Các báo ngành Tài chính ngày 22/05/2013

**Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN và Luật thuế GTGT: Kịp thời hỗ trợ các DN tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ thị trường; **Chính phủ xác định tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, đạt mức tăng trưởng cao hơn năm 2012; **Triển khai luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân: Nhìn từ giác độ người nộp thuế;...

Các báo ngành Tài chính ngày 22/05/2013

Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính đăng tin: Chiều 20-5, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh trình bày tại QH Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT. Trước đó, QH đã nghe Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đọc Tờ trình đề nghị QH phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2011 và báo cáo thẩm tra của Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách Phùng Quốc Hiển.

Theo Tờ trình của Chính phủ, bên cạnh những kết quả  đạt được, do sự biến động nhanh của nền kinh tế nên một số quy định trong Luật thuế TNDN đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, không theo kịp sự vận động của thực tiễn 4 năm thi hành.

Thực hiện Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011 - 2020, do đó, cần điều chỉnh giảm mức động viên thuế tạo điều kiện tăng tích luỹ, tích tụ cho doanh nghiệp. Mức thuế suất phổ thông tuy không cao hơn các nước trong khu vực nhưng cần được nghiên cứu từng bước điều chỉnh giảm để đảm bảo sự hấp dẫn trong thu hút đầu tư, khuyến khích sản xuất kinh doanh, phù hợp với xu thế cải cách thuế của thế giới.

Theo Chiến lược cải cách thuế của nước ta đến năm 2020 thì cần giảm dần mức động viên để đến năm 2020 mức thuế suất thuế TNDN giảm xuống mức hợp lý. Để thực hiện chiến lược cải cách thuế thì cần nghiên cứu sửa đổi Luật theo hướng giảm mức thuế suất phổ thông để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy tái đầu tư, khi doanh nghiệp phát triển sẽ tạo ra nhiều hàng hóa, của cải vật chất cho xã hội, tạo thêm nhiều lợi nhuận và thuế nộp cho NSNN cũng sẽ tăng thêm.

Bên cạnh đó, yêu cầu sửa Luật là nhằm đảm bảo chính sách rõ ràng, minh bạch, đơn giản, giảm thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho người nộp thuế và công tác quản lý thuế, tạo điều kiện cho việc hiện đại hoá quản lý thuế

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN dự kiến sửa đổi, bổ sung 12/20 điều của Luật hiện hành, gồm 11 nhóm vấn đề cụ thể. Trong đó, những sửa đổi liên quan đến quy định về thuế suất, dự thảo luật quy định: Giai đoạn 2014-2015 áp dụng thuế suất phổ thông là 22%; đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng, sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian áp dụng mức thuế suất 20%. Một số trường hợp áp dụng thuế suất từ 32% đến 50% giao Chính phủ quy định chi tiết. Những trường hợp thuộc diện áp dụng thuế suất 22% trong giai đoạn 2014-2015 chuyển sang áp dụng thuế suất 20% kể từ ngày 1-1-2016.

Những quy định này nhận được sự tán đồng của Ủy ban Tài chính- Ngân sách, cơ quan thẩm tra dự án Luật, vì chủ trương giảm thuế suất là góp phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích lũy vốn, mở rộng sản xuất nâng cao tính cạnh tranh, đẩy mạnh, khuyến khích thu hút đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Việc điều chỉnh mức thuế suất ưu đãi 20% xuống 17% kể từ 01/01/2016 vừa đảm bảo sự tương quan giữa mức thuế suất phổ thông 20% với mức thuế suất ưu đãi 10% và vẫn đảm bảo sự hấp dẫn của mức thuế suất ưu đãi 10% so với mức thuế suất ưu đãi 17%.

