Các báo ngành Tài chính ngày 13/05/2013

**Bộ Tài chính đánh giá kết quả 9 năm thực hiện Luật NSNN; **Chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp: Khẳng định tầm quan trọng trong đảm bảo an sinh xã hội; **Thứ trưởng Bộ Tài chính Trương Chí Trung tiếp Đại sứ Singapore tại Việt Nam; **Sẽ áp dụng chính sách thuế đối với xe biển số ngoại giao, biển số nước ngoài được chuyển nhượng, sử dụng không đúng quy định; ** Quy định quản lý nguồn kinh phí thực hiện Đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm 2020;...

Các báo ngành Tài chính ngày 13/05/2013

Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính đăng tin: Thực hiện chương trình Luật, Pháp lệnh năm 2013 của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức đánh giá tổng kết tình hình thực hiện Luật Ngân sách nhà nước giai đoạn 2004-2012 đồng thời xây dựng dự án Luật NSNN sửa đổi.

Trong hai ngày 9-10/5, tại Quảng Ninh, Bộ Tài chính và Chương trình cải cách kinh tế vĩ mô đã phối hợp tổ chức Hội thảo “Đánh giá kết quả 9 năm thực hiện và định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước" (Luật NSNN). Tham dự Hội thảo có đại diện các đơn vị chức năng thuộc Bộ Tài chính, đại diện Uỷ ban Kinh tế Trung ương, các cơ quan của Chính phủ và đại diện Sở Tài chính, Phòng Ngân sách thuộc 26 Sở Tài chính các tỉnh phía Bắc.

Phát biểu chỉ đạo Hội thảo, Thứ trưởng thường trực Nguyễn Công Nghiệp đã đưa ra một số định hướng cơ bản trong quá trình Ban soạn thảo tiếp thu, sửa đổi để  Dự  thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân sách thực sự thiết thực, khắc phục được những tồn tại cơ bản của Luật hiện hành, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới, đồng thời có tầm nhìn dài hạn trong tương lai cho những vấn đề của quản lý ngân sách nhà nước.

Trên cơ sở những ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng thường trực Nguyễn Công Nghiệp, ông Huỳnh Quang Hải, Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước để nghị Hội nghị cần tập trung vào ba nhóm vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, về lý do phải sửa Luật, hai vấn đề lớn tồn tại trong Luật NS hiện hành là tính lồng ghép trong hệ thống ngân sách cũng như sự phân tán của ngân  sách đang tồn tại làm giảm tính chủ đạo và chủ động của NSTW. Dự thảo sửa đổi phải khắc phục được về cơ bản những tồn tại này. Thứ trưởng cũng nêu rõ, Luật được sửa đổi gắn với việc sửa đổi Hiến Pháp đang được tiến hành cũng sẽ là một thuận lợi lớn vì có cơ hội để đưa các yêu cầu quản lý ngân sách vào trong Hiến Pháp. Nhưng cũng đồng thời chúng ta tiến hành sửa đổi trong bối cảnh nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi người làm chính sách cần có cái nhìn tổng thể về quản lý ngân sách, NSNN sẽ đảm nhận vai trò như thế nào, quản lý ra sao là những câu hỏi mà dự thảo Luật phải làm rõ.

Thứ hai, về mục tiêu và phương hướng sửa Luật: Luật NS phải phù hợp với Hiến pháp và các Luật khác đã đang và sẽ có hiệu lực; đảm bảo sự thống nhất giữa NSTW và NSĐF; đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW và có cơ chế hỗ trợ đặc thù cho những địa phương có đóng góp lớn cho ngân sách; đảm bảo nguyên tắc công bằng, công khai và minh bạch của ngân sách, Chú ý cơ chế đặc thù cho những địa phương trọng điểm thu để bồi dưỡng nguồn thu tăng hơn nữa; phân cấp mạnh hơn, đảm bảo tính chủ động của các địa phương nhưng cũng đồng thời gắn liền với trách nhiệm của các địa phương trong quản lý, sử dụng NSĐF

