Doanh nghiệp FDI Nhật Bản: Vẫn câu chuyện chuyển giao công nghệ

Doanh nghiệp Nhật Bản luôn là “người đi tiên phong” trong việc đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến - chế tạo, vốn đang được Chính phủ Việt Nam khuyến khích. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư của Nhật Bản hiện vẫn tập trung chủ yếu vào việc khai thác nguồn lao động rẻ của Việt Nam, phát triển thị trường mới và xuất khẩu sản phẩm sang nước thứ ba… còn tốc độ chuyển giao công nghệ cũng như bí quyết quản lý còn chậm.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Tính đến cuối năm 2012 cả nước có 1.829 dự án đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam với tất cả các ngành nghề của nền kinh tế, trong đó, công nghiệp giữ vị trí hàng đầu với 1.046 dự án chiếm 57,1% số dự án đầu tư. Trong lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo được Nhật Bản chú trọng và khai thác nhiều nhất với 1.033 dự án chiếm 98,7% tổng số dự án vào ngành công nghiệp với tổng số vốn đạt 23,746 tỷ chiếm 83,1% tổng vốn đầu tư vào FDI của Nhật Bản vào Việt Nam. Tính đến cuối năm 2012, Nhật Bản đứng đầu trong các nước đầu tư vào Việt Nam với lượng vốn đạt 29,085 tỷ USD, tiếp đến là Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore.

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu có ảnh hưởng tới thu hút FDI vào Việt Nam, tuy nhiên, với hơn 40 năm quan hệ ngoại giao và quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản sẽ mở ra thời cơ cho bùng nổ FDI Nhật Bản vào Việt Nam, đặc biệt là dòng FDI vào ngành công nghiệp. Thực tế, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng mong muốn đầu tư vào Việt Nam khi các doanh nghiệp này đối mặt với sự bão hòa, suy giảm kinh tế, đồng Yên lên giá, thuế cao… trên thị trường Nhật Bản. Vấn đề là làm sao Việt Nam làm sao để chớp thời cơ này một cách có hiệu quả. Điều này đòi hỏi phải có một chính sách thu hút FDI để tăng năng lực cạnh tranh quốc tế, để chuyển dịch cơ cấu công nghiệp. Việt Nam cần phải giải quyết các vấn đề nêu trên một cách cấp bách và đồng bộ, nếu không, cùng với việc nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang tìm đến Việt Nam sẽ chuyển hướng đầu tư sang các nước khác, hoặc trong trường hợp xấu hơn các nhà đầu tư hiện hữu có thể rời bỏ Việt Nam.

DN Nhật Bản vẫn chưa thể chuyển giao công nghệ?

Hợp tác quốc tế đối với Nhật Bản cần tiếp tục được tăng cường vì Nhật Bản sẽ giúp cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, kỹ năng và công nghệ cho Việt Nam thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp FDI và vốn tài trợ Phát triển chính thức ODA. Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, hiện ở Việt Nam, theo kết quả của cuộc điều tra của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam (EximBank) đưa ra tại Hội thảo “Hợp tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản nhằm xây dựng năng lực sản xuất công nghiệp Việt Nam” với một số lượng lớn các công ty Nhật Bản có tham gia vào hoạt động FDI ở khu vực này cho thấy, hoạt động đầu tư của Nhật Bản tập trung chủ yếu vào việc khai thác nguồn lao động rẻ của Việt Nam (65,3%), phát triển thị trường mới (61,1%) và xuất khẩu sản phẩm sang nước thứ ba (28,4%), trong khi đó lý do phổ biến nhất hiện nay cho hoạt động FDI của Nhật Bản đầu tư vào khu vực Đông Nam Á thì thứ tự tầm quan trọng lại là: Duy trì và mở rộng thị phần (64,5%); tiếp theo là xuất khẩu sản phẩm sang nước thứ ba (42,6%); và tiếp đó mới là đảm bảo khai thác nguồn lao động rẻ (40,1%) ở khu vực này.

Theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn, ĐH Kinh tế Quốc dân, so với FDI của các nước nói chung, FDI của Nhật Bản thường mang một số đặc điểm riêng, ngoài việc chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định nguồn cung cấp nguyên vật liệu, lao động rẻ và các yếu tố đầu vào khác cho sản xuất, quan trọng hơn nữa là mục đích đảm bảo thị trường tiêu thụ sản phẩm của Nhật Bản. Thêm vào đó, doanh nghiệp Nhật Bản cũng thực hiện theo nguyên tắc cơ bản là đầu tư vào lĩnh vực khai thác đối với những nước giàu tài nguyên thiên nhiên; đầu tư vào ngành chế tạo ở những nước có cả nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực dồi dào; đầu tư vào lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ đối với những nước có nền công nghiệp phát triển cao hơn.