Mức thuế suất phổ thông giảm xuống còn 22% và việc áp dụng thuế suất 20% đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn thu hút đầu tư so với các nước trong khu vực (Trung Quốc, Indonesia, Malaysia: 25%) và cũng không gây tác động giảm thu đột ngột tạo sức ép về cân đối ngân sách của năm áp dụng, đồng thời không xáo trộn nhiều tới hệ thống chính sách ưu đãi. Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa được áp dụng thuế suất thấp hơn so với các trường hợp thông thường sẽ có điều kiện tăng tích tụ, tích luỹ tái đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao được năng lực cạnh tranh.

Về tác động ngân sách, Tờ trình của Chính phủ nêu rõ: Năm 2014 theo chính sách thuế TNDN hiện hành thì dự kiến thu ngân sách nhà nước từ thuế TNDN khoảng 150.800 tỷ đồng, nếu điều chỉnh thuế suất từ 25% xuống 22%, doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa xuống 20% và ưu đãi đối với đầu tư mở rộng, dự kiến giảm thu ngân sách năm 2014 khoảng 22.200 tỷ đồng (trong đó giảm khoảng 18.100 tỷ đồng do điều chỉnh mức thuế suất xuống 22%, giảm khoảng 2.000 tỷ đồng do áp dụng thuế suất 20% đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, khoảng 2.080 tỷ đồng do bổ sung đối tượng ưu đãi và ưu đãi đối với đầu tư mở rộng).

Năm 2016 dự kiến giảm thu ngân sách thêm khoảng 21.190 tỷ đồng đến 21.580 tỷ đồng so với mặt bằng thuế suất 22% (trong đó giảm khoảng 16.780 tỷ đồng do điều chỉnh giảm thuế suất phổ thông xuống 20%, giảm khoảng từ 4.410 tỷ đồng đến 4.800 tỷ đồng do điều chỉnh mức thuế suất ưu đãi 20% xuống 17%).

Theo tính toán của Chính phủ, số giảm thu này sẽ được bù lại một phần trong năm 2014 khoảng từ 1.200 tỷ đồng đến 1.500 tỷ đồng và được bù lại một phần trong năm 2016 khoảng từ 2.000 tỷ đồng đến 2.500 tỷ đồng do tăng thu từ các loại thuế gián thu và thuế TNCN vì số tiền thuế được giảm sẽ được sử dụng vào tiêu dùng và đầu tư; đồng thời, sẽ góp phần tăng thu từ thuế TNDN vào những năm sau do doanh nghiệp có điều kiện để tái đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.

Ngày 20-5, trình bày Báo cáo của Chính phủ đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và NSNN năm 2012 và tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và NSNN những tháng đầu năm 2013 trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết, đã có thêm 1 chỉ tiêu trong năm 2012 (11/15 chỉ tiêu) hoàn thành đạt và vượt kế hoạch. Tuy nhiên, Chính phủ nhận định, bên cạnh những điểm sáng kinh tế- xã hội đạt được trong những tháng đầu năm 2013 nền kinh tế đã bộc lộ nhiều khó khăn đòi hỏi cả nước phải tiếp tục nỗ lực để hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế- xã hội Quốc hội đã thông qua.

Báo cáo về tình hình thực hiện kinh tế- xã hội năm 2012, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết, so với ước thực hiện đã báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XIII, kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 có thêm 1 chỉ tiêu hoàn thành vượt kế hoạch là mức giảm tỷ lệ hộ nghèo. Như vậy, trong tổng số 15 chỉ tiêu chủ yếu Nghị quyết Quốc hội đề ra trong kế hoạch năm 2012 có 11 chỉ tiêu hoàn thành đạt và vượt kế hoạch.

Còn 4 chỉ tiêu không đạt kế hoạch là: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP), tỷ lệ tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP, chỉ tiêu tạo việc làm và tỷ lệ che phủ rừng. So với số đã báo cáo Quốc hội, có 7 chỉ tiêu đạt cao hơn, 2 chỉ tiêu đạt thấp hơn và 6 chỉ tiêu không đổi. Theo Phó Thủ tướng Chính phủ, với kết quả như vậy, những nhận định, đánh giá trong báo cáo của Chính phủ và Nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2012 vẫn cơ bản phù hợp.

