Ngành chế biến gỗ Việt Nam: Biến triển vọng thành cơ hội

Trong khuôn khổ hoạt động NSO-5, Dự án Hỗ trợ thương mại và đầu tư của châu Âu (EU - MUTRAP) hỗ trợ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện báo cáo nghiên cứu về ngành gỗ Việt Nam. Báo cáo là tài liệu hữu ích cho các doanh nghiệp ngành gỗ, các nhà hoạch định chính sách và các cán bộ đàm phán hiệp định thương mại quốc tế, đặc biệt là đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Nhiều triển vọng

Tại hội thảo “Ngành gỗ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU”, bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO (VCCI), chuyên gia dự án Mutrap cho biết: Là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng ấn tượng, với các sản phẩm chế biến nằm trong nhóm có kim ngạch xuất khẩu cao nhất liên tiếp trong nhiều năm trở lại đây, ngành chế biến gỗ đang nhận được sự quan tâm của Chính phủ trong các chính sách, cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất, thương mại.

Với 180 - 200 triệu USD/năm, xuất khẩu gỗ đang đứng thứ 5 trong 10 ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và trở thành nước đứng thứ 2 Châu Á, đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu đồ gỗ. Với quy mô thị trường lên tới 100 tỷ USD/năm và 17 tỷ USD năm 2017đối với ngành hàng đồ gỗ chế biến và lâm sản ngoài gỗ, trong khi Việt Nam mới chỉ đạt 2-3% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ thế giới, Việt Nam có rất nhiều triển vọng. Bên cạnh 100 quốc gia và vùng lãnh thổ mà đồ gỗ Việt Nam đã hiện diện, thị trường nội địa với quy mô 90 triệu dân đang được nhiều nhà sản xuất đồ gỗ quan tâm trở lại.

Tính đến tháng 7/2014, cả nước có 3.500 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành chế biến gỗ, 340 làng nghề và hàng vạn cơ sở chế biến gỗ. Tuy nhiên, xét theo cả quy mô lao động và đầu tư, đa phần các doanh nghiệp này đều là quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Đáng chú ý, năng suất lao động của doanh nghiệp ngành chế biến gỗ Việt Nam rất thấp, chỉ bằng 50% của Philippines, 40% của Trung Quốc và 20% của EU.

Nếu xét về công nghệ, nhóm doanh nghiệp FDI, DN nội địa lớn sản xuất đồ gỗ để xuất khẩu đều đang sử dụng các công nghệ hiện đại của EU và Đài Loan, thấp hơn là nhóm sản xuất để tiêu thụ nội địa chủ yếu đang sử dụng công nghệ của Trung Quốc và Đài Loan, phân khúc khác là chế biến đồ mỹ nghệ thì chủ yếu là thủ công với công cụ truyền thống.

Vẫn còn lúng túng với tiến trình hội nhập

Theo đánh giá, ngoài các nhóm DN xuất khẩu trực tiếp ra thị trường nước ngoài có khả năng cạnh tranh cao thì các nhóm còn lại đều ít có khả năng cạnh tranh. Nguyên nhân là các DN này chủ yếu gia công, giá trị gia tăng thấp, bán FOB và không tiếp cận được với chuỗi phân phối nước ngoài, khả năng chuyển đổi phân khúc thị trường còn hạn chế. Mặt khác, nguồn nguyên liệu đa phần phải nhập khẩu cũng là một trong những hạn chế của ngành chế biến gỗ Việt Nam hiện nay. Cụ thể, gỗ nguyên liệu đang phải nhập khẩu một lượng tương đối lớn, khoảng 30-50% từ 100 quốc gia trên thế giới. Dù vậy, nguồn này cũng đang dần được cải thiện khi DN đã cố giảm tỷ trọng nhập khẩu, kim ngạch gỗ nguyên liệu nhập khẩu bằng khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu gỗ thành phẩm. Còn vật tư, hiện các DN Việt Nam vẫn phải nhập tới 90% do nguồn trong nước không ổn định.

Trong khi đó, các chính sách ưu đãi đối với ngành gỗ chủ yếu liên quan tới lâm nghiệp mà chưa có chính sách tín dụng, đầu tư riêng cho ngành chế biến gỗ. Đóng góp của chính sách nội địa đối với phát triển của ngành gỗ là còn hạn chế và khá rời rạc, thiếu tính hệ thống và do đó hạn chế về hiệu quả. Đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ đang thực hiện đàm phán các hiệp định thương mại tự do với các đối tác lớn như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), ngành gỗ đang tỏ ra khá lúng túng khi chưa đưa ra được các đề xuất phương án đàm phán tổng thể cho ngành của mình và vì vậy chưa tận dụng hiệu quả cơ chế tham vấn trong đàm phán thương mại quốc tế mà Thủ tướng Chính phủ đã cho phép. Hiện các DN chế biến gỗ đang phải đối mặt với nguy cơ bị kiện ở một số thị trường xuất khẩu trọng điểm.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng này được cho là ngành thiếu một định hướng phát triển về sản phẩm, thị trường cũng như năng lực sản xuất phù hợp với năng lực, nhu cầu của doanh nghiệp. Từ góc độ quản lý, tương tự như nhiều ngành kinh tế khác, ngành gỗ đã được Chính phủ xây dựng và thông qua các quy hoạch và chiến lược phát triển ngành gỗ. Tuy nhiên, đây hầu hết là các mục tiêu chủ quan từ góc độ quản lý Nhà nước, không có các biện pháp hỗ trợ thực hiện cụ thể và đặc biệt là không gắn trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Trước mắt, về chính sách phát triển nguồn nguyên liệu, cần xác định loại cây ưu tiên, từ đó, hỗ trợ tín dụng và đầu tư phát triển giống cây, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, dịch vụ liên quan tới rừng. Đặc biệt, để đảm bảo nguồn gốc hợp pháp của gỗ phục vụ sản xuất xuất khẩu, cần xây dựng chính sách khoa học công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với mỗi sản phẩm. Đồng thời xây dựng lại chính sách thuế xuất khẩu gỗ để hỗ trợ cho các DN ngành chế biến gỗ Việt Nam...

(T.Hương)