Các báo ngành Tài chính ngày 19/12/2013

**Liên Bộ Tài chính - Công thương điều hành giá xăng dầu; **Tiếp tục đổi mới chính sách thuê đất đối với doanh nghiệp; **Áp dụng thuế suất riêng đối với DN nhỏ: Bước đột phá của Luật Thuế TNDN sửa đổi; **Bổ sung 05 hành vi vi phạm về kiểm tra hải quan, thanh tra thuế; giám sát và kiểm soát hải quan; **Dấu hỏi cho cổ phần hóa...

Các báo ngành Tài chính ngày 19/12/2013

Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính đăng tin: Căn cứ diễn biến giá xăng dầu thế giới và tình hình kinh tế xã hội trong nước; căn cứ văn bản đăng ký giá của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối, Liên Bộ Tài chính - Công Thương xin thông tin tới các cơ quan thông tin đại chúng và người dân biết và đồng thuận với công tác điều hành giá mặt hàng xăng dầu trong nước trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới biến động ở mức cao.

Theo đó, giá xăng dầu thế giới trong 30 ngày gần đây tiếp tục có biến động tăng và duy trì ở mức cao. Bình quân 30 ngày gần đây từ ngày 18/11/2013 đến 17/12/2013 giá xăng dầu thế giới cụ thể như sau: giá xăng RON 92: 114,52 USD/thùng; dầu điêzen 0,05S: 125,82 USD/thùng; dầu hỏa: 125,61 USD/thùng, dầu madut 180 cst: 609,36 USD/tấn.

Căn cứ nguyên tắc tính toán giá cơ sở theo các quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, Thông tư số 234/2009/TT-BTC thì giá bán hiện hành các mặt hàng xăng dầu đều thấp hơn giá cơ sở.

Trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới tiếp tục biến động ở mức cao như hiện nay, nguồn Quỹ Bình ổn giá không còn nhiều (số dư Quỹ ước đến hết ngày 10/12/2013 còn khoảng 72 tỷ đồng trong đó có 6 doanh nghiệp đã bị âm), căn cứ tình hình kinh tế xã hội trong nước; sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Công Thương, Bộ Tài chính thông báo điều hành giá xăng dầu trong nước như sau:

Thứ nhất, về nguyên tắc điều hành giá xăng dầu trong nước: Tiếp tục thực hiện thống nhất nguyên tắc điều hành đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp và Nhà nước.

Thứ hai, phương án điều hành cụ thể:

Về lợi nhuận định mức: trước mắt cắt giảm, không tính lợi nhuận định mức trong giá cơ sở đối với 3 mặt hàng: xăng, dầu điêzen, dầu hỏa (tạm tính lợi nhuận 0 đồng/lít).

Về Quỹ BOG:

Ngừng sử dụng Quỹ BOG với mặt hàng xăng, dầu điêzen.

Riêng mặt hàng dầu hỏa do sản lượng dầu hỏa bán trong nước không nhiều, hơn nữa mức chênh lệch giá cơ sở cao hơn giá bán hiện hành tính theo quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP lớn (1.414 đồng/lít); trước mắt tiếp tục cho phép doanh nghiệp được sử dụng Quỹ BOG với mặt hàng dầu hỏa như hiện hành (700 đồng/lít).

Phần chênh lệch còn lại, cho phép các doanh nghiệp được điều chỉnh tăng giá bán xăng, dầu trong nước, cụ thể:

Mặt hàng xăng: tăng tối đa 584 đồng/lít;

Mặt hàng dầu điêzen: tăng tối đa 653 đồng/lít;

Mặt hàng dầu hỏa: tăng tối đa 384 đồng/lít.

Mặt hàng dầu madut: có giá cơ sở thấp hơn giá bán hiện hành 109 đồng/kg. Chênh lệch không lớn do đó trước mắt giữ ổn định giá bán mặt hàng này như hiện hành.

Về thời gian thực hiện: Áp dụng từ 14 giờ 00 phút  ngày 18 tháng 12 năm 2013.

Doanh nghiệp luôn là bộ phận quan trọng và có tính chất quyết định đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội. Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt, tạo điều kiện và chủ động tháo gỡ khó khăn vướng mắc để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực đất đai, các doanh nghiệp đều bình đẳng, có quyền tiếp cận, được nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư, làm mặt bằng sản xuất kinh doanh và nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Tuy nhiên, về hình thức sử dụng đất, theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành có sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Với thời hạn sử dụng đất sản xuất kinh doanh như nhau (50 năm, tối đa không quá 70 năm), bên cạnh hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì doanh nghiệp nước ngoài được thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê và doanh nghiệp trong nước được giao đất có thu tiền sử dụng đất. Tương ứng với mỗi hình thức sử dụng đất thì nghĩa vụ tài chính đất đai về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là khác nhau. Mặc dù nguyên tắc chung, giá đất để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường. Nhưng do “độ trễ” và sự chưa đồng bộ trong chính sách pháp luật đã dẫn đến chưa bình đẳng giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước. Sau khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, cùng thời hạn sử dụng đất, nếu doanh nghiệp trong nước lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá thị trường; trong khi đó, đối với doanh nghiệp nước ngoài lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê thì giá tính tiền thuê đất là giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định và công bố hàng năm thấp hơn so với giá trị trường. Nhận thức được điều này, Chính phủ đã kịp thời điều chỉnh tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, Nghị định số 121/2010/NĐ-CP theo đó, doanh nghiệp thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê thì tiền thuê đất phải nộp tương đương với giao đất có thu tiền sử dụng đất với cùng thời hạn. Và để giải quyết một cách căn bản, triệt để, tại Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) đã quy định đối với đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, doanh nghiệp được lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, không phân biệt trong nước hay nước ngoài.

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng và đang vận động các nước công nhận là một nước có một nền kinh tế thị trường đầy đủ thì nhà nước cần phải có chính sách đảm bảo hệ thống doanh nghiệp được vận động, hoạt động theo cơ chế thị trường. Đất đai là một trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất cũng phải từng bước tiệm cận với thị trường. Trước đây, nhằm tạo điều kiện và khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam thông qua yếu tố chi phí đầu vào thấp, tiền thuê đất được xác định trên cơ sở tỷ lệ (%) nhất định của giá đất tại Bảng giá đất do nhà nước quy định và công bố hàng năm, thường thấp hơn so với thị trường và giá thuê đất của các nước trong khu vực. Nhưng cũng chính vì điều này, sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam thường xuyên bị kiện bán phá giá do được hưởng trợ cấp của nhà nước thông qua cơ chế giá đất thấp. Vì vậy, Chính phủ đã từng bước điều chỉnh đơn giá thuê đất bằng việc điều chỉnh tỷ lệ (%) và giá đất tính tiền thuê đất tiến tới sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường.

