Các báo viết về Tài chính ngày 13/01/2014

**Tái cơ cấu ngân hàng nhanh hơn nhờ vốn ngoại?; **Bộ trưởng Tài chính: Năm 2014 giá xăng dầu sẽ minh bạch hơn; **Đột phá về cải cách thể chế và hành chính; **TP.HCM: Giao dịch đất nền tăng 200%; **Dịch vụ kho vận: Giải pháp tăng trưởng bền vững; **Giá điện, xăng dầu làm méo mó nền kinh tế;...

Các báo viết về Tài chính ngày 13/01/2014

- “Tái cơ cấu ngân hàng nhanh hơn nhờ vốn ngoại?”. Theo Nghị định 01/2014/NĐ-CP, tỷ lệ sở hữu cổ phần (room) của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tại các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam được nâng lên 20% thay vì 15% trước đây.

Giới chuyên gia và các nhà đầu tư kỳ vọng, việc nới "room" vốn ngoại này có thể giúp ngân hàng nội đón được một làn sóng vốn mới, từ đó, nâng cao chất lượng quản trị ngân hàng Việt Nam. Từ 20/1/2014, Nghị định 01 quy định việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực. Theo đó, “room” tối đa của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tại một tổ chức tín dụng trong nước đã được nâng lên 20% vốn điều lệ (theo quy định cũ, tỷ lệ này thường là 15%) Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng nội. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, để phục vụ mục đích tái cơ cấu ngân hàng yếu kém, tỷ lệ này sẽ được cho phép vượt quá giới hạn quy định. Mức vượt sẽ được Thủ tướng quy định trong từng trường hợp cụ thể.

Nhiều ý kiến lạc quan cho rằng, việc tăng room vốn ngoại sẽ đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngân hàng nội, góp phần xử lý nợ xấu. Việc các ngân hàng ngoại tham gia sâu vào hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ dần hình thành lối kinh doanh và quản trị hoàn toàn mới. Điều này sẽ giúp giảm tính rủi ro của hệ thống ngân hàng.

Thực tế, thời gian qua, nhiều "thương vụ" đình đám kêu gọi vốn ngoại đã giúp các ngân hàng Việt Nam nâng cao tiềm lực tài chính cũng như năng lực quản trị ngân hàng. Tại ABBank, hiện, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) sở hữu 10% và Maybank sở hữu 20% cổ phần trên vốn điều lệ của ngân hàng này. Vietinbank đã bán 645 triệu cổ phiếu cho đối tác Bank of Tokyo - Mitsubishi UFJ (BTMU) của Nhật Bản…

Xem chi tiết:

http://www.ktdt.vn/kinh-te/thi-truong-tai-chinh/2014/01/81022232/tai-co-cau-ngan-hang-nhanh-hon-nho-von-ngoai/

- “Bộ trưởng Tài chính: Năm 2014 giá xăng dầu sẽ minh bạch hơn”. Trong chuyên mục Dân hỏi Bội trưởng trả lời tuần này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng nhìn lại quá trình hoạt động của ngành tài chính năm 2013 và trả lời những câu hỏi thiết thực liên quan đến thắc mắc của người dân về những vấn đề thuộc ngành tài chính.

 PV: Thưa Bộ trưởng, tính đến tháng 9, Bộ Tài  chính công bố thu ngân sách  hụt tới 25 tỷ đồng, tức là chỉ đạt có 66% kế hoạch. Tuy nhiên, vào ngày cuối cùng của năm, Bộ lại công bố lại hoàn thành chỉ tiêu thu chi của cả năm. Xin Bộ trưởng cho biết các giải pháp mà Bộ Tài chính đã triển khai để đạt được thành công một cách ngoạn mục trong thời gian ngắn như vậy?  

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng: Năm 2013, thu ngân sách nhà nước đạt 104% theo dự toán Quốc hội giao. Đạt kết quả này nhờ Bộ đã kiến nghị Quốc hội ban hành một số chính sách mới. Nhóm giải  pháp  thứ nhất là: Thu cổ tức được chia năm 2013 của các doanh nghiệp, công ty cổ phần có vốn góp nhà nước mà các bộ, ngành địa phương làm chủ sở hữu; thu lợi nhuận sau thuế của tập đoàn, tổng công ty nhà nước sau khi thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và sau khi phân chia các quỹ của doanh nghiệp. Thu 75% tiền lãi dầu khí nước chủ nhà được chia từ liên doanh Vietso petro và các hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, tiền đọc tài liệu, sử dụng tài liệu dầu khí phát sinh năm 2013. Trên tinh thần đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 54 và 57. Để triển khai hai nghị quyết này của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định 204 và Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 187.