Những tín hiệu đáng mừng của kinh tế- xã hội năm 2012 được Chính phủ đánh giá đó là: Lạm phát được kiềm chế, kinh tế vĩ mô ổn định hơn. Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng. Lãi suất tín dụng giảm, cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tập trung vốn cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên. Nguy cơ thiếu hụt khả năng thanh khoản và đổ vỡ ngân hàng đã được đẩy lùi, các chỉ số an toàn hoạt động được cải thiện. Tỷ giá cơ bản ổn định, dự trữ ngoại hối tăng. Kim ngạch xuất khẩu tăng cao, đã cân bằng xuất nhập khẩu. Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định. Khó khăn trong sản xuất, kinh doanh từng bước được tháo gỡ, chỉ số tồn kho giảm dần... Tiến độ giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ được đẩy nhanh; vốn ODA giải ngân tăng cao hơn so với cùng kỳ. Các đề án tái cơ cấu kinh tế được chú trọng xây dựng và triển khai thực hiện đạt kết quả bước đầu. Các mục tiêu, nhiệm vụ về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong năm 2012 cơ bản được bảo đảm...

Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế, được Chính phủ nêu lên đó là: Nền kinh tế còn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro gây lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô. Tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước không đạt kế hoạch đề ra. Nợ xấu còn cao, việc tiếp cận vốn tín dụng vẫn gặp nhiều khó khăn... Cân đối ngân sách nhà nước gặp khó khăn do thu nội địa và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt thấp so với dự toán. Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt thấp. Xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng thấp, đồng thời nhu cầu nhập khẩu của khu vực này giảm nhiều, bộc lộ sức sản xuất sụt giảm của các doanh nghiệp trong nước ngược lại với xu thế tăng trưởng cao cả về xuất khẩu và nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài...

Chỉ còn hơn một tháng nữa, Luật số 26/2012/QH13 - Luật  sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN)  số 04/2007/QH12 sẽ có hiệu lực thi hành. Các cơ quan quản lý Nhà nước đang khẩn trương xúc tiến việc hoàn thành các văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Luật, còn người nộp thuế (NNT)chờ đón  luật thuế mới với nhiều tâm trạng khác nhau nhưng có một điểm chung là đều mong đến thời điểm ngày 01/7/2013 để được thực hiện Luật thuế mới.

Theo Luật Thuế mới, tính đến thời điểm này có hơn 2 triệu người đang nộp thuế TNCN từ tiền lương tiền công, từ kinh doanh ở bậc 1, bậc 2 sẽ không thuộc đối tượng nộp thuế TNCN; NNT ở bậc 3, bậc 4 cũng giảm số thuế nộp đáng kể. Dù biết rằng nộp thuế TNCN là nghĩa vụ của công dân đối với đất nước, nhưng giảm nghĩa vụ về thuế vẫn là tin vui với NNT. 

Việc giảm nghĩa vụ thuế cơ bản là do sửa đổi Khoản 1 Điều 19 của  Luật  số 26/2012/QH13 như sau: Điều chỉnh nâng mức giảm trừ gia cảnh  đối với bản thân NNT từ 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng năm) lên 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng năm) và với mỗi người phụ thuộc từ 1,6 triệu đồng/tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng.

Theo Luật  hiện hành, nếu một cá nhân có thu nhập chịu thuế (sau khi đã trừ các khoản bảo hiểm theo quy định) là 16 triệu đồng/tháng thì cá nhân này sẽ được giảm trừ gia cảnh 7,2 triệu đồng, thu nhập tính thuế là 8,8 triệu. Tiền thuế TNCN nộp  một tháng là 630 000 đồng. Trong đó tiền  thuế  ở bậc 1  là  250 000đ (5 triệu x 5%), bậc 2 là 380 000 đồng (3,8 triệu x 10%).