Thứ ba, về các nội dung trong dự thảo: Tập trung lấy ý kiến, chỉnh sửa cho phù hợp để khắc phục được một phần tính lồng ghép trong hệ thống ngân sách; phân cấp nguồn thu đảm bảo công bằng giữa NSTW và NSĐF; Chú ý đến nội dung tương đối mới là xây dựng NS trung hạn và cam kết chi nhằm đảm bảo cho các dự án thực hiện được và thực hiện đúng tiến độ đặt ra. Đối với nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đây là nội dung rất quan trọng không chỉ được quy định trong Luật NSNN và Luật Đầu tư công (cũng đang được xây dựng trình Chính phủ và Quốc hội). Quản lý vốn đầu tư là nội dung đặc thù cần làm rõ nội hàm, quản lý chặt, quy định chặt và xác định rõ ranh giới điều chỉnh đối với nội dung này giữa  Luật NSNN và Luật Đầu tư công có như vậy mới tránh được sự chồng chéo, lãng phí không cần thiết.

Ngay sau hội nghị sơ kết thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ngày 06/7/2012 tại Nghệ An, Ban chỉ đạo triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) các tỉnh, thành phố đã tích cực phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo các ban, ngành trên địa bàn cũng như các DN bảo hiểm triển khai thí điểm BHNN. Để đánh giá lại những kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện và các công việc cần triển khai trong thời gian tới của chương trình thí điểm BHNN, ngày 9/5/2013, tại Hà Nội, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức Hội nghị đánh giá thí điểm 1 năm triển khai BHNN. Tham gia hội nghị có đại diện lãnh đạo cục Quản lý giám sát bảo hiểm, đại diện các cơ quan trung ương, địa phương có liên quan và các DNBH thực hiện thí điểm BHNN. Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà và Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nguyễn Thị Xuân Thu đồng chủ trì hội nghị.

Theo các kiến nghị về khó khăn vướng mắc, những điểm chưa phù hợp với thực tiễn của cơ chế chính sách của địa phương tại Hội nghị sơ kết thí điểm BHNN ngày 06/7/2012, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã nghiên cứu, tiếp thu, sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản quy phạm luật điều chỉnh hoạt động thí điểm BHNN trong phạm vi thẩm quyền như bổ sung đối tượng bảo hiểm vật nuôi (vịt), bỏ đối tượng bảo hiểm là cá basa; mở rộng một số rủi ro thiên tai, dịch bệnh được bảo hiểm đối với cây lúa, vật nuôi, thủy sản cho phù hợp với đặc thù của địa phương; mở rộng đơn vị được bảo hiểm là xã, thôn hoặc hợp tác xã; nâng mức năng suất bảo hiểm lên 90% (thay cho mức 80% trước đó); điều chỉnh giảm tỷ lệ phí bảo hiểm cây lúa cho tất cả các tỉnh; mở rộng điều kiện tham gia bảo hiểm tôm, cá theo đó, các hộ nông dân, cá nhân nuôi tôm, cá được tham gia bảo hiểm tùy theo nhu cầu… Qua đó đã tháo gỡ  kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện, đồng thời tạo điều kiện khuyến khích các đối tượng tham gia bảo hiểm và đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm.

Thực tiễn cho thấy, mặc dù còn nhiều khó khăn phức tạp, do nghiệp vụ triển khai mới, cán bộ khai thác mỏng, chưa có nhiều kinh nghiệm, song các DN bảo hiểm cũng đã rất nỗ lực, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong việc hỗ trợ thực hiện chương trình thí điểm của Chính phủ. Trong quá trình triển khai, số lượng hợp đồng bảo hiểm nhiều, tổn thất cũng phát sinh ngày càng lớn, phức tạp dẫn đến mức chi trả bồi thường lớn, tạo gánh nặng về tài chính cho DN bảo hiểm, tuy nhiên, các DN bảo hiểm cũng đã rất tích cực, chủ động, đẩy nhanh công tác rà soát, giải quyết các hồ sơ yêu cầu bồi thường, phối hợp với Ban chỉ đạo địa phương, các cơ quan chức năng xác nhận thiệt hại, xác định cụ thể loại dịch bệnh, mức độ tổn thất và giải quyết bồi thường kịp thời cho người được bảo hiểm để khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh.

