẩu cao - có khả năng bị coi là “trưởng thành” không được hưởng ưu đãi nữa, cần sớm thông tin, tuyên truyền để các doanh nghiệp thành viên nhận thức rõ những khó khăn để đề xuất biện pháp cần thiết đem lại hiệu quả cao nhất cho từng doanh nghiệp và cho cả ngành hàng. Thay vì tập trung xuất khẩu một số ngành hàng trọng điểm vào một số thị trường có thế mạnh, các hiệp hội cần có sự thống nhất để khai thác hết quota mà không đặt Việt Nam vào ngưỡng “trưởng thành”.

Trong điều kiện Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, việc tham gia vào nhiều hiệp định mậu dịch tự do song phương và khu vực, mức thuế nhập khẩu trong các hiệp định này sẽ giảm xuống sau một thời gian thường là 10 năm thì ý nghĩa của GSP cũng sẽ giảm dần và sẽ triệt tiêu. Khi FTA Việt Nam - EU có hiệu lực, trong trường hợp thuế GSP từng sản phẩm cụ thể bằng thuế FTA, tuy không tác động ngay đến những dòng thuế đang được hưởng GSP nhưng Việt Nam sẽ không bị quy chế trưởng thành và điều kiện về giới hạn cạnh tranh (trừ thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp).

Điều đáng nói, mặt hạn chế của GSP cũng làm nảy sinh tâm lý ỷ lại, không tạo sức ép để tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Vô hình chung không tạo ra sự cân bằng động trong xuất khẩu - xuất khẩu có thể tăng nhờ GSP nhưng nhập khẩu cũng tăng do sức cạnh tranh về năng suất lao động, chất lượng và giá thành trong sản xuất vẫn thấp. Yếu tố cạnh tranh do GSP mang lại yếu tố “ngoại sinh” mà không phải là yếu tố nội sinh. Chính vì thế, cùng với việc tranh thủ tận dụng chế độ GSP, doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm nâng cao sức cạnh tranh. Đây là con đường cơ bản nhất để tăng năng lực xuất khẩu bền vững.

(T.Hương)