Tuy nhiên, theo Luật sửa đổi thì cá nhân này sẽ được giảm trừ gia cảnh là 16,2 triệu đồng/ tháng, nếu thu nhập thực nhận chỉ 15 triệu đồng nên sẽ không còn nộp thuế  như hiện hành.

Điều này cho thấy, trong tình hình nền kinh tế còn khó khăn, việc giảm mức điều tiết thuế (sửa đổi thuế TNCN) thể hiện sự quan tâm và chia sẻ kịp thời của Nhà nước đối với người dân, Tuy nhiên, để chính sách trên thực sự phát huy hiệu quả như mong đợi của NNT và chủ trương của Nhà nước thì cần có những văn bản hướng dẫn rõ ràng minh bạch, cụ thể hơn cho người dân.

Xem chi tiết:

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1539781?pers_id=2177014&item_id=92654745&p_details=1

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=92662272&p_details=1

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=92656312&p_details=1

Tạp chí Tài chính đưa tin: Quốc hội thảo luận về kinh tế - xã hội.Cả ngày hôm nay (22/5), các đại biểu Quốc hội sẽ thảo luận ở tổ nhằm đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2012 và những tháng đầu năm 2013.

Đây là nội dung thảo luận quan trọng nhằm tìm ra những giải pháp hiệu quả thúc đẩy sản xuất, khơi thông thị trường trong nước, đồng thời đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát thấp hơn năm 2012; giải quyết những vấn đề tồn tại về y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự, an toàn giao thông, việc kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng…

Báo cáo bổ sung của Chính phủ trình bày trong phiên khai mạc cho biết: Trong 4 tháng đầu năm 2013, Chính phủ tiếp tục thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn… Bên cạnh đó, việc tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được kết quả bước đầu khi tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I tăng 4,89%, đạt mục tiêu đề ra. Một số sản phẩm công nghiệp có tốc độ tăng khá; hàng tồn kho giảm dần. Nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, nhất là sản xuất lúa gạo, khai thác hải sản…

Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra Báo cáo của Chính phủ là Ủy ban Kinh tế cho rằng: ”Nhiệm vụ trong những tháng còn lại của năm 2013 là hết sức nặng nề; vấn đề đặt ra là phải xử lý hài hòa và đảm bảo thực hiện cả hai mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát trong điều kiện nền kinh tế còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn”.

Để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2013, Chính phủ xác định 6 giải pháp chủ yếu để tập trung chỉ đạo, điều hành là: Tiếp tục thực hiện nhất quán mục tiêu tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đạt mức tăng trưởng cao hơn năm 2012; tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, xử lý nợ xấu, phát triển thị trường, tăng sức mua, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa; triển khai thực hiện có kết quả các nhiệm vụ trọng tâm tái cơ cấu kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, tăng cường phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, tăng cường phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.

Thực trạng kinh tế-xã hội và những giải pháp trên sẽ được các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận, góp ý để Chính phủ tiếp thu, thực hiện, nhằm  đạt kế hoạch đề ra.

Xem chi tiết:

http://www.tapchitaichinh.vn/Kinh-te-Dau-tu/Quoc-hoi-thao-luan-ve-kinh-te-xa-hoi/25659.tctc

Thị trường vàng sau một năm triển khai Nghị định 24. Kết quả của các phiên đấu thầu vàng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tăng cung cho thị trường. Mục tiêu can thiệp bình ổn thị trường vàng của NHNN đang từng bước được thực hiện. Mặc dù vẫn còn chênh lệch khá cao giữa giá trong nước và quốc tế nhưng sự chênh lệch này không ảnh hưởng tới tỷ giá, thị trường ngoại hối, lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Sau hơn một năm quyết liệt chống “vàng hóa” nền kinh tế, các chính sách quản lý thị trường vàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó có Nghị định 24/2012/NĐ-CP đã thu được những kết quả tích cực góp phần ổn định tỷ giá, giảm lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Nghị định 24 đã góp phần quan trọng trong việc tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước và giảm đáng kể hiện tượng “vàng hóa” nền kinh tế.

