Các báo ngành Tài chính ngày 23/12/2013

**Triển khai thực hiện một số quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT; **20 năm ngày thị trường Bảo hiểm Việt Nam: Dấu mốc quan trọng; **Bộ Tài chính phối hợp với các tổ chức quốc tế trong công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; **Học viện Tài chính: Chú trọng chuyên ngành đào tạo đặc thù “Tài chính và Đầu tư”; **Ngành Tài chính quyết liệt cải cách thủ tục hành chính; **Trường BDCB Tài chính tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014;...

Các báo ngành Tài chính ngày 23/12/2013

Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính đăng tin: Chiều ngày 20/12/2013, tại Hà Nội, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp cùng Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức Lễ Kỷ niệm 20 năm ngày thị trường Bảo hiểm Việt Nam. Tham dự Lễ Kỷ niệm có ông Trần Xuân Hà - Thứ trưởng Bộ Tài chính; cùng một số đồng chí nguyên là Lãnh đạo Bộ Tài chính các thời kỳ; đại diện lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo đại diện các Bộ, ngành liên quan và các lãnh đạo đại diện các doanh nghiệp Bảo hiểm Việt Nam.

Tại Lễ Kỷ niệm 20 năm ngày thị trường Bảo hiểm Việt Nam, ông Trịnh Quang Tuyến - Chủ tịch Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã cho biết: “Nghị định 100CP ngày 18/12/1993 của Thủ tướng Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Nghị định đã tạo ra khung khổ pháp lý đầu tiên cho việc hình thành thị trường bảo hiểm Việt Nam đa dạng với các chủ đầu tư tham gia thị trường thuộc mọi thành phần kinh tế, mở rộng nội dung, phạm vi hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác định vị trí và vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm. Nếu trước năm 1993, thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có duy nhất 1 doanh nghiệp (DN) bảo hiểm thuộc sở hữu của Nhà nước là Bảo Việt. Thì đến nay, thị trường bảo hiểm có thêm 19 doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm được cấp phép thành lập, nâng tổng số DN hoạt động trên thị trường bảo hiểm năm 2013 là 59 DN. Hiện thị trường có 800 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ đáp ứng nhu cầu đa dạng và riêng biệt của từng đối tượng khách hàng”.

Chủ tịch Hiệp hội BHVN cũng nêu rõ, trước năm 1993, số tiền thị trường bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế là con số 0 thì chỉ sau 6 năm con số này đã lên đến 2.664 tỷ đồng. Đặc biệt, trong giai đoạn 2000-2007, thị trường bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, số tiền ngành bảo hiểm đã huy động để đầu tư trở lại nền kinh tế tăng mạnh. Năm 2007, số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của thị trường bảo hiểm đạt 46.549 tỷ đồng. Và đến nay, thị trường bảo hiểm đã trở thành kênh huy động vốn dài hạn hữu hiệu của nền kinh tế, với tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế năm 2013 đạt 109.000 tỷ đồng, chủ yếu được đầu tư vào các chương trình, dự án lớn của Nhà nước. Đặc biệt, tổng số tiền mà các DN bảo hiểm đã bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm tăng nhanh, từ 120 tỷ đồng vào năm 1993 lên 16.290 tỷ đồng vào năm 2013, trong đó các DN bảo hiểm nhân thọ chi trả khoảng 7.500 tỷ đồng, các DN bảo hiểm phi nhân thọ chi trả khoảng 8.790 tỷ đồng. Sau 20 năm phát triển, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã từng bước thể hiện được vai trò tấm lá chắn vững chắc trước các rủi ro, giúp các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm nhanh chóng ổn định sản xuất kinh doanh và cuộc sống, là kênh huy động vốn dài hạn, hữu hiệu của nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm cho hàng nghìn người lao động.

Bên cạnh những thành tích bước đầu đã đạt được trong 20 năm qua, Chủ tịch cũng chỉ ra một số tồn tại cần khắc phục của thị trường bảo hiểm về tính cộng đồng, khả năng cạnh tranh, tỉ lệ phí bảo hiểm/GDP còn thấp… nhằm thúc đẩy thị trường bảo hiểm hoạt động và phát triển nhanh hơn, an toàn, lạnh mạnh, hiệu quả và bền vững.

Theo Quyết định số 2417/QĐ-TTg ngày 12/12/2013 được công bố tại lễ kỹ niệm, ngày 18/12 hàng năm sẽ chính thức là ngày thị trường bảo hiểm Việt Nam.
 
Sáng ngày 20/12/2013, tại Hà Nội, Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức Hội thảo Tổng kết Dự án Quản lý rủi ro thiên tai - Hợp phần 3 - Hỗ trợ tái thiết sau thiên tai (CR.4770-VN). Tham dự và chủ trì hội thảo có Thứ trưởng Bộ Tài chính Trương Chí Trung - Trưởng ban Điều phối Hợp phần 3 cùng đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ gồm: Cục Quản lý nợ và Tài chính Đối ngoại; Vụ Ngân sách Nhà nước; Kho bạc Nhà nước; Văn phòng Bộ… Đại diện Ngân hàng Thế giới (WB) có bà KeiKo Sato - Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tổng hợp (Quản lý danh mục) cùng đại diện Lãnh đạo của 15 tỉnh, thành phố có Dự án được triển khai.
 