Nhóm giải pháp thứ hai, tập trung phối hợp toàn diện sâu sắc với các cấp, các ngành đặc biệt là cấp ủy chính quyền các địa phương. Đến nay, qua tổng kết lại có tất cả 63/63 tỉnh, thành phố đã có chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch của tỉnh ủy, thành ủy, ủy ban nhân dân tỉnh để tổ chức triển khai thực hiện dự toán thu chi ngân sách nhà nước năm 2013.

Thứ ba, toàn ngành tài chính tổ chức triển khai đồng bộ chống thất thu, đẩy nhanh xử lý giảm nợ đọng thuế, chấn chỉnh công tác hoàn thuế giá trị gia tăng. Tổng cục Thuế đã tiến hành kiểm tra được 60.273 doanh nghiệp, xử lý thu nộp ngân sách nhà nước 13.186 tỷ đồng.

Về thu hồi nợ, thu được 25.482 tỷ đồng, đạt 52% tổng số dư nợ đến thời điểm 31/12. Về chống buôn lậu và gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng, tính đến tháng 12 cơ quan thuế tiến hành thanh tra 340 doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế. Qua đó, thu hồi truy thu 238 tỷ đồng

Chuyển 67 bộ hồ sơ sang cơ quan cảnh sát điều tra. Cơ quan cảnh sát điều tra đã khởi tố 17 vụ và bắt giữ 22 đối tượng vi phạm. Cơ quan hải quan trong năm đã bắt giữ 22.012 vụ vi phạm, trong đó 677 vụ liên quan đến ma túy và trị giá hàng hóa thu hồi 565 tỷ đồng.

Qua đó, đã hạn chế tiêu cực trong hoàn thuế và số tiền hoàn thuế giảm đi rõ rệt. Cùng với việc thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp và xử lý nghiêm vi phạm của doanh nghiệp. Ngành tài chính đã tiến hành đình chỉ công tác, tổ chức kiểm điểm xử lý hành chính một số cán bộ thuế, hải quan có liên quan đến trách nhiệm trong hoàn thuế để doanh nghiệp trốn lậu thuế và gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng.

Xem chi tiết:

http://vov.vn/kinh-te/bo-truong-tai-chinh-gia-xang-dau-se-minh-bach-hon/305677.vov

- “Đột phá về cải cách thể chế và hành chính”. Trò chuyện trong một buổi chiều cuối năm với phóng viên báo Tin Tức, lần đầu tiên trên cương vị của Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, GS.TS Vương Đình Huệ đã có những phân tích sâu sắc về kết quả điều hành của Chính phủ năm 2013 cũng như nửa nhiệm kỳ Chính phủ khóa XIII. Nói về năm 2014, theo ông Huệ, trong ba đột phá chiến lược hiện nay, cần coi đột phá về cải cách thể chế và hành chính là một trong những trọng tâm vì vấn đề này không tốn nhiều nguồn vốn vật chất, chủ yếu là “vốn con người”.

Thưa ông, ông đánh giá thế nào về bức tranh kinh tế Việt Nam những năm gần đây cũng như năm 2013?

Trong ba năm vừa qua, so với chỉ tiêu của Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra thì có một số chỉ tiêu không đạt và đạt thấp, nhưng nếu so với mục tiêu đã được điều chỉnh thì chúng ta đã đạt được những thành tích rất căn bản, rất tích cực, quan trọng và đúng hướng, có thể nhìn nhận ở ba điểm then chốt:

Thứ nhất, đó là ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo tăng trưởng hợp lý. Từ năm 2011, lạm phát lên đến 18,13%, sau đó dần dần đi xuống, năm sau thấp hơn năm trước. Đến thời điểm này, lạm phát chỉ còn hơn 6%, mức thấp nhất trong 10 năm gần đây. Đương nhiên, cũng có một số người cho rằng, lạm phát giảm là do tổng cầu yếu, nhưng nếu không có một chính sách vĩ mô, chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ đúng hướng thì Việt Nam không thể đạt được thành tích này, nhất là trong điều kiện chúng ta chịu nhiều tác động rất mạnh của các vấn đề lạm phát từ nhiều hướng, kể cả vấn đề chi phí đẩy, cầu kéo, lạm phát kỳ vọng...