Trước khi Nghị định 24 được ban hành, cả nước có khoảng 12.000 doanh nghiệp kinh doanh vàng nhưng lại chưa được quản lý một cách chặt chẽ. Mỗi khi giá vàng biến động mạnh thì thị trường lại trở nên “hỗn loạn”, người dân đổ xô đi mua vàng bất kể khi giá đang tăng mạnh hay xuống thấp nhằm lướt sóng kiếm lời, đẩy một lượng tiền lớn đi vào thị trường vàng mà không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó, các thị trường đầu tư của nền kinh tế như chứng khoán, bất động sản… lại đang rơi vào ảm đạm, dòng vốn đầu tư vào vàng đã tăng mạnh khiến cầu vàng tăng, trong khi đó, cung vàng chỉ có chừng mực do sự hạn chế nhập khẩu vàng của NHNN.

Để có thể tạo ra những đợt “sóng” mạnh thu hút người dân tham gia vào các cơn sốt vàng, giới đầu cơ phải thu gom một lượng lớn ngoại tệ để nhập khẩu vàng, tạo nên sự khan hiếm ngoại tệ, làm cho cầu ngoại tệ trên thị trường tự do tăng, tâm lý găm giữ, đầu cơ ngoại tệ cũng vì thế mà gia tăng, đẩy tỷ giá thị trường tự do tăng cao. Sau đó, giới đầu cơ tạo ra “cơn sốt” vàng ảo bán giá vàng với giá cao hơn giá thế giới quy đổi để trục lợi. Các yếu tố này cứ lặp đi lặp lại, khiến cho tỷ giá không ổn định, đồng nội tệ bị suy giảm mạnh, đẩy mặt bằng hàng hóa nhập khẩu tăng theo, làm gia tăng lạm phát trong nền kinh tế và tạo ra sự bất ổn vĩ mô.

Trước những diễn biến đó, nhằm bình ổn thị trường vàng, thực hiện chủ trương về việc xóa bỏ “vàng hóa” trong nền kinh tế, để cho thị trường này không ảnh hưởng tới tỷ giá, lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, ngày 3/4/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 24 về quản lý kinh doanh vàng, đây là một quyết sách đúng đắn của Chính phủ và NHNN trong việc ổn định thị trường vàng và chống lại giới đầu cơ vàng.

Xem chi tiết:

http://www.tapchitaichinh.vn/Vang-Tien-te/Thi-truong-vang-sau-mot-nam-trien-khai-Nghi-dinh-24/25649.tctc

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh báo cáo Quốc hội quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 2011.Thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, chiều nay (20/5) Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã báo cáo Quốc hội quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 2011.

Báo cáo nêu rõ, năm 2011 thu nội địa từ sản xuất, kinh doanh (không kể thu từ dầu thô và thu từ nhà, đất): Dự toán 347.285 tỷ đồng, quyết toán 383.097 tỷ đồng, vượt 35.812 tỷ đồng. Trong đó tăng thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh là 25.835 tỷ đồng.

Đáng chú ý, trong năm 2011 thu từ dầu thô vượt cao nhất, tăng 40.905 tỷ đồng. Cụ thể, dự toán 69.300 tỷ đồng, quyết toán 110.205 tỷ đồng, vượt 40.905 tỷ đồng, nguyên nhân vượt thu chủ yếu do giá bán cao hơn mức dự kiến 28 USD/thùng. Tiếp đến, số thu từ nhà đất tăng 25.918 tỷ đồng so với dự toán, trong đó chủ yếu tăng từ thu tiền sử dụng đất là 21.824 tỷ đồng. Ngoài ra thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 12,3% tương đương 17.065 tỷ đồng,…

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, theo Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, nhiều nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 đã đạt và vượt mục tiêu Quốc hội đặt ra, nhiệm vụ thu NSNN đạt và vượt dự toán Quốc hội giao.