Sáng 10/5/2013, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trương Chí Trung đã tiếp và làm việc với ông Ng Teck Hean - Đại sứ Singapore tại Việt Nam. Cùng tham gia buổi tiếp có ông Philip Chua, Bí thư thứ nhất phụ trách chính trị, Đại Sứ quán Singapore và đại diện một số đơn vị chức năng của Bộ Tài chính.Tại buổi tiếp, Thứ trưởng Trương Chí Trung đánh giá cao mối quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Singapore trong thời gian qua. Singapore đã trở thành một trong những đối tác thương mại và đầu tư hàng đầu của Việt Nam và nhà đầu tư Singapore đã có mặt trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế của Việt Nam. Bộ Tài chính cũng đánh giá cao sự hỗ trợ và hợp tác của Đại sứ quán Singapore trong việc tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai nước nói chung và giữa hai Bộ Tài chính nói riêng. Mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước được minh chứng bằng việc ký kết Nghị định thư bổ sung Hiệp định tránh đánh thuế trùng và Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa hai Bộ Tài chính giai đoạn 2013 -2015.

Thứ trưởng hy vọng, trong thời gian tới, đặc biệt là năm 2013 là năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam – Singapore. Bộ Tài chính mong muốn Đại sứ quán sẽ hỗ trợ, thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước nói chung và quan hệ giữa hai Bộ Tài chính nói riêng và hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Singapore toàn diện và hiệu quả.

Văn phòng Chính phủ đã có công văn số 3640/VPCP-KTTH gửi tới các Bộ Tài chính, Công an, Ngoại giao, Công thương, Giao thông vận tải, Thông tin và Truyền thông, Tư pháp về việc thực hiện chính sách thuế đối với xe biển số ngoại giao, biển số nước ngoài được chuyển nhượng, sử dụng không đúng quy định.

Theo Công văn, Văn phòng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn căn cứ tính thuế đối với xe ô tô mang biển số ngoại giao, biển số nước ngoài đã được chuyển nhượng, sử dụng không đúng quy định thời gian vừa qua theo đúng cơ chế hiện hành. Trong đó, căn cứ để tính thuế là trị giá tính thuế, thuế suất tại thời điểm có sự thay đổi mục đích sử dụng.

Công văn cũng nêu rõ, không phạt chậm nộp thuế đối với các trường hợp nếu người đang quản lý, sử dụng xe thực hiện khai báo và làm thủ tục thu hồi đăng ký, biển số và chuyển nhượng, nộp thuế trong thời hạn quy định.

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 45/2013/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Theo đó, Thông tư này áp dụng cho doanh nghiệp được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật. Việc tính và trích khấu hao theo Thông tư này được thực hiện đối với từng tài sản cố định (viết tắt là TSCĐ) của doanh nghiệp. Đồng thời Thông tư này sẽ thay thế Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.

Thông tư cũng quy định rõ việc quản lý tài sản cố định; Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định; Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định vô hình; các nội dung về xác định nguyên giá TSCĐ, nguyên tắc quản lý và phân loại tài sản cố định của doanh nghiệp; đầu tư nâng cấp, sửa chữa, cho thuê, cầm cố, thế chấp, nhượng bán, thanh lý TSCĐ cũng như quy định về trích khấu hao TSCĐ. Thông tư cũng quy định chi tiết cách xác định nguyên giá đối với trường hợp TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất và các trường hợp quyền sử dụng đất không được ghi nhận là TSCĐ vô hình...