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Trương Chí Trung đánh giá cao sự hợp tác của Ngân hàng Thế giới (WB), ngài chủ nhiệm và nhóm cộng tác dự án của WB đã phối hợp chặt chẽ là luôn dành cho Bộ Tài chính và các địa phương sự ủng hộ cần thiết, kịp thời để hoàn thành Dự án Quản lý rủi ro thiên tai trong Hiệp định tài trợ bổ sung cho Hợp phần 3 để hỗ trợ tái thiết sau thiên tai (Dự án Quản lý rủi ro thiên tai được ký kết ngày 06/8/2010 giữa Việt Nam và Ngân hàng Thế Giới với trị giá vốn vay là 75 triệu USD). Dự án Hỗ trợ tái thiết sau thiên tai – Hợp phần 3 (CR.4770-VN) đã góp phần giải quyết thiếu hụt nguồn vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các địa phương để khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra đối với các công trình cơ sở hạ tầng có quy mô nhỏ, theo cơ chế đổi mới để cung cấp nhanh nguồn vốn hỗ trợ và tăng cường năng lực đánh giá thiệt hại ở cấp trung ương và địa phương để quyết định giải pháp hỗ trợ kịp thời.

Thứ trưởng cũng đánh giá cao sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Lãnh đạo các tỉnh, các Sở, các Ban quản lý dự án, Ban điều phối dự án tỉnh và huyện đã nỗ lực hết sức để triển khai việc mua sắm đầu thầu và xây lắp đúng tiến độ và quy định của WB và Chính phủ. Thứ trưởng cũng đề nghị Lãnh đạo của 15 tỉnh có dự án được thực hiện tiếp tục quan tâm chỉ đạo các Ban QLDA khẩn trương hoàn thành dứt điểm công tác xây lắp, thủ tục thanh quyết toán và kết thúc Dự án.

Trong 3 năm thực hiện Dự án, tổng mức hỗ trợ trong Hợp phần này cho các địa phương chịu ảnh hưởng của thiên tai đạt 1.530 tỷ đồng tương đương với 73,79 triệu USD cho 15 tỉnh ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ (gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Kon Tum, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang) với tỉnh nhiều nhất nhận được hỗ trợ là 160 tỷ (Quảng Bình và Quảng Nam), căn cứ vào mức độ thiệt hại của các tỉnh. Với nguồn hỗ trợ này, các tỉnh đã khôi phục, nâng cấp, xây dựng mới 516 tiểu dự án, trong đó có 148 công trình trường, lớp học, 36 công trình y tế, 210 công trình giao thông và 131 công trình thủy lợi đóng góp tích cực ổn định đời sống nhân dân trong vùng bị lũ lụt và thiên tai, phù hợp với chính sách và đường hướng phát triển kinh tế tại địa phương. Tổng số vốn đã giải ngân của hợp phần 3 đạt được là 1.517 tỷ đồng tương đương với 73 triệu USD đạt 99% tổng số vốn được hỗ trợ của WB.

Cơ chế phân bổ vốn và giải ngân của Hợp phần 3 được thiết kế đảm bảo nguồn vốn hỗ trợ được chuyển nhanh chóng cho các địa phương áp dụng chủ yếu theo quy trình trong nước, có sự phối hợp chặt chẽ với đại diện Ngân hàng Thế giới (WB). Khi thiên tai xảy ra, Bộ Tài chính, Ngân hàng Thế giới và Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đánh giá mức độ thiệt hại tại các địa phương để trình chính phủ quyết định mức phân bổ cho các địa phương nhằm khắc phục hậu quả thiên tai.

Các công trình được xây dựng từ nguồn vốn của dự án đều có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao, cải thiện điều kiện đi lại học tập, chăm sóc y tế và sản xuất nông nghiệp. Nhằm phòng chống và giảm nhẹ thiên tai giúp cho người dân tránh được những thiệt hại nặng nề do thiên tai gây ra. Tăng cường khả năng chủ động ứng phó kịp thời với các thiên tai, góp phần hỗ trợ người dân nhanh chóng ổn định lại đời sống sinh hoạt và sản xuất sau thiên tai. Nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Tăng cường năng lực của chính quyền cấp cơ sở và mối quan hệ giữa quản lý thiên tai và kế hoạch phát triển bền vững trên địa bàn.

Tại Hội thảo Tổng kết Dự án Hợp phần 3, bà KeiKo Sato – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tổng hợp (Quản lý danh mục) của Ngân hàng Thế giới (WB) đã đánh giá rất cao thành công của Dự án. Bà KeiKo Sato rất ấn tượng với Lãnh đạo các tỉnh của Việt Nam trong công tác giải quyết hậu quả rủi ro thiên tai trong thời gian qua. WB luôn là đối tác tin cậy, cung cấp nguồn tài chính để hỗ trợ, đầu tư tái thiết sau thiên tai. Sau hơn 3 năm triển khai Dự án đã giải ngân được 75 triệu USD đó là kết quả rất đáng ghi nhận, đã rất nhiều công trình được xây dựng trong dự án sẽ giúp hơn 2,4 triệu người trên 15 tỉnh được hưởng lợi, phụ nữ có khoảng hơn 1,2 triệu người và người dân tộc thiểu số có khoảng 0,3 triệu người. Bà KeiKo Sato đánh giá cao cam kết của Việt Nam và Bộ Tài chính trong việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai. Bà KeiKo Sato cũng bày tỏ mong muốn và hy vọng những công trình được dự án hỗ trợ tái thiết được thiết kế với nguyên tắc “xây lần sau phải tốt hơn lần trước” theo đúng yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật, Ngân hàng Thế giới cũng đánh giá cao tính bền vững của các công trình tái thiết sẽ phù hợp với những biến đổi khí hậu trong tương lai.