Cũng trong năm 2011, chi ngân sách tăng 8,5% (61.954 tỷ đồng) so với dự toán (dự toán chi NSNN 725.600 tỷ đồng, quyết toán 787.554 tỷ đồng).

Theo báo cáo, năm 2011 riêng chi đầu tư phát triển tăng 37% (56.306 tỷ đồng). Chi trả nợ và viện trợ tăng 25.943 tỷ đồng so với dự toán, chủ yếu do Ngân sách địa phương trả nợ khoản huy động vốn trong nước là 10.912 tỷ đồng; ngân sách Trung ương tăng trả nợ 15.000 tỷ đồng đối với một số khoản huy động trong nước nhằm giảm nợ và trả lãi.

Điểm đáng chú ý, năm 2011 bội chi giảm so với mức Quốc hội cho phép 8.566 tỷ đồng. Cụ thể, Quốc hội quyết định mức bội chi NSNN 120.600 tỷ đồng, bằng 5,3% GDP; quyết toán số bội chi là 112.034 tỷ đồng, bằng 4,4% GDP.

Về thực hiện kết quả xử lý các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước liên quan thu, chi ngân sách nhà nước, Phó Thủ tướng cho biết: Tổng số kiến nghị liên quan NSNN là 4.966 tỷ đồng, đã thực hiện 4.092 tỷ đồng, đạt 82,4% số kiến nghị. Số còn lại chưa thực hiện được do một số nguyên nhân liên quan đến: Xuất toán, thu hồi nộp ngân sách chưa thực hiện triệt để do phải trừ dần vào thu nhập của đơn vị, cá nhân theo quy định, hoặc đang tổ chức xử lý; các khoản kiến nghị tăng thu, một số địa phương, đơn vị chưa đồng tình và có ý kiến lại, cần có thời gian rà soát, kiểm tra để xử lý theo quy định.

Xem chi tiết:

http://www.tapchitaichinh.vn/Kinh-te-Dau-tu/Pho-Thu-tuong-Vu-Van-Ninh-bao-cao-Quoc-hoi-quyet-toan-Ngan-sach-Nha-nuoc-nam-2011/25642.tctc

Thị trường bất động sản: Cần những lời nói thật. Sau một thời gian chờ đợi thì gói cứu trợ 30.000 tỷ đồng của Chính phủ cũng đã được thông qua. Nhưng có thực hiện được gói cứu trợ này hay không, không nằm ở phía ngân hàng hay doanh nghiệp bất động sản (BĐS) mà lại nằm ở chính những người có nhu cầu mua nhà. 

Nghị quyết 02 của Chính phủ ra đời trong đó có nội dung về gói cứu trợ BĐS trị giá 30.000 tỷ đồng, đây có thể coi như một cú hích đối với thị trường trong thời điểm này nhằm giải quyết những khó khăn cho các doanh nghiệp BĐS.

Với 30% gói cứu trợ dành cho các doanh nghiệp và 70% dành cho những người có thu nhập thấp, nếu được thực hiện hiệu quả thì gói cứu trợ này có thể giải quyết được một lượng lớn hàng tồn kho BĐS, đồng thời nó cũng giải quyết được nhu cầu vốn trước mắt cho các doanh nghiệp BĐS đang gặp rất nhiều khó khăn hiện nay.

Theo những con số được ông Vũ Xuân Thiện, Cục phó Cục Quản lý Nhà và Thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng) cho biết tại một hội thảo về bất động sản ngày 9/5 thì tính đến hết tháng 3/2013, lượng căn hộ tồn kho đã tăng lên đến 20%, tương đương 33.852 căn hộ, đất nền tồn kho hơn 1 triệu m2. Mặc dù con số thực tế có thể lớn hơn nhiều lần do thực tế có rất nhiều công trình đang trong quá trình xây dựng hoặc hoàn thiện.