Luật đất đai (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 đã “luật hóa” nguyên tắc thị trường khi xác định tiền thuê đất. Theo đó, giá đất để xác định đơn giá thuê đất được xác định phù hợp với giá thị trường và đơn giá thuê đất được ổn định 5 năm, hết chu kỳ ổn định thì mới thực hiện điều chỉnh. Đối với tỷ lệ (%) giá đất để xác định đơn giá thuê đất sẽ được quy định phù hợp từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của đất nước; một mặt tạo điều kiện để doanh nghiệp ổn định chi phí về đất một cách hợp lý trong cơ cấu giá thành sản phẩm; mặt khác cũng là công cụ để buộc các doanh nghiệp chủ động có phương án sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, tránh tình trạng sử dụng đất đai lãng phí, không đúng mục đích, cho thuê lại đất không đúng quy định.

Đồng thời, đối với việc xác định giá đất tính tiền thuê đất theo thị trường, do khối lượng doanh nghiệp thuê đất trả tiền hàng năm là rất lớn, cần phải tiếp tục cải cách thủ tục hành chính vừa giảm áp lực cho phía cơ quan quản lý nhà nước vừa đảm bảo yêu cầu công khai, minh bạch, tránh tiêu cực. Việc sử dụng hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất tính tiền thuê đất (khi hết chu kỳ ổn định) thời gian qua đã chứng minh đây là công cụ đơn giản, hiệu quả, giảm chi phí cho cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp. Thời gian tới, hệ số điều chỉnh giá đất sẽ được sử dụng mở rộng áp dụng cả đối với các trường hợp được nhà nước cho thuê đất mới không thông qua đấu giá. Chỉ đối với một số trường hợp đặc biệt thực hiện xác định giá đất cụ thể. Tuy nhiên, cần phải có quy định để hệ số điều chỉnh giá đất không trở thành công cụ nhằm cạnh tranh, thu hút đầu tư không tích cực giữa các địa phương.

Ngoài ra, về chính sách ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất, cũng cần phải rà soát lại đảm bảo tính đồng bộ giữa pháp luật về đầu tư và pháp luật về đất đai. Xác định rõ đối tượng được hưởng ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất. Việc ưu đãi phải thực chất và chỉ thực hiện ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội, bảo vệ môi trường; đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn với mức độ miễn, giảm tiền thuê đất (thời gian) một cách hợp lý, phù hợp tránh tâm lý trông chờ, dựa vào ưu đãi của nhà nước.

Để có thể hiện thực hóa được các nội dung nêu trên, cần có sự phối hợp tích cực, hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan và sự quan tâm, hướng ứng, tham gia một cách có trách nhiệm của đội ngũ doanh nghiệp trong xây dựng, thực thi chính sách pháp luật về đất đai nói chung và chính sách thuê đất nói riêng.

Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, thị trường tiêu thụ hàng hóa tăng trưởng chậm, hàng tồn kho vẫn còn ở mức cao, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngay từ những ngày đầu năm 2013 Chính phủ, các Bộ ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đã triển khai hàng loạt giải pháp nhằm mục tiêu phục hồi và tăng trưởng nền kinh tế trong nước.

Đối với các nhóm giải pháp về thuế, việc sửa đổi, bổ sung Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và Luật Thuế Giá trị gia (GTGT) theo hướng giảm nghĩa vụ thuế cho một số đối tượng doanh nghiệp, tạo thuận lợi nhất cho doanh nghiệp phát triển trong bối cảnh nền kinh tế đang khó khăn đã được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao về tinh thần cầu thị, đổi mới và kịp thời.

Để quy định mới của Luật được áp dụng kịp thời, ngày 13/8/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2013/ NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều được áp dụng từ ngày 1/7/2013 của hai bộ Luật trên. Ngày 16/10/2013, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 141/20013/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 92/2013/NĐ-CP. Nội dung chủ yếu của chính sách này tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:

Về giảm thuế suất thuế TNDN cho một số đối tượng doanh nghiệp, quy định doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có tổng doanh thu năm (lấy theo số liệu của năm trước liền kề) không quá 20 tỷ đồng được áp dụng thuế suất thuế TNDN 20% kể từ ngày 1/7/2013. Ngoài ra còn có quy định doanh nghiệp thực hiện đầu tư – kinh doanh nhà ở xã hội được áp dụng thuế suất thuế TNDN 10% đối với phần thu nhập từ bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội phát sinh từ ngày 1/7/2013.

Quy định này nhằm tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ. Việc áp dụng thuế suất riêng đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ là một bước đột phá của Luật Thuế TNDN sửa đổi, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với đối tượng này, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng tích tụ nhiều hơn, tiếp tục mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh.

Bộ Tài chính vừa có Quyết định số 3016/QĐ-BTC về việc công bố công khai số liệu dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2014. Theo đó, dự toán bội chi NSNN năm 2014 Bộ Tài chính đưa ra là 224 nghìn tỉ đồng, bằng 5,3% GDP.

Theo dự toán, tổng thu cân đối NSNN năm 2014 là 782,7 nghìn tỉ đồng. Trong đó, thu nội địa chiếm 539 nghìn tỉ, từ dầu thô 85,2 nghìn tỉ, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 154 nghìn tỉ và thu viện trợ là 4,5 nghìn tỉ.

Bên cạnh đó, mức chi dự toán được đưa ra là 1.006,7 nghìn tỉ đồng. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 163 nghìn tỉ đồng, chi trả nợ và viện trợ là 120 nghìn tỉ đồng, chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính là 704,4 nghìn tỉ đồng, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100 tỉ đồng và dự phòng là 19,2 nghìn tỉ đồng.

Về cân đối thu chi dự toán ngân sách Trung ương: thu ngân sách TW là 495,189 nghìn tỉ đồng; Chi ngân sách TW là 719,189 nghìn tỉ đồng. Vay bù đắp bội chi NSNN là 224 nghìn tỉ đồng.

Về ngân sách địa phương: Thu ngân sách địa phương là 499,096 nghìn tỉ đồng; Chi ngân sách địa phương là 499,096 nghìn tỉ đồng.

Xem chi tiết:

http://mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1539781?pers_id=2177014&item_id=115898265&p_details=1

http://mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=115819023&p_details=1

http://mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=115802070&p_details=1

http://mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=115821389&p_details=1

Tạp chí Thuế đăng bài: Bộ Tài chính vừa có Quyết định số 3016/QĐ-BTC về việc công bố công khai số liệu dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2014. Theo đó, dự toán bội chi NSNN năm 2014 Bộ Tài chính đưa ra là 224 nghìn tỉ đồng, bằng 5,3% GDP.