Học viện Tài chính đã chính thức công bố tuyển sinh chương trình đào tạo Thạc sỹ Tài chính và Đầu tư (MSc in Finance & Investment) theo giấy phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo số 5122/QĐ-BGDĐT cấp ngày 4/11/2013 do Học viện Tài chính liên kết với Trường Đại học Greenwich (Vương quốc Anh) thực hiện.

Trong khi các chương trình liên kết đào tạo thạc sỹ hiện có ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào đào tạo thạc sỹ các ngành quản trị, kinh doanh thì Học viện Tài chính đã chọn một ngành đào tạo đặc thù, mang đậm chất chuyên ngành thế mạnh của Học viện là Tài chính và Đầu tư. Được biết “thạc sỹ chuyên ngành tài chính và đầu tư” là chương trình liên kết duy nhất ở nước ta hiện nay.

Vừa phát huy thế mạnh của một trường đại học hàng đầu Việt Nam về đào tạo tài chính, kế toán, Học viện Tài chính đã chọn và liên kết với một trường đại học khá danh tiếng của Vương quốc Anh (một cái nôi tài chính của thế giới) là University of Greenwich (London-UK).

Chương trình đào tạo thạc sỹ này còn có một ưu thế khác là thời gian đào tạo linh hoạt, phù hợp với đặc điểm học viên Việt Nam. Chương trình chủ yếu được thực hiện ngoài giờ hành chính và cuối tuần, tổng thời gian đào tạo là 12 tháng. Với những đặc điểm này, học viên sẽ không phải xa gia đình, không phải xa vị trí công tác đang đảm nhiệm. Chỉ cần gia tăng sự nỗ lực cố gắng trong một năm là có bằng thạc sỹ về tài chính và đầu tư với chất lượng đạt chuẩn quốc tế, chuẩn châu Âu và chuẩn Anh quốc. 

Theo Học viện Tài chính, chương trình sẽ do các giảng viên của Trường ĐH Greenwich cùng với các giảng viên của Học viện Tài chính đảm nhiệm với tỷ lệ 50/50. Trong đó, tất cả các giảng  viên đều có bằng tiến sỹ trở lên. Đáng chú ý là giảng viên của Học viện Tài chính được tuyển chọn cho chương trình đều được đào tạo ở nước ngoài và được cấp bằng tiến sỹ bởi một trường đại học nước ngoài. Các tiêu chuẩn tuyển chọn giảng viên của chương trình này đã được hai bên nhất trí và được Bộ GD&ĐT chuẩn y. Điều đó góp phần bảo đảm chất lượng của tấm bằng Thạc sỹ Tài chính và Đầu tư (Master of Science in Finance & Invesstment) đào tạo tại Học viện Tài chính.

Ngày 19/12/2013, Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính (CCTTHC) của Chính phủ đã có buổi làm việc với Bộ Tài chính về báo cáo đánh giá tình hình thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính tại Bộ Tài chính. Tham dự buổi làm việc có ông Lê Hồng Sơn - Phó Chủ tịch thường trực - Thứ trưởng Bộ Tư pháp làm trưởng đoàn; Ông Phạm Gia Túc - Phó chủ tịch Phòng TM&CN Việt Nam; Ông Ngô Hải Phan - Cục trưởng Cục Kiểm soát TTHC - Bộ Tư pháp và các thành viên của Hội đồng. Về phía Bộ Tài chính có Thứ trưởng Trương Chí Trung cùng đại điện Lãnh đạo các đơn vị chức năng như Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Vụ Pháp chế.

Tại buổi làm việc, ông Ngô Hải Phan - đại diện Hội đồng tư vấn cải cách TTHC của Chính phủ báo cáo tình hình và kết quả thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính của Bộ Tài chính. Điều này cũng đã được Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ghi nhận tại cuộc họp ngày 27/11/2013: Công tác cải cách TTHC tại Bộ Tài chính đã đạt được những kết quả tích cực, có những bước tiến dài, quy trình TTHC được hiện đại hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tham gia thực hiện TTHC. Kết quả trên thể hiện nỗ lực rất lớn của ngành Tài chính trong công tác cải cách TTHC.

Cũng trong buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trương Chí Trung cho biết: Bộ Tài chính đã chỉ đạo thành lập Đoàn kiểm tra, tổ chức kiểm tra công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại 4 Tổng cục trực thuộc gồm: Tổng cục hải quan, Tổng cục Thuế, Kho bạc Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán và cùng phối hợp với Hội đồng tư vấn cải cách TTHC của Chính phủ tổ chức kiểm tra, đánh giá việc thực hiện, tuân thủ thủ tục hành chính tại một số Cục, Chi cục Thuế, Hải quan một số tỉnh thành phố để nắm bắt tình hình, phát hiện và chấn chỉnh những thiếu sót trong quá trình thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại các đơn vị. Thứ trưởng cũng cho biết thêm, công tác cải cách TTHC tại Bộ Tài chính thơi gian qua kể từ Đề án 30 đến nay đã đạt được những kết quả tích cực góp phần đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân và các tổ chức tham gia thực hiện TTHC. Các nội dung kiểm soát TTHC như việc đánh giá tác động các quy định về TTHC trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; việc lấy ý kiến và thẩm định quy định về TTHC, việc công bố, công khai TTHC; tiếp nhận, giải quyết TTHC; tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị về quy định TTHC thực hiện  theo đúng quy định.