Và một trong những nội dung thay đổi đáng chú ý được quy định tại Thông tư này liên quan đến tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ, đó là quy định nguyên giá TSCĐ phải được xác định một cách đáng tin cậy và có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên (quy định trước đây là 10 triệu đồng trở lên).

Mới đây, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 55/2013/TT-BTC quy định quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí thực hiện Đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.

Theo đó, Thông tư này quy định quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí thực hiện Đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 (sau đây viết tắt là Đề án) ban hành kèm theo Quyết định số 1780/QĐ-TTg ngày 12/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Đối tượng áp dụng Thông tư này là cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Đề án.

Nguồn kinh phí thực hiện Đề án là kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hàng năm của các cơ quan, đơn vị được phân công tổ chức thực hiện Đề án theo quy định hiện hành về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, trong đó: Kinh phí ngân sách trung ương hỗ trợ để thực hiện các hoạt động của Đề án ở trung ương do các Bộ, cơ quan trung ương trực tiếp thực hiện; Kinh phí ngân sách địa phương hỗ trợ để thực hiện các hoạt động của Đề án ở địa phương do các Sở, ban, ngành và Liên đoàn Lao động địa phương trực tiếp thực hiện. Và kinh phí huy động từ các nguồn lực xã hội, sự tham gia, đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác.

Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể về nội dung và mức chi từ nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ; Nội dung và mức chi từ nguồn kinh phí huy động từ các nguồn lực xã hội, sự tham gia, đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác; Lập, phân bổ dự toán, quản lý và quyết toán. Cụ thể:

Chi hỗ trợ truyền thanh tại khu công nghiệp và địa bàn có đông công nhân, bao gồm: Hỗ trợ ấn phẩm, sản phẩm truyền thông để làm tài liệu biên tập phát thanh; Truyền thanh (biên tập, phát thanh): Biên tập 75.000 đồng/trang 350 từ; Bồi dưỡng phát thanh viên: 15.000 đồng/lần nhưng không quá 02 lần/ngày.

Chi hỗ trợ phát triển phong trào văn hóa, thể thao trong công nhân góp phần nâng cao mức hưởng thụ về văn hoá tinh thần của công nhân ở các khu công nghiệp, bao gồm: Chi tổ chức cuộc thi, hội diễn văn nghệ quần chúng; thi đấu các môn thể thao trong công nhân (cấp tỉnh, cấp khu vực một năm một lần, thời gian không quá 03 ngày; cấp quốc gia ba năm một lần, thời gian không quá 05 ngày), gồm: Chi hỗ trợ chi phí đi lại, thuê chỗ nghỉ, tiền ăn cho những người tham gia biểu diễn, thi đấu, thành viên Ban tổ chức ở xa nơi tổ chức: Nội dung và mức chi thực hiện theo quy định tại Thông tư số 97/2010/TT-BTC.

Bồi dưỡng thành viên Ban giám khảo cuộc thi: Mức chi tối đa 300.000 đồng/người/ngày; Bồi dưỡng thành viên Ban tổ chức, Ban thư ký cuộc thi: Mức chi tối đa 200.000 đồng/người/ngày.

Chi giải thưởng: Giải tập thể từ 500.000 đồng đến 4.000.000 đồng/giải thưởng; Giải cá nhân từ 200.000 đồng đến 2.000.000 đồng/giải thưởng.

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1539781?pers_id=2177014&item_id=91908374&p_details=1

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=91870174&p_details=1

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=91882411&p_details=1

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=91908602&p_details=1

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=91895196&p_details=1

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=91895327&p_details=1

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có tin: Ngày 6/5/2013, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nhận được đầy đủ tài liệu báo cáo phát hành cổ phiếu trả cổ tức năm 2012 theo Báo cáo phát hành cổ phiếu để trả cổ tức số 535/BC-TVĐ4 ngày 2/5/2013  của CtyCP Tư vấn Xây dựng Điện 4. Phương án phát hành cổ phiếu trả cổ tức được thực hiện theo Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên số 68/2013/NQ-ĐHĐCĐ ngày 25/4/2013 của Công ty và các quy định của pháp luật.