Với gói cứu trợ trị giá 30.000 tỷ thì số tiền dành cho những người có thu nhập thấp mua nhà với lãi suất ưu đãi chiếm 70% tương ứng với 21.000 tỷ đồng. Trong khi đó, giá những căn hộ từ 50 -70 m2 có giá từ 700 triệu đến 1 tỷ đồng, nếu như việc thực hiện tốt có thể sẽ giải phóng được 2/3 số lượng căn hộ đang trong diện tồn kho, giúp doanh nghiệp có vốn để tiếp tục hoạt động. Đây cũng là một mắt xích quan trọng trong quá trình giải quyết nợ xấu của các ngân hàng.

Nhưng vấn đề ở đây không phải là bao nhiêu tiền để hỗ trợ mà là người mua nhà có thực hiện vay vốn để mua nhà hay không?

Xem chi tiết:

http://www.tapchitaichinh.vn/Bat-dong-san/Thi-truong-bat-dong-san-Can-nhung-loi-noi-that/25641.tctc

Báo Hải quan online đăng tin: Hà Nội: Đổi mới thanh tra chống thất thu thuế. Năm 2013, Cục Thuế Hà Nội sẽ tiếp tục đổi mới thêm một bước công tác thanh, kiểm tra thuế. Theo đó, bắt đầu từ việc kiến nghị bổ sung và hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật thuế, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm; khuyến khích nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế (NNT) trên địa bàn góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ thu NSNN.

Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội Phi Vân Tuấn chia sẻ, thời gian qua bên cạnh các chính sách cải cách tạo thuận lợi cho NNT, Cục Thuế Hà Nội tăng cường thanh, kiểm tra NNT nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật thuế. Số DN vào diện thanh tra năm sau tăng hơn năm trước. Đây cũng là biện pháp góp phần tăng nguồn thu NSNN. Chẳng hạn như: Năm 2012, Cục Thuế Hà Nội đã kiểm tra 185.568 lượt hồ sơ (tăng 47% so với năm 2011); trong đó điều chỉnh 1.385 lượt hồ sơ (tăng 46%), tăng thu 748 tỷ đồng.

Kiểm tra tại trụ sở NNT là 5.311 cuộc; trong đó đã tiến hành truy thu, truy hoàn, phạt sau kiểm tra 669 tỷ đồng. Cục Thuế Hà Nội còn thực hiện các cuộc thanh tra theo chuyên đề về quản lý đất đai, chống chuyển giá tại các DN đầu tư nước ngoài… Kết quả đã truy thu, truy hoàn, phạt 1.177 tỷ đồng (tăng 441 tỷ đồng, vượt 60% so với kế hoạch đề ra năm 2012; giảm thuế GTGT được khấu trừ 100 tỷ đồng, giảm lỗ 1.066 tỷ đồng...

Mặc dù đạt những kết quả khả quan trong thanh, kiểm tra thuế nhưng Cục Thuế Hà Nội cũng chỉ ra những tồn tại đang “cản trở” như: Thời gian thanh, kiểm tra vẫn còn kéo dài, hiệu quả chưa thực sự cao; phân tích, đánh giá hồ sơ khai thuế chưa sâu; thanh, kiểm tra tại trụ sở NNT chưa đáp ứng được kế hoạch đề ra về mặt số lượng; phân tích hồ sơ trước khi ban hành quyết định thanh tra chưa sâu, chưa thực sự rút ra các vấn đề trọng tâm để đề xuất thanh tra; trình độ cán bộ thanh, kiểm tra còn hạn chế…

Xem chi tiết:

http://www.baohaiquan.vn/pages/ha-noi-doi-moi-thanh-tra-chong-that-thu-thue.aspx

Chống tham nhũng vặt: Cấm đổ “dầu” có làm “cháy máy”?.Kết quả Chỉ số PAPI (Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam) 2012 vừa công bố cho thấy tình trạng hối lộ vẫn phổ biến trong khu vực công. Về vấn đề này, phóng viên Báo Hải quan có cuộc trao đổi với ông Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES), là một trong ba tổ chức nghiên cứu và tiến hành PAPI.