Tuy nhiên, đây là công tác vừa có tính cấp bách, vừa có tính liên tục, lâu dài, các nội dung cải cách phải được tiến hành đồng bộ, thống nhất và đặc biệt phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan, đơn vị, khối lượng công việc tiếp theo còn nhiều và sẽ tiếp tục phát sinh nên sức ép phải hoàn thành nhiệm vụ là rất lớn đối với Bộ Tài chính, trong khi để thực hiện phải có sự vào cuộc của các cơ quan, Bộ, ngành, chính quyền địa phương và các tổ chức, cá nhân nên sẽ có những khó khăn trong phối hợp thực hiện. Bên cạnh đó, để thực thi các phương án đơn giản hóa TTHC trong lĩnh vực tài chính đã được Chính phủ phê duyệt; đồng thời triển khai nhiệm vụ rà soát cải cách TTHC đòi hỏi sửa đổi, bổ sung một số Luật, Nghị định thuộc thẩm quyền của Quốc hội và Chính phủ.

Vì vậy, để khắc phục khó khăn và tiếp tục thực hiện tốt công tác kiểm soát TTHC, trong thời gian tới Bộ Tài chính cần phải có những giải pháp cụ thể như: Tổ chức tốt việc tuyên truyền, giới thiệu, cung cấp thông tin, cập nhật kịp thời cho các doanh nghiệp (DN), cá nhân về các văn bản QPPL và quy định TTHC dưới nhiều hình thức đa dạng như trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính và các phương tiện thông tin đại chúng khác; Duy trì, củng cố và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC thuộc linhxv ực quản lý của Bộ Tài chính nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch và tạo điều kiện thuộc lợi cho cá nhân, tổ chức tiếp cận thông tin để thực hiện TTHC cũng như giám sát việc thực hiện của các cơ quan hành chính nhà nước; Tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành để hoàn thiện, sửa đổi bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, hủy bỏ các quy định về TTHC được quy định tại các văn bản QPPL không cần thiết, gây nhiều phiền hà, vướng mắc cho cá nhân và doanh nghiệp; Tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc triển khai thực hiện công tác kiểm soát TTHC tại các đơn vị, đặc biệt là tại các cơ quan ngành dọc đóng tại địa phương.

Thứ trưởng cũng nhấn mạnh: Bộ Tài chính có quy mô lớn, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực vì vậy để công tác cải cách TTHC đạt hiệu quả cao hơn nữa trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục đẩy mạnh và vào cuộc quyết liệt cải cách mà trọng tâm là trong các lĩnh vực Thuế, Hải quan. Đồng thời, tăng cường nghiên cứu xây dựng hệ thống pháp lý để việc giải quyết TTHC hợp lý, khoa học gắn với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, tiêu cực và hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Bộ Tài chính vừa có công văn số 17557/BTC-TCT gửi Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc triển khai thực hiện một số quy định có hiệu lực từ 01/01/2014 tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng.

Công văn nêu rõ, ngày 19/6/2013 Quốc hội đã thông qua Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014. Ngày 11/7/2013 Văn phòng Quốc Hội đã có văn bản số 05/VBHN-VPQH về việc xác thực Luật hợp nhất Luật thuế giá trị gia tăng. Hiện nay, Bộ Tài chính đang khẩn trương phối hợp với các cơ quan hữu quan trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và ban hành Thông tư hướng đẫn thực hiện. Để các quy định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014, trong khi chờ cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung được áp dụng từ ngày 01/01/2014 như sau:

Tại Khoản 2 Điều 10 Luật thuế giá trị gia tăng hợp nhất quy định:

“2. Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ bao gồm:

a) Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh;

b) Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh.”

Tại Điều 11 Luật thuế giá trị gia tăng hợp nhất quy định:

“Điều 11. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

1. Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý.

Giá trị gia tăng của vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng.

2. Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng tỷ lệ % nhân với doanh thu áp dụng như sau:

a) Đối tượng áp dụng:

-  Doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một tỷ đồng, trừ trường hợp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này;

- Hộ, cá nhân kinh doanh;

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có doanh thu phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam khấu trừ nộp thay;

- Tổ chức kinh tế khác, trừ trường hợp đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này;

b) Tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:

- Phân phối, cung cấp hàng hóa: 1%;

- Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;

- Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;

- Hoạt động kinh doanh khác: 2%.”

Căn cứ quy định trên, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau: mức doanh thu từ một tỷ đồng trở lên là doanh thu bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT trong năm 2013 làm căn cứ xác định doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ năm 2014. 

Về việc xác định mức doanh thu năm 2013, Bộ Tài chính cho biết:

Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đã có hoạt động kinh doanh từ trước năm 2013 thì mức doanh thu năm 2013 làm căn cứ xác định phương pháp nộp thuế GTGT của năm 2014 được xác định căn cứ vào tổng cộng chỉ tiêu “Tổng doanh thu của HHDV bán ra chịu thuế GTGT” trên Tờ khai thuế GTGT tháng của kỳ khai thuế từ tháng 12 năm 2012 đến hết tháng 11 năm 2013.

Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập trong năm 2013 hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2013 không đủ 12 tháng thì xác định doanh thu ước tính của năm như sau: Tổng cộng chỉ tiêu “Tổng doanh thu của HHDV bán ra chịu thuế GTGT” trên Tờ khai thuế GTGT của các tháng hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2013 chia số tháng hoạt động sản xuất kinh doanh và nhân với (x) 12 tháng.

Đối với phương pháp tính thuế GTGT năm 2014, trường hợp mức doanh thu năm 2013 (được xác định theo hướng dẫn tại điểm 1 nêu trên) trên 1 tỷ thì doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ trong năm 2014.