Ngày 4/5/2013, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) nhận được Báo cáo kết quả chào bán cổ phiếu của CtyCP Thiết bị Y tế Việt Nhật theo Giấy chứng nhận chào bán số 02/GCN-UBCK ngày 24/1/2013.

Theo báo cáo, tổng số cổ phiếu CtyCP Thiết bị Y tế Việt Nhật đã phát hành là 13.987.600 cổ phiếu. Trong đó phát hành để hoán đổi cổ phiếu cho cổ đông của CtyCP Kyoto Medical Science là 4.070.000 cổ phiếu và phát hành 9.917.600 cổ phiếu để chào bán cho cổ đông hiện hữu

http://www.ssc.gov.vn/portal/page/portal/ubck/1096905?pers_id=1095362&folder_id=&item_id=33394457&p_details=1

http://www.ssc.gov.vn/portal/page/portal/ubck/1096905?pers_id=1095362&folder_id=&item_id=33391994&p_details=1

Ngân hàng Nhà nước đăng tin: Sáng 11/5/2013, sau 10 ngày làm việc khẩn trương, dân chủ, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra. Hội nghị đã bầu bổ sung các đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Thiện Nhân vào Bộ Chính trị; bầu bổ sung đồng chí Trần Quốc Vượng vào Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI).

Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng và các đồng chí dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc vào các đề án, báo cáo. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua nội dung các nghị quyết, kết luận của Hội nghị.

Tổng Bí thư đã phát biểu làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả chủ yếu mà Hội nghị đã đạt được, cụ thể như sau:

Về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, qua trao đổi, thảo luận, Trung ương nhấn mạnh, củng cố, kiện toàn, từng bước hoàn thiện hệ thống chính trị là công việc rất lớn, hệ trọng và phức tạp, phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Vừa qua, chúng ta đã có nhiều cố gắng và đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém. Tổ chức bộ máy vẫn cồng kềnh, chồng chéo; biên chế vẫn phình to; chất lượng cán bộ, công chức chậm được nâng cao; hoạt động của toàn hệ thống có những khâu chưa thông suốt, hiệu lực, hiệu quả chưa cao...

Ngày 10/5/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức họp báo để thông tin về một số giải pháp điều hành chính sách tiền tệ (CSTT). Trong đó nội dung trọng tâm là việc ban hành Quyết định số 1073 ngày 10/5/2013 điều chỉnh giảm các mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm và Thông tư số 10 ngày 10/5/2013 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Đồng Tiến khẳng định, từ đầu năm 2013, NHNN đã tích cực triển khai các gói giải pháp của Chính phủ, nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, nhằm đảm bảo mức tăng trưởng hợp lý. Với những nỗ lực của các bộ, ngành, sau bốn tháng, mục tiêu kiềm chế lạm phát đã có những dấu hiệu tích cực. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 chỉ tăng 0,02% so với tháng trước đó; tăng 6,61% so với cùng kỳ năm 2012; tính chung 4 tháng đầu năm tăng 2,41% so với cuối năm 2012. Bên cạnh đó thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện, thị trường tài chính tiền tệ ổn định. Lãi suất huy động và cho vay của các TCTD tiếp tục giảm. Lãi suất thị trường liên ngân hàng ổn định ở mức thấp; tỷ giá được duy trì ổn định; dự trữ ngoại hối tiếp tục tăng trưởng ở mức cao.

Ngày 10/5/2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ký ban hành Quyết định số 1073/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng.

