Doanh nghiệp ICT “trăn trở” chuyện toàn cầu hóa

(eFinance Online) - (Tạp chí Tài chính điện tử - số 164) - Gần 20 năm trước, FPT cùng nhiều doanh nghiệp Việt khác đi ra nước ngoài để tìm kiếm cơ hội toàn cầu hóa. Nhưng đáng tiếc phần lớn trong số họ đã không có đủ niềm tin, cho rằng đây chỉ là câu chuyện “chém gió” và bỏ phí một quãng thời gian dài, đồng thời để tuột mất cơ hội lớn giúp bản thân doanh nghiệp cũng như đất nước có thể phát triển đột phá. Nhờ vào kỷ nguyên Internet of Things, cơ hội để Việt Nam trỗi dậy một lần nữa lại đang hiện hữu, tuy nhiên liệu lần này các doanh nghiệp Việt có đủ dũng khí để bước chân ra thế giới hay không vẫn đang còn để ngỏ.
Doanh nghiệp ICT “trăn trở” chuyện toàn cầu hóa

“Xuất khẩu” thương hiệu Việt không phải là “chém gió”

Nhớ lại 19 năm về trước khi FPT quyết định toàn cầu hóa đúng vào dịp kỷ niệm 10 năm thành lập với tấm băng rôn khổng lồ ghi dòng chữ “toàn cầu hóa” trải dài từ tầng 4 xuống tầng 1 công ty, Chủ tịch FPT Trương Gia Bình cho biết: “Lúc đó chúng tôi cũng chưa hiểu gì về toàn cầu hóa. Động lực xuất phát từ anh bạn người Nhật tên là Wada làm tham tán của Đại sứ quán Nhật Bản khi đó nói rằng các bạn phải sang Bangalore, Ấn Độ. Lúc ấy chúng ta bắt đầu khởi động chương trình khu công nghệ cao Hòa Lạc để làm phần mềm. Thế là chúng tôi lấy Ấn Độ làm nguồn cảm hứng đi ra nước ngoài”.

“Có cơ hội gặp Tổng giám đốc của Tập đoàn Infosys lúc bấy giờ là ông Narayana Murthy, tôi hỏi ông ta một cách rất thiếu tự tin: Chúng tôi là người Việt liệu có xuất khẩu được phần mềm không? Ông ta nói tại sao không, vậy là chúng tôi bắt đầu học cách làm phần mềm xuất khẩu từ Infosys, Wipro, Cisco và Tata… Chủ tịch của Tata hầu như cầm tay chỉ việc cho chúng tôi từ việc tuyển người như thế nào, chất lượng cần ra sao… Nhiều người thắc mắc tại sao ông chủ của một trong những doanh nghiệp lớn nhất Ấn Độ lại bày vẽ cho FPT, một kẻ “ngoại đạo” cách làm phần mềm xuất khẩu để rồi sẽ tạo ra đối thủ tiềm năng của chính Ấn Độ trong tương lai. Ông ta đã trả lời rằng nếu không giúp thì Việt Nam cũng sẽ trở thành một nhà xuất khẩu phần mềm lớn, thì thà giúp luôn còn được bạn thay vì thành thù. Cho đến năm 2016, những lời tiên đoán đó đã trở thành hiện thực. Tại các cuộc cạnh tranh chọn thầu hiện nay của FPT ở nước ngoài thì toàn gặp đối thủ là Tata, Infosys. Chúng tôi thầm cảm ơn những người bạn Ấn Độ”, ông Trương Gia Bình chia sẻ.

Hiện nay, những doanh nghiệp Ấn Độ đó có doanh thu mỗi năm đạt 45 tỷ USD và quy mô 250.000 nhân viên. Còn FPT, sau gần 20 năm thực hiện chiến lược toàn cầu hóa cũng đã gặt hái những thành công lớn, có mặt tại 20 quốc gia, với tổng số 27.000 nhân viên. Riêng lĩnh vực phần mềm có 23 văn phòng đại diện tại 14 quốc gia trên toàn cầu. Đặc biệt, FPT Software tại Nhật Bản đã cán mốc doanh thu 100 triệu USD và trở thành công ty dịch vụ CNTT Việt Nam lớn nhất tại Nhật Bản, nằm trong Top 50 công ty cung cấp dịch vụ CNTT lớn nhất tại thị trường này. Tính về quy mô nhân sự thì FPT Software tương đương với Top 15 công ty phần mềm của Ấn Độ.

FPT đã thành công với chiến lược toàn cầu hóa, nhưng Chủ tịch FPT vẫn cảm thấy tiếc nuối vì nhiều doanh nghiệp đã không có đủ niềm tin để bước chân ra nước ngoài.