Trả lời về thực trạng hối lộ trong khu vực công được thể hiện như thế nào trong điều tra của PAPI ông Đặng Ngọc Dinh cho rằng, phạm vi tham nhũng, hối lộ được lấy ý kiến của người dân trong PAPI là những hành vi hối lộ trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục, xin việc tạm gọi là tham nhũng vặt chứ không phải là những phạm vi, vụ việc tham nhũng lớn, vĩ mô. Khái quát về vấn đề này trong suốt ba năm thực hiện PAPI, chúng tôi thấy đây là hành vi phổ biến, rộng rãi, không có sự thay đổi giữa các tỉnh, thành. Người dân quan niệm đây là chuyện bình thường, thậm chí còn coi là hành vi tích cực để giải quyết công việc một cách nhanh gọn, nếu không còn tự gây khó khăn cho mình. Khi được hỏi là người dân có sợ không, có bị thúc ép trong việc đưa hối lộ không thì câu trả lời là không sợ và coi đây là một cách làm cho bộ máy vận hành trơn tru.

Xem chi tiết:

http://www.baohaiquan.vn/pages/tham-nhung-vat-cam-do-dau-se-lam-chay-may.aspx

Đồng Nai: Trên 1.100 doanh nghiệp thực hiện TTHQĐT. Theo Cục Hải quan Đồng Nai, từ đầu năm đến nay, đã có trên 1.100 doanh nghiệp tham gia thực hiện thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) tại tất cả các chi cục trực thuộc.

Cũng trong thời điểm này, tất cả các chi cục trực thuộc Cục Hải quan Đồng Nai đã thông quan trên 127.500 tờ khai điện tử trên tổng số 130.500 tờ khai phát sinh, đạt tỷ lệ trên 97,6%; kim ngạch XNK thông quan điện tử đạt trên 5 triệu USD trên tổng số 5,1 triệu USD phát sinh, đạt tỷ lệ 97,6%.

Theo Cục Hải quan Đồng Nai, TTHQĐT theo phiên bản 4 đã tự động tiếp nhận, kiểm tra, cấp số đăng ký, phân luồng tờ khai hải quan điện tử, dẫn đến có nhiều ưu điểm hơn so với phiên bản trước như thời gian thông quan rút ngắn, chi phí giảm, hạn chế sai sót...

Xem chi tiết:

http://www.baohaiquan.vn/pages/dong-nai-tren-1-100-doanh-nghiep-thuc-hien-tthqdt.aspx

Hải quan Quảng Ninh thu trên 35,6 tỷ đồng từ hậu kiểm. Theo Chi cục Kiểm tra sau thông quan-Cục Hải quan Quảng Ninh, qua công tác kiểm tra sau thông quan, đơn vị đã thu nộp vào ngân sách Nhà nước 35,6 tỷ đồng.

Chi cục đã có quyết định truy thu 1 doanh nghiệp trên 32 tỷ đồng do áp dụng không chính xác thời điểm tính thuế đối với mặt hàng xăng dầu tạm nhập nhưng không tái xuất hoặc tái xuất không hết chuyển tiêu thụ nội địa.

Chi cục cũng đã phát hiện sai phạm của một số doanh nghiệp do khai sai mã số, không thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư, ổng số thuế truy thu trên 3,5 tỷ đồng.

Căn cứ vào các quyết định truy thu ấn định thuế, Chi cục đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền trên 1,2 tỷ đồng.

Tính đến hết 20-5-2013, Chi cục Kiểm tra sau thông qua đã hoàn thành kiểm tra sau thông quan 31 doanh nghiệp. Trong  số này, Chi cục đã kiểm tra tại trụ sở 9 doanh nghiệp và kiểm tra tại trụ sở cơ quan Hải quan hải quan 22 doanh nghiệp.

Xem chi tiết:

http://www.baohaiquan.vn/pages/hai-quan-quang-ninh-thu-tren-356-ty-dong-tu-hau-kiem.aspx

(T.Hằng - tổng hợp)