Theo đó, Lãi suất tái cấp vốn là 7,0%/năm; Lãi suất tái chiết khấu là 5,0%/năm; Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 8,0%/năm.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/5/2013 và thay thế Quyết định số 643/QĐ-NHNN ngày 25/3/2013 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng.

http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP01162517693&_afrLoop=142201126327200&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null

http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP01162517689&_afrLoop=142203414675200&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3Dnull%26_afrLoop%3D142203414675200%26dDocName%3DCNTHWEBAP01162517689%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Df9d7b0tu6_274

http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP01162517654

Tạp chí Tài chính đăng tin: Tái cơ cấu: Vì sao chưa nhiều đột phá?Khi các chính sách mới chỉ tập trung giải quyết các vấn đề ngắn hạn, đi vào “phần ngọn”, thì chắc chắn, công cuộc tái cơ cấu của Việt Nam vẫn chưa thể có nhiều đột phá.

Nhấn mạnh rằng, hàng loạt vấn đề trước mắt vẫn hết sức gay gắt, như: tồn kho, nợ xấu ngân hàng, mức cầu xã hội suy giảm…, Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Cao Viết Sinh cho biết, trong  năm qua, triển khai việc điều hành của Chính phủ đã tập trung thực hiện một số giải pháp về tái cơ cấu kinh tế, bao gồm: hỗ trợ doanh nghiệp, giải quyết hàng tồn kho, hỗ trợ thị trường.

Cùng với đó là các giải pháp tập trung tạm thời giảm chi phí tài chính cho một số nhóm doanh nghiệp (giãn hay hoãn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, giảm tiền thuê đất, giảm lãi suất…); bước đầu cơ cấu lại nguồn cung, chuyển đổi mục đích của hàng chục dự án nhà chung cư ở các thành phố lớn, tăng lượng cung và cầu về nhà ở xã hội và nhà ở phổ thông, hỗ trợ thị trường bất động sản; hướng dẫn cho vay hỗ trợ mua nhà ở, theo đó các ngân hàng thương mại nhà nước dành một lượng vốn để cho các đối tượng thu nhập thấp, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang vay để thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở phổ thông. Đồng thời, dự kiến dành từ 20.000 - 40.000 tỷ đồng thông qua tái cấp vốn với lãi suất hợp lý để hỗ trợ các ngân hàng thương mại thực hiện cho vay đối với các đối tượng trên.

Đối với tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2011 - 2015 của tất cả các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế và tổng công ty 91.

Tính đến hết năm 2012, cả nước sắp xếp được 27 DNNN, trong đó cổ phần hóa 16 doanh nghiệp, sáp nhập 5 doanh nghiệp, bán 3 doanh nghiệp và chuyển thành công ty TNHH một thành viên 3 doanh nghiệp. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án tái cơ cấu của 6/9 tập đoàn kinh tế và 8/10 tổng công ty 91; các Bộ quản lý ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đã phê duyệt đề án tái cơ cấu các doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý.

Riêng về lĩnh vực đầu tư công, tái cơ cấu chủ yếu được thực hiện theo Chỉ thị số 1792/CT-TTg. Kết quả sau gần hai năm thực hiện, đầu tư nhà nước đã được cắt giảm cả về số vốn và số dự án; phân bố vốn đầu tư tập trung hơn; khắc phục một bước tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải… 

Trong thời gian qua, Chính phủ chủ yếu nỗ lực soạn thảo các văn bản có liên quan, tạo khung khổ pháp lý để triển khai thực hiện tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Tuy vậy, Thứ trưởng Sinh cũng thừa nhận, các giải pháp có hiệu lực và được triển khai trên thực tế thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế nói chung và từng lĩnh vực ưu tiên nói riêng là chưa nhiều, chưa đáp ứng được mong đợi và kỳ vọng của xã hội.

