Quy định mới về điều kiện niêm yết chứng khoán của công ty hợp nhất

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 202/2015/TT-BTC, hướng dẫn về niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán. Thông tư quy định rõ điều kiện niêm yết chứng khoán của công ty hợp nhất trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Cụ thể, trường hợp các công ty bị hợp nhất đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh thì công ty hợp nhất được đăng ký niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh khi đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, c, d, đ, e khoản 1, Điều 53, Nghị định 58/2012/NĐ-CP và có tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) dương.

Trường hợp công ty đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh hợp nhất với công ty chưa niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm cả công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội), công ty hợp nhất được đăng ký niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh khi đáp ứng quy định tại khoản 1, Điều 53, Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngoại trừ các điều kiện sau đây: Có ít nhất 02 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng ký niêm yết; hoạt động kinh doanh của hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi.

Trường hợp các công ty bị hợp nhất đều chưa niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, trong vòng 03 tháng, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty hợp nhất được đăng ký niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh khi: Công ty hợp nhất đáp ứng quy định tại các điểm a, c, d, đ, e khoản 1, Điều 53, Nghị định 58/2012/NĐ-CP; và các công ty bị hợp nhất đáp ứng quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 53 Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngoại trừ điều kiện hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần.

Sau thời hạn 3 tháng, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty hợp nhất được đăng ký niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh khi đáp ứng đầy đủ quy định tại Điều 53, Nghị định 58/2012/NĐ-CP.

Việc niêm yết trái phiếu của công ty hợp nhất thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 53, Nghị định 58/2012/NĐ-CP; việc niêm yết chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng sau khi nhận hợp nhất quỹ thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 53, Nghị định 58/2012/NĐ-CP đã được sửa đổi tại khoản 15, Điều 1, Nghị định số 60/2015/NĐ-CP.

Thông tư cũng quy định rõ, trường hợp công ty nhận sáp nhập và công ty bị sáp nhập đều đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh thì sau khi sáp nhập, công ty nhận sáp nhập được làm thủ tục thay đổi đăng ký niêm yết khi: Trước khi sáp nhập, công ty nhận sáp nhập và công ty bị sáp nhập đều có ROE dương; hoặc sau khi sáp nhập, công ty nhận sáp nhập có ROE dương hoặc có ROE lớn hơn ROE của công ty đó trong năm liền trước năm thực hiện sáp nhập.

Trường hợp không đáp ứng các điều kiện quy định trên thì số cổ phiếu phát hành thêm chỉ được đăng ký niêm yết bổ sung trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh sau 01 năm kể từ thời điểm công ty nhận sáp nhập được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới.

Trường hợp công ty nhận sáp nhập là công ty chưa niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, thì sau khi sáp nhập, công ty nhận sáp nhập phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 1, Điều 53, Nghị định 58/2012/NĐ-CP trong đó điều kiện phải có tối thiểu 02 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính từ thời điểm thành lập công ty nhận sáp nhập.

Việc niêm yết trái phiếu của công ty nhận sáp nhập thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 53, Nghị định 58/2012/NĐ-CP; việc niêm yết chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng sau khi nhận sáp nhập quỹ thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 53, Nghị định 58/2012/NĐ-CP đã được sửa đổi tại khoản 15 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 1/3/2016.

(PV)