Theo dự toán, tổng thu cân đối NSNN năm 2014 là 782,7 nghìn tỉ đồng. Trong đó, thu nội địa chiếm 539 nghìn tỉ, từ dầu thô 85,2 nghìn tỉ, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 154 nghìn tỉ và thu viện trợ là 4,5 nghìn tỉ.
 
Bên cạnh đó, mức chi dự toán được đưa ra là 1.006,7 nghìn tỉ đồng. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 163 nghìn tỉ đồng, chi trả nợ và viện trợ là 120 nghìn tỉ đồng, chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính là 704,4 nghìn tỉ đồng, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100 tỉ đồng và dự phòng là 19,2 nghìn tỉ đồng.
 
Về cân đối thu chi dự toán ngân sách Trung ương: thu ngân sách TW là 495,189 nghìn tỉ đồng; Chi ngân sách TW là 719,189 nghìn tỉ đồng. Vay bù đắp bội chi NSNN là 224 nghìn tỉ đồng.
 
Về ngân sách địa phương: Thu ngân sách địa phương là 499,096 nghìn tỉ đồng; Chi ngân sách địa phương là 499,096 nghìn tỉ đồng.
 
Xem chi tiết:
 
 
Tổng cục hải quan vừa công bố danh sách 06 sự kiện công nghệ thông tin (CNTT)  nổi bật của ngành trong năm 2013. 
1. Triển khai hệ thống thông quan tự động và cơ chế một cửa quốc gia - VNACCS/VCIS. 
 
Trong năm 2013, Tổng cục Hải quan đã hoàn thành thiết kế chi tiết hệ thống VNACCS/VCIS, đồng thời đã nâng cấp các hệ thống CNTT hiện có, chuyển đổi từ mô hình xử lý phân tán sang mô hình xử lý tập trung. Từ ngày 15/11/2013, Tổng cục Hải quan đã tổ chức chạy thử hệ thống VNACCS/VCIS trên toàn quốc. Đợt chạy thử nhằm giúp DN, công chức hải quan và tất cả các bên liên quan thực hành sử dụng thành thạo các quy trình nghiệp vụ hải quan trên hệ thống VNACCS/VCIS, góp phần giảm thiểu các khó khăn, vướng mắc khi vận hành chính thức hệ thống từ tháng 4/2014.
 
2. Thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong toàn ngành.
 
Trong năm 2013, ngành hải quan đã hoàn thành việc triển khai thủ tục hải quan điện tử cho 34 cục hải quan tỉnh, thành phố và 148 chi cục hải quan. Đến nay đã có 48.514 DN thực hiện thủ tục hải quan, bằng 95,66% số lượng DN có hoạt động xuất nhập khẩu trên toàn quốc. Tổng số tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử đạt gần 5 triệu tờ khai, chiếm 92,92% tổng số tờ khai hải quan. Kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện qua thủ tục hải quan điện tử đạt 228,74 tỷ USD, chiếm 95,20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc.
 
3. Áp dụng chữ ký số trong thủ tục hải quan điện tử.
 
Theo Quyết định số 2341/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, từ ngày 01/11/2013, các DN sẽ sử dụng chữ ký số trong thủ tục hải quan điện tử. Khi sử dụng chữ ký số thay cho việc sử dụng tài khoản khai hải quan điện tử, DN sẽ được hưởng lợi thông qua việc cơ quan hải quan dễ dàng xác thực các đối tượng khai báo; dữ liệu gửi đến mang tính chính xác và bảo mật cao, tránh được tình trạng giả mạo, truyền thông tin tờ khai vì đã được chứng thực bởi các nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số. Với những lợi ích đó, nên đến ngày 25/11/2013, đã có 46,42% giao dịch sử dụng chữ ký số trong thủ tục hải quan điện tử và phấn đấu hết quý IV/2013 sẽ hoàn thành 100% giao dịch sử dụng chữ ký số.
 
4. Hoàn thành hệ thống tiếp nhận bản khai hàng hóa và thông quan điện tử đối với tàu biển xuất, nhập cảnh 
 
Từ ngày 01/8/2013, ngành hải quan triển khai tiếp nhận 100% hồ sơ điện tử tàu biển (e-Manifest) tại các đơn vị hải quan thuộc Cục Hải quan TP. HCM và 8 cục hải quan khác. Tính đến ngày 15/11/2013, ngành hải quan đã tiếp nhận được 4.831 hồ sơ và đã có 43 hãng tàu, 335 đại lý hãng tàu và hơn 1.218 công ty giao nhận trên cả nước đã tham gia hệ thống e-Manifest. Việc triển khai hệ thống e-Manifest đã góp phần giảm thiểu thủ tục hành chính về hải quan đối với tàu vận tải xuất nhập cảnh. Các chi cục hải quan sẽ có thông tin trước về hàng hoá đến cảng. Các hãng tàu cũng rút ngắn thời gian lưu tàu tại cảng, do không phải in và nộp bản giấy manifest giúp giảm thời gian và chi phí phát sinh. Trong khi đó, DN khai thác cảng giải phóng được tàu nhanh, tổ chức xếp dỡ hàng hoá đúng kế hoạch.
 
5. Mở rộng cổng thanh toán điện tử 
 
Nhờ triển khai cổng thanh toán điện tử mà thông tin về số thu vào NSNN trước đây kéo dài từ 3 đến 7 ngày, nay chỉ trong 1 ngày, bước đầu đáp ứng được công tác hiện đại hóa công tác thu NSNN và phục vụ tốt các đối tượng nộp tiền vào NSNN.
 
6. Triển khai hoạt động của Trung tâm Quản lý vận hành hệ thống CNTT hải quan
 
Ngày 03/12/2013, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2999/QĐ-BTC phê duyệt Đề án “Triển khai hoạt động của Trung tâm Quản lý vận hành hệ thống CNTT hải quan”. Mục tiêu của đề án là tổ chức quản lý, vận hành toàn bộ hệ thống ứng dụng CNTT tập trung ngành hải quan hoạt động thông suốt 24/7, đảm bảo an ninh, an toàn, đáp ứng các yêu cầu nghiệp vụ, thực hiện thủ tục hải quan điện tử và cơ chế một cửa quốc gia; duy trì hoạt động ổn định của hạ tầng truyền thông, kết nối các đơn vị trong ngành hải quan và các cơ quan có liên quan. Hơn nữa, việc triển khai đề án sẽ nâng tầm công tác quản lý, vận hành, xử lý thông tin điện tử hải quan, tạo nền tảng cho việc chuyển đổi căn bản phương pháp quản lý của ngành hải quan theo hướng hiện đại, phù hợp với định hướng chung của hải quan khu vực, thế giới và thực tiễn Việt Nam. 
 