Trường hợp mức doanh thu năm 2013 dưới 1 tỷ, doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hoá đơn, chứng từ và có Thông báo gửi cơ quan thuế về việc đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ để tính thuế GTGT (Thông báo theo Mẫu số 06/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ  Tài  chính) thì doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ trong năm 2014.

Trường hợp mức doanh thu năm 2013 (được xác định theo hướng dẫn tại điểm nêu trên) dưới 1 tỷ và doanh nghiệp, hợp tác xã không đăng ký tự nguyện để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế thì đề nghị Cục thuế tỉnh, thành phố hướng dẫn doanh nghiệp chuyển sang áp dụng phương pháp trực tiếp và sử dụng hóa đơn bán hàng khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ ngày 01/01/2014. 

Bộ Tài chính đề nghị các Cục thuế, Chi cục thuế khẩn trương hướng dẫn các doanh nghiệp, hợp tác xã xác định mức doanh thu năm 2013 theo quy định.

Bộ Tài chính cũng yêu cầu Cục thuế cần tuyên truyền, giải thích rõ để doanh nghiệp, hợp tác xã hiểu về phương pháp áp dụng thuế GTGT và hướng dẫn doanh nghiệp, hợp tác xã có phương án đặt in hóa đơn bán hàng để sử dụng từ ngày 01/01/2014 đối với trường hợp chuyển sang áp dụng phương pháp trực tiếp và không sử dụng hóa đơn GTGT.

Huy động và gắn kết các nguồn lực xây dựng nông thôn mới. Đó là chủ đề cuộc Hội thảo vừa được Viện Chiến lược và Chính sách tài chính phối hợp với Trường Đại học Tài chính - Kế Toán tổ chức tại Quảng Ngãi, sáng ngày 18/12/2013. TS. Vũ Nhữ Thăng, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính và ThS Bùi Phụ Anh, Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Kế toán đồng chủ trì hội thảo.

Tham dự Hội thảo có đại diện Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Nam, Hội đồng nhân dân Tỉnh Quảng Nam, đại diện các sở, ban, ngành và Uỷ ban Nhân dân các huyện tại Quảng Ngãi và một số đơn vị của Văn phòng Quốc hội, Bộ Tài chính.

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010. Đây là một chương trình khung toàn diện nhất để cộng đồng chung sức xây dựng một nông thôn mới hiện đại nhằm tạo ra những giá trị mới của nông thôn Việt Nam, đó là một nông thôn hiện đại hàm chứa những giá trị kinh tế mới trên cơ sở hạ tầng hiện đại, sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng cao, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển, xã hội nông thôn an ninh tốt, phát huy tính dân chủ cao trong xây dựng nông thôn mới.

Theo quyết định trên, vốn và nguồn vốn thực hiện chương trình gồm 4 nguồn: nguồn vốn ngân sách (bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) chiếm khoảng 40% tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình; Vốn tín dụng (bao gồm tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại) khoảng 30%; Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác khoảng 20%; Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư khoảng 10%.

Cơ chế huy động cũng được thực hiện theo hướng đa dạng hoá các nguồn vốn thông qua lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động tối đa nguồn lực của địa phương; huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân; các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng; các nguồn vốn hợp pháp khác.

Sau 3 năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (2010-2013) đã huy động được một nguồn lực lớn để từng bước thực hiện các tiêu chí nông thôn mới; hình thức huy động được thực hiện khá đa dạng và cơ chế huy động khá linh hoạt đã tạo sự chủ động cho các địa phương trong huy động nguồn lực. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả tích cực nêu trên, việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới cũng cho thấy những tồn tại và thách thức đặt ra.

Qua 4 bài tham luận và những ý kiến trao đổi, hội thảo đã tập trung thảo luận về kết quả đã đạt được và thách thức trong việc huy động nguồn lực; trong đó, nhấn mạnh những vấn đề quan trọng như tính đa dạng trong huy động nguồn lực, tính ưu tiên trong việc phân bổ nguồn lực, tính khả thi trong huy động nguồn lực từ cộng đồng, tính hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực, tính công khai và minh bạch trong quản lý nguồn lực… Đồng thời, những yếu tố có tác động đến quá trình huy động và phân bổ nguồn lực xây dựng nông thôn mới cũng được thảo luận cụ thể như tiêu chí nông thôn mới, vấn đề quy hoạch, sự đồng bộ và nhất quán của cơ chế chính sách, vai trò của các tổ chức đoàn thể…

Bên cạnh đó, Hội thảo cũng đã thảo luận về những giải pháp, đề xuất để thu hút nguồn lực, tăng cường năng lực gắn kết trong thời gian tới. Theo đó, vấn đề nhận được nhiều ý kiến quan tâm chính là tính lồng ghép trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực cho mục tiêu xây dựng nông thôn mới để tránh tình trạng lãng phí, cũng như đề cao việc huy động nguồn lực từ nhân dân, từ đất đai, tài nguyên, lao động và trí tuệ phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Đặc biệt, tính bền vững trong huy động nguồn lực cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều đại biểu tham gia Hội thảo.

Chiều ngày 19/12/2013, tại Hà Nội, Trường Bồi dưỡng Cán bộ Tài chính (BDCB) đã tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014. Tham dự và chỉ đạo Hội nghị có Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Minh cùng đại diện Lãnh đạo một số các đơn vị thuộc Bộ gồm: Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Kế hoạch - Tài chính; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Thi đua Khen thưởng; Văn phòng Bộ cùng toàn thể cán bộ, giảng viên nhà trường.

