Mức thu cấp quyền khai thác khoáng sản

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 203/2013/NĐ-CP về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Theo Nghị định, kể từ  20/01/2014, giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được xác định theo giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp  tỉnh công bố và tại thời điểm tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản còn hiệu lực.

Mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được quy định theo nhóm, loại khoáng sản có giá trị từ 1% đến 5%.

Mỗi loại khoáng sản trong một khu vực khai thác chỉ áp dụng một mức giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

- Trường hợp trong một khu vực, sản phẩm sau khai thác có nhiều loại và mỗi loại có mức giá khác nhau, áp dụng giá trị trung bình các mức giá.

- Đối với khoáng sản chưa có giá tính thuế tài nguyên hoặc phải điều chỉnh giá tính thuế do không còn phù hợp, Sở TN-MT chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng giá; Sở Tài chính thẩm định, trình UBND cấp tỉnh phê duyệt

Cục Thuế địa phương nơi có các khu vực khoáng sản được cấp phép khai thác chịu trách nhiệm: Ra thông báo gửi tổ chức, cá nhân: Nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; tiền chậm nộp, tiền phạt theo quy định của pháp luật về quản lý thuế do quá thời hạn ghi trên Thông báo (nếu có); Cung cấp thông tin liên quan đến nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cho Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường theo thẩm quyền cấp phép biết, theo dõi; Tổng hợp, hạch toán, báo cáo số thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo chế độ hiện hành.

(T.H)