Xem chi tiết:
 
Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong 11 tháng năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản đạt 22,94 tỉ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2012.
 
Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 12,37 tỷ USD, tăng 3,5% và nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Nhật Bản đạt 10,57 tỷ USD, giảm nhẹ 0,3%.
 
Như vậy, Việt Nam xuất siêu sang Nhật Bản đạt 1,8 tỉ USD.  Trong những năm gần đây, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam luôn xuất siêu/thặng dư trong buôn bán với Nhật Bản. Năm 2011, nước ta xuất siêu 0,4 tỉ USD; năm 2012 con số này là 1,5 tỉ USD và 11 tháng năm 2013, Việt Nam đã xuất siêu sang thị trường Nhật Bản 1,8 tỉ USD, tăng 33% so với con số ghi nhận được trong cùng kỳ năm 2012.
 
Thống kê cho thấy, từ nhiều năm qua, Nhật Bản luôn là thị trường thương mại quan trọng của Việt Nam, chiếm tỷ trọng lên đến 10% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam.
 
Tính đến hết tháng 11/2013, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Nhật Bản xếp thứ 4 trong tất cả các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; trong đó, xếp thứ 2 về xuất khẩu và xếp thứ 3 về nhập khẩu.
 
Các nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản bao gồm: Hàng dệt may, dầu thô, phương tiện vận tải và phụ tùng, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, hàng thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, sản phẩm từ chất dẻo, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện,...
 
Việt Nam nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ Nhật Bản chủ yếu là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, sắt thép và sản phẩm từ sắt thép, nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày, sản phẩm từ chất dẻo.  
 
Xem chi tiết:
 
 
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân vừa ký văn bản số 6617/UBND-TM gửi Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Tài chính; Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải về các giải pháp chống hành vi lợi dụng thủ tục hải quan điện tử để buôn lậu, gian lận thương mại. 
 
Theo Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện Nghị định số 87/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 của Chính phủ quy định về hải quan điện tử, cơ quan hải quan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Theo đó, kể từ ngày 01/01/2013, Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại 12/12 Chi cục trực thuộc. Nhờ vậy, thủ tục hải quan điện tử đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất nhập khẩu tạo thông thoáng cho sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế.
 
Xem chi tiết:
 
 
Tổng ngân sách ban đầu của Nhật Bản cho tài khoá 2014, bắt đầu từ tháng 4/2014, có thể đạt tổng cộng 96.000 tỷ yen, mức cao kỷ lục.
 
Nguồn tin chính phủ Nhật Bản ngày 16/12 cho biết Nội các của Thủ tướng Shinzo Abe dự kiến sẽ thông qua dự thảo ngân sách 2014 vào ngày 24/12 sau khi đạt được những dàn xếp với đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền do ông Abe lãnh đạo và đối tác trong liên minh, đảng Công minh Mới (NKP).
 
Đối với tài khoá 2014, chính phủ hy vọng sẽ đạt được mục tiêu tài khoá hàng năm như duy trì mức phát sinh nợ thấp so với năm trước trong khi lợi nhuận từ thuế dự kiến sẽ tăng nhờ sự phục hồi kinh tế và lộ trình tăng thuế theo kế hoạch.
 
Nếu chính quyền Abe đạt được những mục tiêu về kế hoạch phục hồi tài chính trung hạn công bố vào tháng 8/2013, điều này sẽ mở đường cho quá trình khôi phục sức khoẻ nền tài chính bấp bênh của Nhật Bản, vốn là nước có nền tài chính èo uột nhất trong số các nước công nghiệp.
 
Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng chính phủ Nhật Bản vẫn cần phải cắt giảm mạnh chi tiêu vì vậy Tokyo có thể sẽ phải đối mặt với khó khăn lớn để đáp ứng đủ cho việc soạn thảo ngân sách sau tài khoá 2015.
 
Theo dự thảo ngân sách mới, chi tiêu cho chính sách của Nhật Bản năm 2014, sẽ tập trung vào các chương trình an sinh xã hội và các dự án công ích, có thể sẽ tăng lên mức cao lỷ lục 73.000 tỷ yen.
 
Thu nhập từ thuế của chính phủ dự kiến đạt mức tối đa 50.000 tỷ yen trong tài khoá 2014, tăng khoảng 7.000 tỷ yen so với ngân sách ban đầu của tài khoá 2013 nhờ thuế suất tăng lên 8% từ mức 5% hiện nay vào tháng 4/2014 và lợi nhuận từ thuế doanh nghiệp có thể sẽ tăng.
 
Xem chi tiết:
 
 
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đăng tin: Ngày 16/12/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có Quyết định số 2953/QĐ-NHNN về việc bổ sung hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác vào Giấy phép của Ngân hàng Far East National Bank – Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.

Theo đó, Thống đốc NHNN chấp thuận bổ sung hoạt động “Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác” vào nội dung hoạt động ghi tại Điều 3 Giấy phép mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 03/NHNN-GP ngày 20/5/2004 do Thống đốc NHNN cấp cho Ngân hàng Far East National Bank – Chi nhánh TP Hồ Chí Minh.

Khi triển khai các hoạt động nêu trên, Ngân hàng Far East National Bank – Chi nhánh TP Hồ Chí Minh có trách nhiệm đáp ứng đầy đủ các điều kiện và quy định có liên quan tại THông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013 của NHNN quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và các quy định của pháp luật khác có liên quan; Đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nội dung hoạt động đã được bổ sung; Công bố nội dung hoạt động đã được bổ sung trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Khoản 4 Điều 29 Luật các tổ chức tín dụng.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và là một bộ phận không tách rời của Giấy phép mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 03/NHNN-GP ngày 20/5/2004 do Thống đốc NHNN cấp cho Ngân hàng Far East National Bank – Chi nhánh TP Hồ Chí Minh.

Ngày 18/12/2013, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng năm 2014. Hội nghị đã vinh dự được đón Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tới dự và chỉ đạo Hội nghị.

Tham dự Hội nghị có đại diện Lãnh đạo của các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ủy Ban giám sát Tài chính quốc gia, các Bộ, Ngành, Ban Lãnh đạo NHNN, đại diện Đảng ủy Cơ quan NHTW, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Công đoàn NHNN, Công đoàn NHTW, Đoàn Thanh niên NHTW; Ban Lãnh đạo Cơ quan Thanh tra giám sát Ngân hàng; Thủ trưởng các đơn vị tại Trụ sở chính NHNN, đơn vị sự nghiệp, Văn phòng đại diện NHNN tại TP. Hồ Chí Minh; Giám đốc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố, Giám đốc các đơn vị trực thuộc NHNN, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc các ngân hàng thương mại (NHTM), Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tín dụng (TCTD) 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, công ty tài chính...         