Thứ hai, chúng ta đã triển khai khá toàn diện và đồng bộ các vấn đề liên quan đến tái cơ cấu nền kinh tế và đạt được những kết quả bước đầu. Trong tái cơ cấu nền kinh tế, Hội nghị Trung ương ba khóa XI vừa xác định một cách tổng thể, vừa xác định những khâu trọng tâm, đột phá. Rõ ràng, chúng ta đã tuân thủ được nguyên tắc này. Một mặt, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế, mặt khác cũng phê duyệt các đề án tái cấu trúc cụ thể, liên quan đến ba trọng tâm: đầu tư công; hệ thống ngân hàng; tập đoàn, doanh nghiệp mà trọng tâm là các doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã thành lập Ban chỉ đạo liên ngành triển khai Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015”. Sự ra đời của Ban chỉ đạo đã đáp ứng được yêu cầu phối hợp và thúc đẩy vấn đề tái cơ cấu trong lĩnh vực này.

Thứ ba, trong bối cảnh ngân sách rất khó khăn, chúng ta vẫn hết sức tập trung cho vấn đề an sinh xã hội, công tác xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo cho an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội... Mỗi năm, ngân sách dành cho an sinh xã hội tăng khoảng 20 - 26%, năm nay tăng ít nhất cũng khoảng 21 - 22%. Đây là một thành tích không thể phủ nhận và có thể xem là thành tựu quan trọng vì chúng ta đã thực hiện tốt ngay khi điều kiện cân đối ngân sách nhà nước còn ngặt nghèo.

Xem chi tiết: 

http://baotintuc.vn/thoi-su/dot-pha-ve-cai-cach-the-che-va-hanh-chinh-20140112145554518.htm

- “Bộ trưởng Tài chính kể khó việc minh bạch giá xăng dầu”. Cho rằng bức xúc của người dân cũng là điều mà Bộ Tài chính quan tâm trong quá trình điều hành, song Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng lý giải cái “khó” mà Bộ này gặp phải trong việc điều hành.Việc minh bạch giá xăng dầu là câu chuyện được bàn tới nhiều trong suốt thời gian qua khi giá xăng luôn trong tình trạng tăng một cốc, giảm một giọt và người dân luôn phập phồng với giá xăng.

Đã có không ít kiến nghị, chỉ đạo song nhiều ý kiến cho rằng, cái được cho là minh bạch mới chỉ đạt đến mức công khai việc hình thành, sử dụng Quỹ Bình ổn giá (BOG) xăng dầu của từng doanh nghiệp trong từng quý.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng yêu cầu các tập đoàn phải minh bạch về xăng dầu. Theo đó, các yếu tố hình thành giá bán, lợi nhuận... cần đưa lên truyền hình, đưa vào điện thoại di động để ai quan tâm bật máy lên là biết.

Tuy nhiên, trả lời trong chương trình Dân hỏi Bộ trưởng trả lời ngày 12/1, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng chia sẻ: có cái khó trong điều hành.

Theo đó, thứ nhất là tình hình kinh tế thế giới trong năm 2013 diễn biến phức tạp, tình tình trong nước khó khăn. Trong quá trình điều hành phải đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô theo mục tiêu chung trong Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ. 

Thứ hai, điều hành giá theo đúng pháp luật về giá. Thứ ba, giá của chúng ta điều hành phải theo định hướng, có sự quản lý của Nhà nước, trong quá trình điều hành, đảm bảo hài hòa lợi ích doanh nghiệp, nhà nước và người dân.

Xem chi tiết:

http://baodatviet.vn/kinh-te/thi-truong/bo-truong-tai-chinh-ke-kho-viec-minh-bach-gia-xang-dau-2364312/

- “TP.HCM: Giao dịch đất nền tăng 200%”. Năm 2013 có lẽ là năm dễ thở nhất đối với phân khúc đất nền tại TP.HCM. Chỉ tính riêng quý cuối cùng của năm 2013, lượng giao dịch trong phân khúc đất nền tăng 228% so với quý trước và tăng 43% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ tính riêng quý IV/2013, trong phân khúc đất nền, có 3 dự án mới gia nhập thị trường, cung cấp hơn 430 nền. Tổng nguồn cung sơ cấp khoảng 1.200 nền, tăng 93% so với quý trước và tăng 100% so với cùng kỳ năm trước. với nguồn cung lên đến 1.200 sản phẩm, thanh khoản của phân khúc đất nền tăng khá cao, song hơn 70% giao dịch thành công rơi vào các nền đất có giá dưới 12 triệu đồng mỗi m2 tại Hóc Môn, quận 9. Thống kê cho thấy, đối với đất nền đã có hơn 800 nền được chào bán trong năm 2013, tăng 11% so với năm 2012.