Tại Hội nghị, Giám đốc Trường BDCB Tài chính, Đỗ Đức Minh đã trình bày Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm năm 2013 và triển khai phương hướng hoạt động công tác năm 2014. Theo báo cáo đánh giá, năm 2013 là năm đánh dấu bước phát triển quan trọng của Trường BDCB Tài chính. Được sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tài chính, sự phối hợp của các đơn vị chức năng thuộc Bộ, cùng sự nỗ lực, phấn đấu của tập thể cán bộ, giảng viên nhà trường.

Xem chi tiết:

http://mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=116120896&p_details=1

 
 
 
 
 
 
 
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đăng tin: Để hoàn tất thủ tục xin cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thông báo ông Trần Văn Phú, sinh ngày 22/02/1985 nộp lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán theo quy định của Quyết định 510/QĐ-UBCK ngày 11/08/2009 về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư 134/2009/TT-BTC ngày 01/07/2009 của Bộ Tài chính, cụ thể:

Lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán: 1 triệu đồng/1 người.

Việc nộp lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán được thực hiện theo hình thức sau:

- Bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số 3511 của Cơ quan Uỷ ban Chứng khoán Nhà nuớc (mã đơn vị sử dụng ngân sách: 1059481) mở tại Kho bạc Nhà nước Tp. Hà Nội, nội dung nộp ghi rõ “nộp lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán cho… (tên người được cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán), số chứng minh thư nhân dân/hộ chiếu”.

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước thông báo để cá nhân được biết và thực hiện.

Ngày 16/12/2013, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) nhận được đầy đủ tài liệu báo cáo kết quả chào bán cổ phiếu ra công chúng của Công ty Cổ phần Cấp nước Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo báo cáo, số lượng cổ phiếu Công ty Cổ phần Cấp nước Bà Rịa – Vũng Tàu chào bán ra công chúng thành công là 1.600.000 cổ phiếu.

Ngày 2/12/2013, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) nhận được Công văn số 1785/TVĐ4-HĐQT ngày 29/11/2013 Báo cáo kết quả chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu của Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 4. Theo đó:

+ Ngày chuyển đổi Đợt 2: 24/11/2013;

+ Số lượng trái phiếu đã chuyển đổi: 255.085 trái phiếu, chiếm 100% tổng số trái phiếu được chuyển đổi đợt 2;

+ Giá chuyển đổi: 7.000 đồng/cổ phiếu;

+ Số lượng cổ phiếu đã được chuyển đổi: 3.643.898 cổ phiếu.

Ngày 16/12/2013, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) nhận được báo cáo kết quả chào bán cổ phần riêng lẻ theo Báo cáo kết quả chào bán ngày 12/12/2013 của Công ty Cổ phần Dệt Hòa Khánh Đà Nẵng. Theo đó, Công ty Cổ phần Dệt Hòa Khánh Đà Nẵng đã thực hiện chào bán 500.000 cổ phiếu, chiếm 100% tổng số cổ phiếu dự kiến chào bán.

Ngày 3/12/2013, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) nhận được tài liệu báo cáo phát hành cổ phiếu tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu theo Báo cáo số 168/CV-CT ngày 25/11/2013 của Công ty Cổ phần Cáp treo Núi Bà Tây Ninh. Phương án phát hành của Công ty được thực hiện theo Nghị quyết ĐHĐCĐ Thường niên năm 2013 số 03/NQ-ĐHĐCĐ ngày 19/7/2013; Nghị quyết HĐQT số 06/2013/NQ-HĐQT ngày 29/10/2013 và các quy định của pháp luật. Cụ thể:

+ Số lượng phát hành: 3.197.000 cổ phiếu;

+ Nguồn vốn thực hiện: Quỹ đầu tư phát triển.

Ngày 3/12/2013, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) nhận được tài liệu báo cáo phát hành cổ phiếu tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu theo Báo cáo số 168/CV-CT ngày 25/11/2013 của Công ty Cổ phần Cáp treo Núi Bà Tây Ninh. Phương án phát hành của Công ty được thực hiện theo Nghị quyết ĐHĐCĐ Thường niên năm 2013 số 03/NQ-ĐHĐCĐ ngày 19/7/2013; Nghị quyết HĐQT số 06/2013/NQ-HĐQT ngày 29/10/2013 và các quy định của pháp luật. Cụ thể:

+ Số lượng phát hành: 3.197.000 cổ phiếu;

+ Nguồn vốn thực hiện: Quỹ đầu tư phát triển.

Xem chi tiết:

http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidstincongbo/vichitiet102?dDocName=APPSSCGOVVN162085252&_afrLoop=241700051258000#%40%3F_afrLoop%3D241700051258000%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162085252%26_adf.ctrl-state%3D17vsydzk77_91

http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidsphathanh/vidsphathanhracongchung/vichitiet106?dDocName=APPSSCGOVVN162085255&_afrLoop=241704434361000#%40%3F_afrLoop%3D241704434361000%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162085255%26_adf.ctrl-state%3D17vsydzk77_108

http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidsphathanh/vidsphathanhracongchung/vichitiet106?dDocName=APPSSCGOVVN162085251&_afrLoop=241707523916000#%40%3F_afrLoop%3D241707523916000%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162085251%26_adf.ctrl-state%3D17vsydzk77_125

http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidsphathanh/vidsphathanhriengle/vichitiet110?dDocName=APPSSCGOVVN162085242&_afrLoop=241710841164000#%40%3F_afrLoop%3D241710841164000%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162085242%26_adf.ctrl-state%3D17vsydzk77_142

http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidsphathanh/vidsphathanhracongchung/vichitiet106?dDocName=APPSSCGOVVN162085250&_afrLoop=241710990193000#%40%3F_afrLoop%3D241710990193000%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162085250%26_adf.ctrl-state%3D17vsydzk77_159

http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidsphathanh/vidsphathanhracongchung/vichitiet106?dDocName=APPSSCGOVVN162085250&_afrLoop=241711268960000#%40%3F_afrLoop%3D241711268960000%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162085250%26_adf.ctrl-state%3D17vsydzk77_164

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đăng tin: Ngày 19/12/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có Quyết định số 2978/QĐ-NHNN về việc sửa đổi nội dung Giấy phép hoạt động của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam.