Xem chi tiết:

http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP0116211752945&_afrLoop=814281054664500&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3Dnull%26_afrLoop%3D814281054664500%26dDocName%3DCNTHWEBAP0116211752945%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Dkevuyiyrm_129

http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP0116211752952&_afrLoop=814285286451200&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3Dnull%26_afrLoop%3D814285286451200%26dDocName%3DCNTHWEBAP0116211752952%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Dkevuyiyrm_254

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đăng tin: Để hoàn tất thủ tục xin cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thông báo các cá nhân có tên trong danh sách kèm theo nộp lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán theo quy định của Quyết định 510/QĐ-UBCK ngày 11/08/2009 về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư 134/2009/TT-BTC ngày 01/07/2009 của Bộ Tài chính, cụ thể:

Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán: 1 triệu đồng/1 người.

Việc nộp lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán được thực hiện theo hình thức sau:

- Bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số 3511 của Cơ quan Uỷ ban Chứng khoán Nhà nuớc (mã đơn vị sử dụng ngân sách: 1059481) mở tại Kho bạc Nhà nước thành phố Hà Nội, nội dung nộp ghi rõ “nộp lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán cho… (tên người được cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán), số chứng minh thư nhân dân/ hộ chiếu”.

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước thông báo để cá nhân có tên trong danh sách kèm theo được biết và thực hiện.

Ngày 16/12/2013, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) nhận được báo cáo kết quả chào bán cổ phần riêng lẻ theo Báo cáo kết quả chào bán ngày 12/12/2013 của Công ty Cổ phần Dệt Hòa Khánh Đà Nẵng. Theo đó, Công ty Cổ phần Dệt Hòa Khánh Đà Nẵng đã thực hiện chào bán 500.000 cổ phiếu, chiếm 100% tổng số cổ phiếu dự kiến chào bán.

Ngày 11/12/2013, UBCKNN nhận được đầy đủ tài liệu báo cáo bán cổ phiếu quỹ của CTCP Thế giới số Trần Anh theo phương án đã được thông qua tại Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên số 01/NQ-ĐHĐCĐ ngày 17/4/2013, Nghị quyết HĐQT số 06/2013/NQ-HĐQT ngày 10/12/2013 và Báo cáo giao dịch cổ phiếu quỹ số 29/2013/TB-HĐQT ngày 10/12/2013, theo đó:

+ Số lượng cổ phiếu đăng ký bán: 652.580 cổ phiếu;

+ Thời gian dự kiến giao dịch: Tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày bắt đầu thực hiện giao dịch theo qui định;

+ Phương thức giao dịch: Thỏa thuận trong hệ thống;

+ Giá bán: 49.337 đồng/cổ phiếu;

+ Công ty chứng khoán được chỉ định thực hiện giao dịch: CTCP Chứng khoán Sài GonX

Xem chi tiết:

http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidstincongbo/vichitiet102?dDocName=APPSSCGOVVN162085243&_afrLoop=53234121517898#%40%3F_afrLoop%3D53234121517898%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162085243%26_adf.ctrl-state%3D122a64cv8a_134

http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidsphathanh/vidsphathanhriengle/vichitiet110?dDocName=APPSSCGOVVN162085242&_afrLoop=53236293638898#%40%3F_afrLoop%3D53236293638898%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162085242%26_adf.ctrl-state%3D122a64cv8a_151

http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidsphathanh/vidsphathanhracongchung/vichitiet106?dDocName=APPSSCGOVVN162085241&_afrLoop=53241662614898#%40%3F_afrLoop%3D53241662614898%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162085241%26_adf.ctrl-state%3D122a64cv8a_173

Tạp chí Tài chính đăng tin:  Mới đây, Cục Thuế tỉnh Long An đã có Văn bản số 2098/CT-TTHT nhằm giải đáp cho cộng đồng doanh nghiệp (DN) trên địa bàn nắm rõ hơn về các chính sách và thủ tục thuế mới được Bộ Tài chính ban hành.Theo Cục Thuế tỉnh Long An, DN xác định kỳ tính thuế theo Khoản 2, 3, Điều 3, Chương II Thông tư 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài Chính.

Theo đó, kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch. Kỳ tính thuế đầu tiên đối với DN mới thành lập và kỳ tính thuế cuối cùng đối với DN chuyển đổi loại hình DN, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản được xác định phù hợp với kỳ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán.

Cũng theo Thông tư trên, đối với trường hợp chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản có thời gian ngắn hơn 03 tháng thì được cộng với kỳ tính thuế năm tiếp theo (đối với DN mới thành lập) hoặc kỳ tính thuế năm trước đó (đối với DN chuyển đổi loại hình DN, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản) để hình thành một kỳ tính thuế thu nhập DN. Kỳ tính thuế thu nhập DN năm đầu tiên hoặc kỳ tính thuế thu nhập DN năm cuối cùng không vượt quá 15 tháng.

Ngoài ra, tại Khoản 3, Điều 13 Luật Kế toán số 03/2003/QH11 của Quốc hội quy định đơn vị kế toán khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu thì kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này đến hết ngày trước ngày ghi trên quyết định chuyển đổi có hiệu lực.

Xem chi tiết:

http://www.tapchitaichinh.vn/Bo-Tai-chinh-tra-loi/To-khai-quyet-toan-thue-doi-voi-doanh-nghiep-chuyen-doi/38862.tctc

Chú trọng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật thuế đến các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh là một trong những biện pháp trọng yếu giúp Cục Thuế Hà Giang đạt được kết quả cao trong việc thu ngân sách.

Trong năm 2013, tình hình kinh tế - xã hội cả nước nói chung và của tỉnh Hà Giang nói riêng đều gặp nhiều khó khăn: nền kinh tế phát triển không ổn định, việc cắt giảm đầu tư công của Nhà nước tiếp tục thực hiện…

Điều này đã gây khó khăn cho doanh nghiệp (DN) khi tiếp cận nguồn vốn và tổ chức sản xuất kinh doanh, nhất là đối với các DN nhỏ và vừa. Mặt khác, quy mô sản xuất của các DN còn nhỏ, năng suất thấp, chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm hàng hoá chưa cao.

Trong bối cảnh đó, từ đầu năm 2013, ngành thuế Hà Giang đã đề ra nhiều giải pháp thu quyết liệt, nhằm phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước (NSNN).     

