Năng suất của ngành dệt may Việt Nam vẫn kém xa đối thủ cạnh tranh

Sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp dệt may trong 10 năm trở lại đây đã cải thiện nhiều về năng suất, chất lượng cũng như sự hài lòng của khách hàng tuy nhiên so với một số quốc gia dệt may hàng đầu trong khu vực và trên thế giới, năng suất nói chung và năng suất lao động nói riêng vẫn còn khoảng cách.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Năng suất không đồng đều

Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện đang giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong giai đoạn 2008 - 2012 giá trị sản xuất công nghiệp của ngành chiếm bình quân khoảng 7,7% toàn ngành công nghiệp, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 17%/năm, là ngành xuất khẩu chủ lực với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 18,98%/năm.

Theo số liệu của niên giám thống kê năm 2012, toàn ngành có gần 7.000 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhuộm và hoàn tất chiếm khoảng 2,6%, may chiếm trên 64% còn lại là các doanh nghiệp về các lĩnh vực khác như: chế biến bông, kéo sợi, dệt vải, sản xuất nguyên phụ liệu,… Các doanh nghiệp dệt may phân bố tại khắp các vùng miền trên cả nước tập trung chính vào 2 vùng là Đông Nam Bộ với tỷ lệ 59,33% và Đồng bằng Sông Hồng với tỷ lệ 26,53%. Về cơ cấu loại hình doanh nghiệp thì các doanh nghiệp dệt may được phân chia thành 3 loại hình theo thành phần kinh tế, nhiều nhất là khối tư nhân với tỷ lệ 84,3 %, tiếp đến là khối nước ngoài với 14,6% và ít nhất là doanh nghiệp nhà nước với tỷ lệ 1,1%. Nếu phân loại theo số lượng lao động thì các doanh nghiệp dệt may lớn với trên 5.000 lao động chỉ chiếm 0,2% và nhiều nhất là các doanh nghiệp nhỏ (dưới 200 lao động) chiếm tới 70%.

Năm 2013, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu dệt may vượt mức 20 tỷ USD và là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 trong cả nước.

Sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp dệt may trong 10 năm trở lại đây đã cải thiện nhiều về năng suất, chất lượng cũng như sự hài lòng của khách hàng tuy nhiên so với một số quốc gia dệt may hàng đầu trong khu vực và trên thế giới năng suất nói chung và năng suất lao động nói riêng vẫn còn khoảng cách.

Theo Viện Năng suất Việt Nam, tình trạng chung của các doanh nghiệp may là năng suất thấp, hàng lỗi hỏng trên công đoạn cao, các nguồn lực không được sử dụng hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu là do các cán bộ quản lý sản xuất của các doanh nghiệp may chưa được đào tạo, hướng dẫn đầy đủ về công tác quản trị sản xuất, việc áp dụng các công cụ như ISO 9001, SA8000… ở mức độ thấp.

Còn theo bà Nguyễn Thanh Ngân, Tập đoàn Dệt May Việt Nam, lao động chính là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất tác động tới năng suất. Năng suất phụ thuộc nhiều vào trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng và năng lực của lực lượng lao động. Nếu không phát triển tốt nguồn nhân lực thì các yếu tố về vốn và công nghệ khó có thể phát huy được tác dụng. Ngoài ra, việc đảm bảo vốn đầy đủ, kịp thời  và sử dụng có hiệu quả vốn sẽ là yếu tố quan trọng tác động đến năng suất. Đặc biệt, trình độ và khả năng tổ chức sản xuất của mỗi doanh nghiệp có tác động mạnh tới năng suất thông qua việc xác định phương hướng phát triển, phương án đầu tư, lựa chọn dây chuyền công nghệ, cách thức bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý để khai thác tối đa lợi thế, giảm chi phí và nâng cao năng suất.

Hiện nay, ngành sợi phát triển thuận lợi trong những năm qua xuất phát từ hai nguyên nhân chính là đã phát huy được lợi thế cạnh tranh về chi phí đầu vào thấp so với các nước mà cụ thể là chi phí nhân công và tiền thuê đất, tiền điện. Mặt khác, do nhu cầu sợi của thị trường của thế giới tăng nhanh trong những năm gần đây. Tuy nhiên, đa số lượng sợi sản xuất trong nước được xuất khẩu trong khi các doanh nghiệp dệt trong nước lại nhập khẩu sợi từ nước ngoài do cung và cầu trong nước chưa phù hợp với nhau về số lượng và chất lượng sợi. Năng suất, chất lượng sợi không đồng đều, cũng có một số đơn vị cho năng suất lao động cao, chất lượng tốt nhưng cũng có đơn vị hoạt động không hiệu quả: năng suất lao động thấp và chất lượng kém. Năng suất ngành sợi trung bình đạt khoảng 1.340 tấn/vạn cọc sợi, dao động trong khoảng từ 1.000 - 2.200 tấn/vạn cọc sợi (số liệu năm 2012).