Theo đó, Thống đốc NHNN chấp thuận sửa đổi nội dung về vốn điều lệ quy định tại Điểm 4 Giấy phép hoạt động số 0040/GP-NHNN ngày 06/8/1993 do Thống đốc NHNN cấp cho Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam và Khoản c Điều 1 Quyết định số 143/QĐ-NH5 ngày 06/8/1993 của Thống đốc NHNN về việc cấp Giấy phép hoạt động cho Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam như sau: Vốn điều lệ: 8.878.078.710.000 đồng.

Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam có trách nhiệm thực hiện sửa đổi, bổ sung Điều lệ theo quy định tại điểm a Khoản 4 Điều 29 Luật các tổ chức tín dụng.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và là một bộ phận không tách rời của Giấy phép hoạt động số 0040/GP-NHNN ngày 06/8/1993 do Thống đốc NHNN cấp cho Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam và thay thế các Quyết định số 2506/QĐ-NHNN ngày 18/11/2011, số 2411/QĐ-NHNN ngày 28/11/2012 về việc sửa đổi mức vốn điều lệ ghi trong Giấy phép hoạt động của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam.

Ngày 19/12/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có văn bản số 9510/NHNN-TTGSNH về việc tăng vốn điều lệ của Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á (BacABank).

Theo đó, Thống đốc NHNN chấp thuận việc BacABank tăng vốn điều lệ từ ba nghìn tỷ đồng lên ba nghìn bảy trăm tỷ đồng theo Phương án tăng vốn điều lệ đã được Đại hội đồng cổ đông BacABank thông qua tại Nghị quyết số 02/2013/NQ/ĐHĐCĐ- BacABank ngày 24/04/2013.

Văn bản này có hiệu lực trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày ký. Trường hợp việc tăng vốn điều lệ chưa hoàn tất trong thời hạn cho phép, nếu Đại hội đồng cổ đông BacABank thông qua việc thay đổi Phương án tăng vốn điều lệ đã được NHNN chấp thuận, văn bản này hết hiệu lực pháp lý.

Trong những ngày cuối năm 2013, nhu cầu rút tiền từ ATM tăng cao, dễ dẫn đến quá tải gây ra bức xúc và lo lắng cho chủ thẻ. Bên cạnh các giải pháp tăng cường phục vụ của các ngân hàng, các chủ thẻ cũng có thể chủ động để giảm thiểu sự bất cập còn tồn tại này. Nhân dịp năm mới 2014 và Xuân Giáp Ngọ 2014 đang tới gần, Hội Thẻ Ngân hàng Việt Nam khuyến cáo các chủ thẻ khi thực hiện các giao dịch tại ATM như sau:

Khi thực hiện các giao dịch, đặc biệt là rút tiền trên ATM, nên tránh các giờ cao điểm như từ 17-19h hàng ngày. Kinh nghiệm từ những năm trước đây cho thấy, trong các ngày 26-28/12 âm lịch là thời gian “cao điểm” tại các ATM, nên chủ thẻ cần dự trù trước, tránh thực hiện giao dịch trên ATM vào thời điểm này.

Khi rút tiền tại các ATM đông người xếp hàng, chủ thẻ cần lưu ý nhập chính xác thông tin để thực hiện được ngay, tránh nhập lại nhiều lần. Khi vượt quá số lần nhập sai nhất định, thẻ có thể sẽ bị tạm khóa và không thực hiện được giao dịch. Khi giao dịch được thực hiện thành công, khách hàng phải nhận tiền ngay khi ATM trả tiền, tránh việc tiền bị nuốt trở lại vào trong máy.

Chủ thẻ cũng cần theo dõi thông tin trên ATM để thực hiện những bước kế tiếp, tránh trường hợp một số khách hàng nghĩ rằng sau khi máy nhả thẻ ra là giao dịch không được thực hiện mặc dù trên thực tế là giao dịch đang thực hiện, nhưng khách hàng có thể không đợi để lấy tiền và bỏ đi. Sau đó, ATM mới trả tiền ra và số tiền này sẽ bị lấy đi khi người tới sau sử dụng ATM. Vì vậy, khách hàng lưu ý nên chờ trong thời gian tối thiểu là 60 giây.

Nếu gặp trường hợp ATM chưa trả tiền mà màn hình trở lại chế độ bình thường, chủ thẻ cần liên lạc với ngân hàng phát hành thẻ theo số điện thoại hỗ trợ in tại mặt sau của thẻ hoặc theo số điện thoại hỗ trợ thông báo trên ATM. Khi ATM thông báo giao dịch không thành công, chủ thẻ cũng nên kiểm tra lại số dư tiền trong thẻ. Ngoài ra, nếu máy ATM trả tiền rách, tiền không đảm bảo, khách hàng cần phải giữ lại hóa đơn giao dịch để được đổi lại tại các điểm giao dịch gần nhất của ngân hàng quản lý ATM.