Cụ thể, Cục Thuế Hà Giang đã chỉ đạo Chi cục Thuế các huyện, thành phố, các phòng nghiệp vụ chức năng thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý thu thuế, đặc biệt thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài chính tại Chỉ thị số 02/CT-BTC ngày 08/8/2013 về việc tăng cường công tác quản lý thu ngân sách. Bên cạnh đó, toàn ngành thuế đã tập trung chỉ đạo triển khai công tác thanh tra, kiểm tra về thuế; lựa chọn những DN có số thu lớn, những lĩnh vực ngành nghề có rủi ro cao về thuế cần tập trung thanh tra, kiểm tra.

Ngoài ra, kịp thời xử lý ngay những vấn đề vướng mắc trong quá trình thanh tra, kiểm tra, thu hồi nợ đọng và xử lý thu ngay các khoản thu phát sinh vào ngân sách theo quy định.

Nhờ những biện pháp tích cực như trên, tính hết tháng 11/2013, ngành Thuế tỉnh Hà Giang đã thu nộp NSNN trên 756 tỷ đồng, hoàn thành dự toán pháp lệnh Trung ương cũng như địa phương giao, tăng 20 % so với cùng kỳ. Trong đó, 6 đơn vị đã hoàn thành dự toán pháp lệnh gồm: Văn phòng Cục Thuế đạt 128 %; các Chi cục Thuế: Bắc Mê đạt 111%, Vị Xuyên đạt 111%, Yên Minh đạt 107 %, thành phố Hà Giang đạt 101 %, Quang Bình đạt 100%, các đơn vị còn lại đều có sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ.

Xem chi tiết:

http://www.tapchitaichinh.vn/Su-kien-Tai-chinh/Cuc-Thue-Ha-Giang-Phat-huy-hieu-qua-cong-tac-tuyen-truyen/38878.tctc

Đối với nhóm hành vi vi phạm về kiểm tra hải quan, thanh tra thuế; giám sát hải quan; kiểm soát hải quan, Nghị định 127/2013/NĐ-CP bổ sung thêm 05 hành vi vi phạm.

05 hành vi vi phạm được bổ sung là:

- Sử dụng phần mềm khai hải quan điện tử chưa được cơ quan hải quan xác nhận tương thích với hệ thống xử lý dữ liệu hải quan điện tử (Điều 10).

- Không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, đúng thời hạn chứng từ, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh khi cơ quan hải quan yêu cầu theo quy định của pháp luật (Điều 10).

-  Sử dụng tài khoản truy cập, chữ ký số được cấp cho tổ chức, cá nhân khác để thực hiện thủ tục hải quan điện tử (Điều 10).

- Lưu giữ hàng hoá kinh doanh tạm nhập - tái xuất không đúng địa điểm quy định (Điều 11).

-  Đưa phương tiện vận tải nước ngoài qua lại biên giới đất liền không đúng tuyến đường, cửa khẩu quy định (Điều 12).

Bên cạnh đó, Nghị định 127/2013/NĐ-CP còn sửa đổi định danh một số hành vi vi phạm, cụ thể:

- Sửa đổi định danh hành vi “Giả mạo niêm phong hải quan, giấy tờ thuộc hồ sơ hải quan để xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá mà không phải là tội phạm” thành “Giả mạo niêm phong hải quan; nộp, xuất trình chứng từ, tài liệu giả mạo cho cơ quan hải quan nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” để bao quát các trường hợp phát sinh khác có thể xảy ra trong thực tế.

- Sửa đổi định danh hành vi “Di chuyển phương tiện vận tải chở hàng hoá quá cảnh, chuyển cảng, chuyển khẩu, chuyển cửa khẩu không đúng tuyến đường, địa điểm, cửa khẩu, thời gian quy định hoặc đăng ký trong hồ sơ hải quan mà không có lý do xác đáng” thành “Vận chuyển hàng hoá quá cảnh, chuyển cảng, chuyển khẩu, chuyển cửa khẩu, hàng kinh doanh tạm nhập – tái xuất không đúng tuyến đường, địa điểm, cửa khẩu, thời gian quy định hoặc đăng ký trong hồ sơ hải quan mà không có lý do xác đáng” cho sát với bản chất của hành vi vi phạm.

Xem chi tiết:

http://www.tapchitaichinh.vn/Cai-cach-va-hien-dai-hoa-Hai-quan/Bo-sung-05-hanh-vi-vi-pham-ve-kiem-tra-hai-quan-thanh-tra-thue-giam-sat-va-kiem-soat-hai-quan/38857.tctc

Cổ phần hóa là phần việc quan trọng trong công cuộc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Tuy nhiên tiến độ cổ phần hóa chậm chạp trong những năm gần đây đã dấy lên nhiều quan ngại về quyết tâm cổ phần hóa của một bộ phận DNNN.

Tại Diễn đàn DN 2013 tổ chức đầu tháng 12-/2013, ông Trần Anh Đức, Nhóm Công tác Đầu tư và Thương mại cho rằng: Tốc độ cổ phần hóa đã giảm mạnh trong những năm vừa qua: Từ hơn 800 DN được cổ phần hóa trong năm 2004-2005 đã giảm xuống còn 13 DN vào năm 2012. Thực tế này đặt ra câu hỏi lớn về tiến độ cổ phần hóa trong các năm tiếp theo.

Còn theo báo cáo chính thức của Chính phủ, năm 2012 cổ phần hóa được 13 DN, 9 tháng đầu năm 2013 cổ phần hóa được 27 DN. Số DN 100% vốn Nhà nước giảm từ 5.655 DN năm 2001 đến nay đã giảm còn 1.257 DN. Nếu tính từ 1990 đến nay, số lượng DNNN đã giảm đáng kể (từ 12.000 DNNN)

Nhìn vào việc giảm nhanh số lượng DNNN 20 năm qua, có thể thấy đó như một thành tích. Nhưng đi sâu phân tích tiến độ cổ phần hóa những năm gần đây thì thấy rằng: Cổ phần hóa đang đi lùi.

Báo cáo của Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận: Việc cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành của DNNN còn chậm và gặp những khó khăn, vướng mắc do không có đủ nguồn lực để hỗ trợ tài chính và những cản trở bởi khuôn khổ pháp lí.