Trong khi đó, dù vai trò của ngành dệt nhuộm đối với ngành may nói riêng và tổng thể ngành dệt may là rất lớn vì vải là yếu tố quan trọng quyết định đến chi phí và chất lượng cuối cùng của một sản phẩm may mặc, song trên thực tế, ngành dệt nhuộm Việt Nam chưa phát triển như kỳ vọng. Bên cạnh yếu tố chất lượng không đảm bảo thì sản lượng ngành dệt nhuộm cũng không đáp ứng nhu cầu của ngành may. Năm 2012, ngành may có nhu cầu sử dụng khoảng 7 tỷ mét vải trong khi tổng lượng vải sản xuất trong nước chỉ đạt khoảng 1 tỷ mét, nước ta phải nhập khẩu 6 tỷ mét vải, tương đương 86% tổng nhu cầu. Nước ta có khả năng nhuộm và hoàn tất 80.000 tấn vải dệt kim và 700 triệu mét vải dệt thoi mỗi năm. Tuy nhiên, chỉ khoảng 20 - 25% lượng vải dệt thoi đủ chất lượng để sản xuất thành phẩm xuất khẩu, còn vải dệt kim hầu hết không đủ tiêu chuẩn mà chủ yếu sử dụng cho thị trường nội địa.

Cuối cùng là ngành may, đây là công đoạn mà ngành dệt may Việt Nam đang có lợi thế. Năng suất chất lượng sản phẩm may của một số đơn vị trong ngành có thể tương đương với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới xét trên góc độ cùng công nghệ sử dụng. Tuy nhiên xét về tổng thể thì năng suất ngành may của Việt Nam mới chỉ đạt mức trung bình khá. Lấy ví dụ về năng suất của một số sản phẩm phổ biến như Sơ mi mới đạt 17 - 35 sơ mi/lao động/ca làm việc; Quần âu: 14-25 SP/lao động/ca làm việc.

Giải thích cho có sự chênh lệch nói trên, đại diện Tập đoàn Dệt May cho biết là do những khác biệt về mức độ tự động và chuyên dùng của thiết bị, tay nghề của người lao động cũng như trình độ quản lý của doanh nghiệp.

Nhiều tiềm năng để tăng năng suất

Từ ví dụ minh họa trên cho thấy năng suất lao động của các đơn vị sản xuất hàng may mặc của Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn và đây cũng chính là cơ hội để nâng cao năng suất. Các đơn vị có năng suất thấp có thể học hỏi kinh nghiệm về kỹ thuật đầu tư, quản lý sản xuất, thị trường,... từ những đơn vị có năng suất cao. Tiềm năng về nâng cao năng suất cho các đơn vị sản xuất hàng may mặc vẫn còn rất nhiều.

Mặc dù được đánh giá là khâu có lợi thế nhất trong chuỗi: sợi - dệt  nhuộm - may - phân phối sản phẩm, tuy nhiên năng suất của các doanh nghiệp may của Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng để nâng cao năng suất trên cơ sở đầu tư bổ sung thiết bị chuyên dùng và tự động hóa.

Cụ thể, cần chuẩn hóa công nghệ, máy móc thiết bị. Đầu tư thay thế máy móc thiết bị quá cũ, lạc hậu. Cải tiến các thiết bị sẵn có để sản xuất những mặt hàng phù hợp; Bộ phận bảo trì thiết bị có tay nghề, thiết bị phụ tùng sẵn có để thay thế; Cải tiến công tác tính toán định mức kinh tế kỹ thuật; Cải tiến các quy trình công nghệ: cắt, may nẹp, dập khuy,...; Đầu tư mới hoặc hoàn thiện các phần mềm quản lý sẵn có (từ đơn hàng cho tới khi xuất xưởng bao gồm việc quản lý cả nguyên phụ liệu) và các phần mềm thiết kế sản phẩm như: Lectra, Gerber, Optitex,... Đồng thời, áp dụng hệ thống các tiêu chuẩn về quản lý như: ISO 9001, ISO 14001, SA8000, WRAP, ISO/IEC 17025, ISO 50001, ISO 26000,… Áp dụng hệ thống các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm và phương pháp thử của châu Âu (EN), của Mỹ (ASTM, AATCC), của Nhật Bản (JIS) hay tiêu chuẩn quốc tế ISO,…

(T.Hương)