Cuối năm âm lịch cũng là thời điểm tội phạm hoạt động mạnh, nên chủ thẻ cần lưu ý để tránh nguy cơ bị lộ thông tin thẻ và dẫn tới việc mất tiền trong tài khoản. Khi sử dụng tại các ATM chưa được trang bị phần che bàn bàn phím, chủ thẻ nên dùng tay để che khi nhập PIN đề phòng kẻ xấu gắn camera quay trộm. Trường hợp ATM có các dấu hiệu không bình thường (như có các thiết bị gắn thêm …), thì không nên thực hiện giao dịch và thông báo tới ngân hàng để xử lý.

Sáng 16/12/2013, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức họp thường kỳ tháng 12/2013 để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ 11 tháng đầu năm 2013, dưới sự chủ trì của ông Nguyễn Ngọc Thạch - Giám đốc chi nhánh. Tham dự buổi họp có đại diện Lãnh đạo NHNN chi nhánh tỉnh, đại diện các chi nhánh tổ chức tín dụng (TCTD) và Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn.

Tính đến hết tháng 11/2013, tổng nguồn vốn huy động đạt 17.732 tỷ đồng, tăng 3,54% so với cùng kỳ năm trước; dư nợ cho vay đạt 31.035 tỷ đồng, tăng 14,95%. Trong đó, cho vay phục vụ lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chiếm 57,09% tổng dư nợ, cho vay nuôi trồng và chế biến thủy sản chiếm 21,84%.

Phát biểu trong buổi họp, ông Nguyễn Ngọc Thạch chỉ đạo các TCTD thực hiện nghiêm chỉ đạo của NHNN Việt Nam về các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng; phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ năm 2013, tập trung vốn cho vụ Đông Xuân 2013-2014; điều hòa tiền mặt đảm bảo hoạt động thông suốt trong dịp cuối năm v.v.

Ngày 20/12/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức đầu thầu bán vàng miếng lần thứ 75 với tổng khối lượng trúng thầu đạt 14.700 lượng trên tổng số 15.000 lượng chào thầu.

Trong phiên đấu thầu này, đã có 12 thành viên trúng thầu là các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp đã thiết lập quan hệ giao dịch mua, bán vàng miếng với NHNN. Giá trúng thầu cao nhất là 35,04 triệu đồng/lượng, giá trúng thầu thấp nhất là 35,01 triệu đồng/lượng.

Từ ngày 28/3/2013 đến 20/12/2013, NHNN đã tổ chức 75 phiên đấu thầu bán vàng miếng với tổng khối lượng trúng thầu là 1.799.900 lượng trên tổng số 1.912.000 lượng chào thầu.

Với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ và mang lại nhiều lợi ích hơn nữa tới khách hàng, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) và VinaPhone -Công ty Dịch vụ Viễn thông hàng đầu Việt Nam đã hợp tác và chính thức cho ra mắt sản phẩm thẻ tín dụng đồng thương hiệu Vinaphone-SHB MasterCard dành riêng cho nhóm khách hàng CarePlus của Vinaphone.

Thẻ tín dụng Vinaphone-SHB MasterCard là sản phẩm thẻ tín dụng đồng thương hiệu viễn thông đầu tiên tại Việt Nam, sử dụng công nghệ chip chuẩn EMV đảm bảo an toàn, bảo mật cao, hạn chế tối đa khả năng làm thẻ giả. Đặc biệt khách hàng sử dụng thẻ đều nhận được thông báo tự động SMS và email thông tin chi tiêu giao dịch của thẻ giúp chủ thẻ quản lý tốt an toàn thẻ. Thẻ mang đầy đủ tính năng, tiện ích của sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng hấp dẫn lên tới 1 tỷ đồng. Chủ thẻ được phép chi tiêu trước trả tiền sau, được hưởng ưu đãi miễn lãi tối đa lên tới 45 ngày. Thẻ được chấp nhận thanh toán tại hàng triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ MasterCard trên toàn thế giới và thanh toán trực tuyến trên các Website.

  Nhân dịp ra mắt sản phẩm, 500 khách hàng CarePlus phát hành và kích hoạt thẻ thành công đầu tiên sẽ nhận ngay phần quà trị giá 1.000.000 VND. Trong thời gian 05/01/2014 đến 05/4/2014 , SHB cùng VinaPhone triển khai chương trình khuyến mại cực lớn dành cho khách hàng sử dụng thẻ để chi tiêu, khách hàng sẽ có cơ hội được hoàn tiền tối đa 1.000.000 VND trong mỗi kỳ sao kê. Tổng giá trị giải thưởng chương trình lên tới 1,8 tỷ đồng. Bên cạnh đó, những khách hàng đăng ký phát hành thẻ tín dụng tín dụng Vinaphone-SHB MasterCard sẽ nhận được ưu đãi: Miễn phí phát hành, miễn phí thường niên trong 01 năm đầu sử dụng thẻ, lãi suất ưu đãi,… cùng những phần quà hấp dẫn.

http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP0116211753020&_afrLoop=1159447065080800&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null

http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP0116211753019&_afrLoop=1159448375636700&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null

http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP0116211753003&_afrLoop=1159449472843200&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3Dnull%26_afrLoop%3D1159449472843200%26dDocName%3DCNTHWEBAP0116211753003%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D14y058dtuo_379

http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP0116211753002&_afrLoop=1159451389113300&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null

http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP0116211753004&_afrLoop=1159452578292800&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null

http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101?dDocName=CNTHWEBAP0116211752987&_afrLoop=1159453715180600&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3Dnull%26_afrLoop%3D1159453715180600%26dDocName%3DCNTHWEBAP0116211752987%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D14y058dtuo_754

(T.H - tổng hợp)