Ông cho biết: “Chúng tôi cùng với một số doanh nghiệp khác đã đi rất nhiều nơi ở Ấn Độ để cùng nhau tìm cách đi ra nước ngoài. Nhưng cái đáng tiếc nhất là hầu hết chúng ta đã không tin, cho rằng đây chỉ là câu chuyện chém gió và đã quá cẩn trọng. Nhiều công ty nói rằng chúng tôi cứ làm thử, nếu thành công thì họ mới làm theo. Phải mất từ 5 năm đến 8 năm sau, các công ty khác mới thực sự bắt đầu và như vậy chúng ta đã bỏ lỡ một quãng thời gian khá dài”.

Tuy vậy, ông Trương Gia Bình cũng tỏ ra lạc quan khi cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều cơ hội để có thể đi nhiều và đi nhanh hơn nữa nhờ vào Internet of Things. “Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 4 với Internet of Things đang mở ra cơ hội chưa từng có. Ngày xưa muốn lập công ty thì phải có 50 lập trình viên trở lên mới có cơ hội thắng, nhưng nay chỉ cần 5 người. Vì khi nói đến IoT thì thực chất là nói đến sáng tạo số và chỉ cần rất ít nhân lực. Các bạn chỉ cần có chứng chỉ về IoT và có tư tưởng về sáng tạo đổi mới. Kỷ nguyên IoT sẽ mang đến cơ hội cho toàn bộ công ty nhỏ của Việt Nam có thể tham gia vào, bởi thế giới đang thiếu trầm trọng những người có chứng chỉ về IoT”, ông Trương Gia Bình nói.

Chủ tịch FPT cũng nhấn mạnh, thị trường ở nước ngoài vô cùng rộng lớn. Ngay tại Việt Nam, ngân sách mà doanh nghiệp dành cho tất cả các chi phí đầu tư về CNTT là trên 1 tỷ USD, nên cơ hội là vô tận. “Chúng ta có cơ hội cho tất cả cộng đồng doanh nghiệp ở Việt Nam. Nhưng nếu so sánh có sự khác nhau hoàn toàn, các doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài đều có tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm từ 30-200%, còn doanh nghiệp làm trong nước chỉ tăng trưởng từ 5-10%”.

Trong chuyến sang Ấn Độ cách đây gần 20 năm cũng có một doanh nghiệp CNTT khác cùng đi với FPT là CMC. Nhưng không đủ niềm tin như người bạn đồng hành của mình, CMC đã bỏ cuộc. Nhắc lại chuyện cũ, ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch Tập đoàn công nghệ CMC cho rằng kỷ niệm đó luôn là lời nhắc nhở và cũng là nỗi đau của CMC. “Chúng tôi đi ra thị trường thế giới cùng FPT từ những ngày đầu tiên. FPT thì hết sức thành công, các anh luôn truyền cảm hứng và tạo niềm tin cho cúng tôi. Còn CMC khi ấy chưa thành công trong chuyện xuất khẩu phần mềm”.

Nhưng bắt đầu cuộc chơi mới với chuyến tàu tốc hành IoT, CMC cho biết sẽ không để lỡ cơ hội lần 2. “Từ 2015 chúng tôi đã quay lại thị trường này. Đúng là chỉ sau 1 năm quay lại thị trường nước ngoài thì chúng tôi đã có mức tăng trưởng đột biến 200%. Tuy chúng tôi vẫn còn rất bé nhỏ so với con số 2,6 tỷ USD/năm doanh thu xuất khẩu phần mềm của Singapore hay hàng tỷ USD của các công ty Nhật Bản, nhưng điều đó cũng cho thấy nhu cầu thị trường hết sức to lớn”. Ông Nguyễn Trung Chính cho biết như vậy, và khẳng định doanh nghiệp Việt đang thiếu nguồn nhân lực chứ không thiếu cơ hội.

Bất cứ thị trường nào bên cạnh chúng ta như Nhật Bản hay ASEAN, Úc đều có nhu cầu rất lớn. Ngành CNTT rất may mắn là nhu cầu thiếu hụt đó đang diễn ra trên toàn cầu, chứ không chỉ là nhu cầu tại một số nước, nhất là khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và IoT đang làm thay đổi cả thế giới. Vì vậy, việc chuẩn bị được nguồn nhân lực thật tốt đáp ứng nhu cầu đa dạng của các thị trường này đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho các doanh nghiệp.

Hành trang nào cho doanh nghiệp Việt?