Sáng ngày 10/5/2013, Cục Hải quan Bình Dương đã phối hợp cùng VCCI chi nhánh TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị đối thoại với Hiệp hội Doanh nghiệp (DN) Nhật Bản đầu tư tại Bình Dương lần I/2013 nhằm phổ biến các quy định mới về quy trình thủ tục hải quan, thủ tục cấp C/O, và giải đáp khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Tham dự Hội nghị có Lãnh đạo Cục, Lãnh đạo các đơn vị Khối tham mưu, các Chi cục Hải quan trực thuộc Cục Hải quan Bình Dương. Ngoài ra, tham dự Hội nghị có Ông Kakuro Sato- Phó Tổng lãnh sự quán Nhật Bản tại TP Hồ Chí Minh, Ông Yamamoto- Trưởng đại diện DN Nhật Bản tại Bình Dương, Đại diện Phòng VCCI chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, Đại diện cho khoảng 60 doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Dương và cơ quan báo đài như Đài Truyền hình Bình Dương, Thông tấn xã Việt Nam…

Trong những năm qua, mối quan hệ giữa Hải quan bình dương với DN nhìn chung đã có nhiều chuyển biến tích cực được thực hiện hóa trong cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa Hải quan nhằm tạo lập môi trường thương mại lành mạnh, bình đẳng, đồng thời đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật và nuôi dưỡng nguồn thu ổn định cho ngân sách Nhà nước.

Được biết, Nhật Bản là một trong những quốc gia và vùng lãnh thổ có số lượng các DN đến đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Đặc biệt, trong vài năm gần đây, thị trường Việt Nam không chỉ hấp dẫn các DN Nhật Bản đầu tư vào sản xuất mà trong lĩnh vực thương mại dịch vụ hạ tầng cũng đang được nhiều nhà đầu tư Nhật Bản quan tâm.

Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã có hơn 170 dự án của doanh nghiệp Nhật Bản còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư hơn 3,2 tỷ USD. Trong 3 năm qua, nguồn vốn đầu tư từ Nhật Bản gia tăng nhanh chóng. Cụ thể năm 2011, vốn đầu tư Nhật Bản chiếm 26% trong tổng vốn 1,12 tỷ USD vốn FDI đầu tư vào tỉnh; năm 2012, vốn đầu tư từ Nhật Bản chiếm đến 75,08% trong tổng số 2,84 tỷ USD vốn FDI đầu tư vào tỉnh; 3 tháng đầu năm 2013, Nhật Bản tiếp tục là một trong những quốc gia có vốn đầu tư lớn vào Bình Dương.

Tính riêng trong năm 2012, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đã đạt trên 25 tỉ USD và Nhật Bản tiếp tục là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam. Về đầu tư, tính đến cuối năm 2012, Nhật Bản đã đứng thứ nhất về đầu tư vào Việt Nam với hơn 1.800 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng kí 29 tỉ USD.

Qua những số liệu trên, cho thấy tầm quan trọng của các Doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam nói chung, trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng. Vì vậy, Lãnh đạo Cục Hải quan Bình Dương đã chỉ đạo cần chú trọng công tác tiếp xúc mời gọi, đối thoại thường xuyên và tích cực hưởng ứng cũng như phối hợp với các sở ban ngành trong tỉnh hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp Nhật Bản, thành lập một số hoạt động cục thể như: tổ tư vấn trực tuyến tại Khối tham mưu và tổ giải đáp vướng mắc ở các  đơn vị trực thuộc; Áp dụng quản lý rủi ro đối với hàng hóa XNK và chỉ tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa đối với các lô hàng mà cơ sở dữ liệu và kết quả thu thập thông tin cho thấy có khả năng, dấu hiệu vi phạm…

http://www.tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Tai-co-cau-Vi-sao-chua-nhieu-dot-pha/25323.tctc

http://www.tapchitaichinh.vn/Su-kien-Tai-chinh/Hai-quan-Binh-Duong-lang-nghe-va-dong-hanh-cung-Doanh-nghiep-Nhat-Ban/25342.tctc

(T.Hằng - tổng hợp)