TS.Nguyễn Đình Cung, Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương cho rằng: Cổ phần hóa không tiến triển nhiều; thoái vốn gặp khó khăn trên nhiều mặt, chậm nhiều so với yêu cầu. Nguyên nhân là do tư duy, tiêu chí và cách thức thực hiện bảo toàn và phát triển vốn chưa phù hợp với cơ chế thị trường. Mặt khác, một số phương thức bảo toàn vốn theo quy định hiện hành còn hình thức và thiếu linh hoạt, làm tăng chi phí hoạt động của DN; chưa thật sự thúc đẩy DN đổi mới công nghệ, kinh doanh sáng tạo và cẩn trọng để bảo toàn vốn và phát triển vốn.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, cổ phần hóa, thoái vốn chậm thì chưa thể thay đổi vai trò, chưa thể thu hẹp phạm vi kinh doanh của DNNN, chỉ  tập trung vào các lĩnh vực chính gồm công nghiệp quốc phòng, các ngành, lĩnh vực công nghiệp độc quyền tự nhiên hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan tỏa lớn như kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI.

Xem chi tiết:

http://www.tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Dau-hoi-cho-co-phan-hoa/38870.tctc

Tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) luỹ kế 11 tháng ước đạt 700 nghìn tỷ đồng, bằng 85,6% dự toán. Trong đó, số thu nội địa ước đạt 462 nghìn tỷ đồng, bằng 84,6% dự toán, tăng 14,5% so cùng kỳ; số thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 200 nghìn tỷ đồng, bằng 83,8% dự toán, tăng 12,7% so cùng kỳ. Ðiều đáng lo ngại là theo đánh giá của ngành Tài chính, chỉ có gần 50% số địa phương bảo đảm được tiến độ thu theo dự toán (tối thiểu đạt 92%), 33 địa phương còn lại thu không đạt tiến độ.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, trong số các địa phương không đạt tiến độ thu NSNN, có nhiều địa bàn trọng điểm thu, có số thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN. Tại Cục Thuế tỉnh Ðồng Tháp, số thu nội địa hiện cũng chỉ mới đạt 84,52% dự toán UBND tỉnh giao, các khoản thu, sắc thuế đều đạt thấp. Tại Cục Thuế TP. Hà Nội, số thu chỉ mới đạt hơn 60% dự toán năm, bằng 90,2% so cùng kỳ.

"Chúng tôi đang ở đỉnh điểm của khó khăn, khi 11 tháng qua đã có tới gần 10 nghìn DN (DN) trên địa bàn ngừng giao dịch thuế. Tuy có hơn 12 nghìn DN thành lập mới, nhưng lại chưa phát sinh thuế phải nộp, hoặc có phát sinh nhưng số thuế thấp, làm giảm nguồn thu hàng nghìn tỷ đồng. Số thu thuế đã phản ánh rõ tình hình sản xuất, kinh doanh khó khăn của thành phố" - Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội Phi Vân Tuấn nói.

Theo lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội, bên cạnh những khó khăn bất khả kháng thì năm nay, công tác thu của ngành thuế Hà Nội còn phải "đương đầu" với thách thức lớn là dự toán thu năm nay được giao tăng tới 30,8% so với số thực hiện năm 2012. Số giao này trung bình gấp gần bốn lần tốc độ tăng trưởng GDP dự kiến đạt được (khoảng từ 8 đến 8,5%), còn ở một số khu vực, lĩnh vực thu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu thu thì số giao dự toán còn cao hơn nhiều (như khu vực DN FDI tăng 34,1%; khu vực DN ngoài quốc doanh tăng 42,3%; nguồn thu từ phí, lệ phí tăng 45,7%...) bởi những nguyên nhân này nên số thu NSNN của Cục Thuế Hà Nội hiện vẫn chưa đạt mức yêu cầu.

Xem chi tiết:

http://www.tapchitaichinh.vn/Su-kien-Tai-chinh/Doc-suc-hoan-thanh-nhiem-vu-thu-ngan-sach-nha-nuoc/38872.tctc

Báo Hải quan online đăng tin: Liên quan đến vụ việc lô hàng 229 kg heroin bị bắt giữ tại Đài Loan trên chuyến bay xuất cảnh từ sân bay Tân Sơn Nhất (TP.HCM), dư luận gần đây có đề cập đến việc ngành Hải quan thực hiện phân luồng hàng hóa trong thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) và quản lí rủi ro (QLRR).Để độc giả có cái nhìn rõ nét hơn và lí do vì sao ngành Hải quan phải thực hiện TTHQĐT và áp dụng QLRR, trong bài viết này chúng tôi đề cập đến 2 nghiệp vụ quan trọng đã và đang được ngành Hải quan áp dụng, với mục đích đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát triển của đất nước, đáp ứng các mục tiêu về hiện đại hóa do Chính phủ đặt ra, phù hợp với xu hướng phát triển của Hải quan các nước tiên tiến.

Khoảng 5 triệu bộ tờ khai hải quan, tương đương với đó là hàng triệu lô hàng XNK mỗi năm ở nước ta hiện nay, nếu Hải quan Việt Nam vẫn thực hiện việc tiếp nhận và xử lí tờ khai hải quan bằng phương thức thủ công (do CBCC tiếp nhận, kiểm tra, phân loại… để thông quan) cho lượng tờ khai lớn như vậy là điều bất khả thi. Không những thế, việc thực hiện thủ công sẽ mất rất nhiều thời gian cho mỗi tờ khai, gây ảnh hưởng đến thời gian thông quan của DN, làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Công tác quản lí nhà nước về hải quan ngày càng phải chịu nhiều sức ép lớn khi mà hoạt động XNK của nước ta ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2009 tổng giá trị kim ngạch XNK cả nước mới đạt khoảng 127 tỉ USD (trong đó XK 57 tỉ USD, NK gần 70 tỉ USD), đến nay, dù chưa kết thúc năm 2013 nhưng có thể khẳng định kim ngạch XK cả nước đã tăng hơn gấp 2 lần chỉ sau 5 năm. Từ đầu năm đến 15-11-2013, tổng kim ngạch XK cả nước đạt gần 114 tỉ USD và tổng kim ngạch NK cũng xấp xỉ 114 tỉ USD.

Chính vì xu thế phát triển mạnh mẽ đó, trong Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 448/QĐ-TTg năm 2011) Chính phủ đặt ra những mục tiêu rất rõ ràng đối với ngành Hải quan: Đến năm 2020 có 100% cục hải quan, 100% các chi cục hải quan, 100% các loại hình hải quan cơ bản, 90% kim ngạch XNK, 80% DN thực hiện thủ tục hải quan điện tử… Đồng thời tỉ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa đến năm 2015 là dưới 10% và đến năm 2020 phấn đấu đạt dưới 7%...

Điểm qua các con số cơ bản để thấy rằng việc điện tử hóa trong hoạt động hải quan là tất yếu, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng ùn tắc hàng hóa ở cảng, cửa khẩu.