Trả lời câu hỏi doanh nghiệp Việt Nam sẽ đi ra thị trường nước ngoài bằng cách nào, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel, với kinh nghiệm đầu tư tại 11 quốc gia cho rằng, “thế giới phẳng” rất hay ở chỗ dù chúng ta có sản phẩm nhỏ nhưng xuất sắc thì vẫn đi ra được thế giới. Vấn đề là chúng ta phải có sản phẩm xuất sắc, tìm được đúng khách hàng và phải xuất phát từ nhu cầu hiện thực của chính mình. Chỉ cần phát hiện ra nhu cầu thì câu chuyện đi ra thế giới cũng không quá khó.

Ông Hùng cũng cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam có nhiều thế mạnh khi ra nước ngoài, tất cả những gì mà người ta chê khi nói đến Việt Nam thì lại chính là thế mạnh của chúng ta, trong đó có “cái nghèo”. Tổng giám đốc của Viettel chia sẻ, trong số các doanh nghiệp viễn thông đi ra nước ngoài, thì Viettel luôn nằm trong Top 11-12 doanh nghiệp mạnh nhất, nhưng Viettel lại là doanh nghiệp viễn thông nghèo nhất, có ít vốn nhất và đến từ nước nghèo nhất. “Chính vì nghèo nên chúng ta lại khát khao làm giàu nhiều hơn những người khác. Cũng vì mình nghèo nhất nên chi phí của mình tốt nhất. Vừa rồi Viettel lần đầu tiên làm nên cuộc cách mạng thế giới khi biến 3 nước Đông Dương không còn cước roaming, trong khi ở châu Âu chỉ cần đi qua biên giới là cước roaming tăng vọt. Viettel làm được điều này là từ suy nghĩ xuất thân nghèo khó thì phải sáng tạo nhiều sản phẩm cho người nghèo, làm cuộc cách mạng đưa viễn thông đến những nơi nghèo nhất trên thế giới. Việt Nam cũng là nước duy nhất trên thế giới mà viễn thông do người bản địa làm, còn trên thế giới lĩnh vực này đều do nước ngoài sang đầu tư”.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng người Việt Nam có tính kỷ luật kém, nhưng nếu nhìn ở góc độ linh hoạt thì đó lại là sức mạnh. Chẳng hạn nếu để một người Mỹ sang châu Phi làm thị trường thì sẽ mất 1 năm để dạy họ về ngoại ngữ, làm quen với văn hóa, món ăn…  khi sang đến nơi thì phải ở khách sạn 4, 5 sao. Còn người Việt Nam vốn chịu khổ quen nên sang châu Phi có thể ăn mỳ gói cả tháng, ở chung 10 người một nhà, nhận mức lương chỉ 2.000 USD, thấp hơn nhiều so với người Mỹ. “Người Việt Nam không biết tiếng, cũng không biết người bản xứ ăn uống ra sao, cũng không không phải học hành gì trước khi lên đường, nhưng chỉ 6 tháng sau khi đặt chân lên đất người thì đã có thể chỉ huy 100 người bản xứ và nói bằng tiếng bản địa”, ông Hùng kể.

Tổng giám đốc của Viettel còn cho rằng dù nghèo và dân trí không cao nhưng doanh nghiệp Việt vẫn nên tự tin, đừng quá sợ vì mình đang ít tri thức bởi “biết nhiều quá cũng không tốt, không biết thì không có rào cản nào cả. Ai cũng có tật, bất kỳ tật nào cũng có mặt bên kia của nó, nên nếu phát huy được mặt tích cực thì rất tốt. Viettel đi nước ngoài thành công phần lớn nhờ vào việc sử dụng những đặc điểm bị chê của người Việt Nam như là một sức mạnh”. Bên cạnh đó, người Việt Nam có đặc điểm nước đến chân mới nhảy, càng bị đẩy vào thế khó bao nhiêu thì càng có sức bật lớn bấy nhiêu. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt cần phải đi ra nước ngoài để va chạm với các “ông lớn” trên thế giới. Doanh nghiệp dù đã đã lớn rồi cũng cần đi ra ngoài để tìm đối thủ canh tranh mạnh hơn, phải có đối thủ tốt mới có thể tồn tại được.

Thị trường ở ngước ngoài là cơ hội lớn và thực tế là minh chứng tuyệt vời cho những doanh nghiệp đã dũng cảm bước chân ra khỏi lũy tre làng. Hiện tại, một cơ hội mới, vận hội mới lại bắt đầu, các thương hiệu Việt muốn ra toàn nước ngoài thành công thì hành trang không chỉ là vốn ngoại ngữ hay đổi mới tư duy theo ngôn ngữ toàn cầu, mà điều quan trọng hơn cả là phải có “khát vọng thần thánh”. Một khát vọng theo như cách nói của ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel là “khát vọng không làm thuê, mà phải bước ra thế giới với thương hiệu Việt Nam”.

 (Thanh Huyền)