Báo cáo cũng cho thấy, FDI của Nhật Bản ở Việt Nam theo phương thức hoạt động của FDI theo chiều dọc, gắn liền với việc xuất khẩu hoặc thiết lập các cơ sở lắp ráp hay đại lý tiêu thụ sản phẩm. Đặc điểm cơ bản của FDI theo chiều dọc là nhằm tranh thủ những lợi thế cạnh tranh lớn ở các nước sở tại về chi phí nguyên vật liệu và lao động… và thường được thực hiện ở các nước đang phát triển. Chính vì vậy, có thể thấy một số lượng lớn các cơ sở sản xuất dưới dạng dây chuyền lắp ráp sản phẩm, hoặc hoàn thiện sản phẩm của Nhật Bản ở Việt Nam mà tiêu biểu là các dây chuyền lắp ráp xe máy và ô tô hay các thiết bị điện tử phục vụ sinh hoạt như TV, Casset, hoặc các dây chuyền cắt may quần áo.

Bên cạnh đó, các hoạt động tạo vốn của các công ty đa quốc gia của Nhật Bản ở khu vực Đông Nam Á lại dựa vào các thị trường tài chính địa phương nơi có xu hướng tiết kiệm thấp chứ không phải dựa vào bản thân thị trường tài chính của Nhật Bản nơi có xu hướng tiết kiệm cao hơn. Việc tạo vốn của các hãng Nhật Bản sẽ tập trung tối đa hóa việc tranh thủ những khuyến khích và ưu đãi đối với các dự án FDI ở các nước sở tại do chính sách ưu đãi thể hiện “lòng khao khát” về vốn và công nghệ cho phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, điều này cũng có lợi cho việc hình thành thị trường tài chính một cách đúng nghĩa, củng cố, phát triển và hiện đại hóa các thị trường tài chính của các nước tiếp nhận đầu tư.

Cùng với đó, trong các liên doanh, FDI thường đi cùng với kiểu quản lý của Nhật Bản trong thời gian dài, tốc độ chuyển giao công nghệ cũng như bí quyết quản lý chậm. Mặt khác, các công ty Nhật Bản thường tiến hành hoạt động R&D tại chỗ là không đáng kể. Điều này có thể giải thích là do mục đích đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là để xây dựng và phát triển các cơ sở tận dụng yếu tố thuận lợi có lợi thế so sánh “tĩnh” ở nước sở tại. Không những thế, các sản phẩm và quy trình sản xuất đưa vào Việt Nam cũng như các nước trong khu vực, nhất là thời kỳ trước năm 1995 đều không phải là những sản phẩm quá mới theo tiêu chuẩn của Nhật Bản, do vậy, vai trò của hoạt động nghiên cứu và phát triển để cải tiến kỹ thuật là không cần thiết. Ngay cách thức chuyển giao công nghệ của các nhà đầu tư Nhật Bản cũng có sự khác biệt khi mà các chuyên gia Nhật Bản thường chuyển giao thông qua thực tê quá trình sản xuất hàng ngày, từng bước cho các công nhân nước sở tại làm quen dần với các tình huống phát sinh trong quá trình sản xuất, phổ biến.

Vấn đề này không mới, nhưng trong suốt thời gian qua, chuyển giao công nghệ vẫn chỉ là lời kêu gọi từ phía Chính phủ Việt Nam đến mức, TS. Vũ Đình Ánh, Viện Nghiên cứu thị trường giá cả, Bộ Tài chính đã phải thốt lên rằng: “Các bạn Nhật Bản đã giúp Việt Nam thì giúp cho chót. Ngay như câu chuyện đào tạo nhân lực, kể cả Nhật Bản đã hỗ trợ Việt Nam trong việc đào tạo công nhân kỹ thuật lẫn chuyên gia quản lý nhưng khi về Việt Nam, chính những người này lại không có điều kiện để sử dụng những gì đã học ở Nhật. Do đó, Nhật Bản hãy hỗ trợ Việt Nam bằng cách cùng tham gia với Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng, quản lý, thay vì kêu gọi Chính phủ Việt Nam nên làm gì để phát triển công nghiệp."

(T.Hương)