Xem chi tiết:

http://www.baohaiquan.vn/pages/phan-luong-hang-hoa-va-ap-dung-quan-ly-rui-ro-dap-ung-yeu-cau-hien-dai-hoa-hai-quan.aspx

Ngày 18-12, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương Đảng, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và Ngân hàng thế giới (WB) tổ chức hội thảo quốc tế về tăng cường giám sát và lành mạnh hóa hệ thống tài chính. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh tới dự và phát biểu khai mạc.

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh sau hơn 2 năm nước ta tiến hành tái cơ cấu thị trường tài chính mà trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, nhằm tăng cường việc giám sát và góp phần làm cho hệ thống tài chính lành mạnh, minh bạch.

Trong lĩnh vực này, hơn 2 năm qua, Việt Nam không chỉ khắc phục hậu quả của nợ xấu, nâng cao tính thanh khoản… mà còn tạo được những thay đổi căn bản về thể chế, cấu trúc thị trường và tư duy chính sách để tạo dựng nền tảng tài chính vững mạnh, đảm đương được vai trò phân bổ nguồn lực xã hội hiệu quả, đồng thời đảm bảo ổn định tài chính để phát triển bền vững.

Trong bài phát biểu khai mạc, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh nhấn mạnh, qua 2 năm triển khai đề án tái cấu trúc thị trường tài chính, hệ thống tài chính ngân hàng đã đi vào ổn định, thanh khoản được kiểm soát, nguy cơ bị đổ vỡ được đẩy lùi, thị trường chứng khoán có mức tăng trưởng mạnh trong khu vực châu Á. Tuy nhiên, việc gia tăng nợ xấu còn nhiều rủi ro, rủi ro phát sinh từ sở hữu chéo vẫn đang là thách thức lớn.

Để thị trường tài chính phát triển lành mạnh, Phó Thủ tướng cho rằng, các cơ quan quản lý còn nhiều việc cần lưu ý. Đó là: các quy định mới để đảm bảo an toàn hệ thống vẫn còn khoảng cách với chuẩn mực của quốc tế; gia tăng nợ xấu được kiểm soát nhưng tỷ lệ nợ xấu vẫn cao; tình trạng sở hữu chéo ở các khu vực ngân hàng, doanh nghiệp, chứng khoán đã làm “lệch lạc” dòng chảy tiền tệ trong nền kinh tế hay nói cách khác là việc phân bổ nguồn lực chưa hiệu quả…

Đánh giá những tác động của lĩnh vực tài chính đối với sự phát triển bền vững, Trưởng Ban kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ cho biết, từ năm 2008 đến nay, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, tăng trưởng kinh tế thế giới suy giảm mạnh và cho đến nay vẫn chưa thực sự phục hồi vững chắc.

Năm 2012, tăng trưởng GDP toàn cầu chỉ đạt 3,3%, thấp hơn mức 3,7% năm 2011. Nhiều dự báo cho rằng, kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng chậm hơn so với thập kỷ vừa qua và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Giai đoạn 2013-2016, dự báo tăng trưởng chỉ ở mức 3,5% đến 3,6%.

Trong bối cảnh và xu hướng phát triển đó, Việt Nam cũng đang tích cực đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển theo hướng bền vững.

Sau gần 30 năm Đổi mới, hệ thống cơ chế, chính sách tài chính của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các điều kiện cụ thể của đất nước, từng bước tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Tuy nhiên, nền tài chính quốc gia cũng còn bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập như: chính sách tài chính trong một số lĩnh vực còn chậm được ban hành và triển khai một cách đồng bộ; cơ chế huy động các nguồn lực còn có một số điểm nghẽn; cơ chế phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia thiên về phát triển chiều rộng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp,…

Xem chi tiết:

http://www.baohaiquan.vn/pages/tim-giai-phap-lanh-manh-hoa-he-thong-tai-chinh.aspx

Số thu ngân sách của Cục Hải quan TP.HCM vào cuối tuần qua đã đạt con số sát mốc 72.000 tỉ đồng, toàn Cục đang nỗ lực phấn đấu để hoàn thành chỉ tiêu thu sớm và thu vượt khoảng 2.000 tỉ đồng.

Theo Cục trưởng Cục Hải quan TP.HCM Nguyễn Thị Thu Hương, tính đến ngày 10-12, toàn đơn vị đã thu nộp ngân sách được 71.165 tỉ đồng, đạt 98,84% chỉ tiêu kế hoạch năm 2013. Dự kiến, đến ngày 17-12, Cục Hải quan TP.HCM sẽ thu đạt chỉ tiêu được giao 72.000 tỉ đồng.

Kết quả trên thể hiện sự nỗ lực phấn đấu của trên 2.000 CBCC Cục Hải quan TP.HCM trong điều kiện thu ngân sách hết sức khó khăn như năm nay. Cục Hải quan TP.HCM đã triển khai nhiều giải pháp quản lí tốt nguồn thu, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK để thu hút DN làm thủ tục… Đặc biệt, Cục đã triển khai nhiều biện pháp để tăng thu từ nội lực, chống thất thu. Năm 2013, toàn Cục đã tăng thu khoảng gần 1.000 tỉ đồng từ công tác này.

Trong đó, Cục đã thực hiện 463 cuộc kiểm tra sau thông quan, tăng thu cho ngân sách trên 300 tỉ đồng; đối với công tác tham vấn giá, đã thực hiện tham vấn và bác bỏ trị giá khai báo gần 3.400 tờ khai hải quan, tăng thu cho ngân sách 240 tỉ đồng.

Bên cạnh đó, công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại được Cục Hải quan TP.HCM triển khai một cách đồng bộ, quyết liệt nên đạt được kết quả cao, góp phần chống thất thu cho ngân sách Nhà nước. Từ đầu năm đến nay, Cục Hải quan TP.HCM đã phát hiện và lập biên bản vi phạm trên 6.400 vụ, trị giá hàng vi phạm trên 611 tỉ đồng.

Trong đó, có 367 vụ buôn lậu và gian lận thương mại; 20 vụ vận chuyển trái phép chất ma túy, thu giữ trên 85 kg ma túy  và trên 2.000 viên ma túy tổng hợp, 525 vụ nhập khẩu tân dược hướng thần qua đường bưu điện; 14 vụ vận chuyển vũ khí, công vụ hỗ trợ, quân trang, quân dụng, thu giữ 300 khẩu súng hơi, 7 súng ngắn…

Xem chi tiết:

http://www.baohaiquan.vn/pages/hai-quan-tp-ho-chi-minh-phan-dau-thu-vuot-chi-tieu-hon-2-000-ti-dong.aspx

(T.H - tổng hợp)