Theo giới đầu tư bất động sản, phân khúc đất nền tiếp tục được ưa chuộng bởi cả nhà đầu tư và người mua nhà do giá bán thấp hơn và linh hoạt trong việc xây dựng.

Bên cạnh đó, dự thảo quy chế về việc cho phép bán đất nền dự kiến sẽ thay đổi nguồn cung của thị trường nhà ở gắn liền với đất, đặc biệt là phân khúc đất nền trong năm 2014.

Xem chi tiết:

http://www6.vnmedia.vn/vn/bat-dong-san/tin-tuc/91_2096189/tp_hcm_giao_dich_dat_nen_tang_200.html

- “Năm 2014, còn áp lực lên lạm phát “. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, năm 2014 lạm phát tiềm ẩn nhiều khả năng tăng cao do tác động theo độ trễ của những chính sách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh năm 2013, cùng với đó là tình hình thiên tai, bão lũ, dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số CPI tháng 12-2013 tăng 6,04% so với tháng 12-2012. Đây là mức tăng thấp nhất ở Việt Nam trong 10 năm qua (2004 - 2013). Ông Phạm Minh Thụy - Viện kinh tế - Tài chính (Bộ Tài chính) đánh giá, diễn biến giá cả trong năm 2013 cho thấy CPI đã phá vỡ xu hướng biến động giá có tính quy luật là “hai năm nhanh, một năm chậm” đã hình thành ở nước ta trong 9 năm trước đó (2004 --2012).

“Điều này thể hiện sự điều hành, can thiệp vào thị trường, giá cả ở Việt Nam của Chính phủ đã chủ động, có liều lượng và bài bản hơn, do vậy giá cả không còn “nhảy múa”. Sự biến động của CPI giữa các tháng trong năm 2013 cũng không đột ngột, chênh lệch quá nhiều như những năm trước”, ông Phạm Minh Thụy phân tích. 

Tuy nhiên, một số chuyên gia lại cho rằng, sự ổn định của thị trường giá cả năm 2013 vẫn chưa thực sự vững chắc do chủ yếu chịu sự chi phối của tổng cầu thấp, cả đầu tư và tiêu dùng bên cạnh niềm tin kinh doanh và niềm tin tiêu dùng tuy được phục hồi nhưng vẫn còn thấp. Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng: “Lạm phát không còn là mối lo ngại lớn, không phải là con ngựa bất kham. Năm 2014, những khó khăn, thách thức của nền kinh tế về cơ bản vẫn còn, kinh tế thế giới dự báo có nhiều khó khăn. Mặc dù CPI đang trong tầm kiểm soát, sức mua yếu nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng giá”. 

TS. Vũ Đình Ánh nhận định, sang năm 2014, nỗ lực tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường và cố gắng thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể buộc dòng tiền vận động nhanh hơn với quy mô lớn hơn khiến áp lực lạm phát tăng lên.

Dự báo về tình hình giá cả, thị trường trong năm 2014, Cục quản lý giá (Bộ Tài chính) cho rằng trong năm tới, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường và doanh nghiệp trong năm 2013 sẽ tiếp tục phát huy tác dụng. Tuy nhiên, cơ quan này cũng lưu ý, năm 2014 cũng tiềm ẩn nhiều khả năng lạm phát tăng cao do tác động theo độ trễ của những chính sách tháo gỡ khó khăn sản xuất kinh doanh năm 2013. Thêm vào đó, tình hình thiên tai, bão lũ, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và việc tiếp tục thực hiện chủ trương điều hành giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với một số hàng hóa, dịch vụ như điện, than, dịch vụ khám chữa bệnh, học phí... cũng là những yếu tố có tác động mạnh tới giá cả.

http://www.anninhthudo.vn/thoi-su/nam-2014-con-ap-luc-len-lam-phat/532925.antd

- “Dịch vụ kho vận: Giải pháp tăng trưởng bền vững”. Theo báo cáo “Kho vận hiệu quả: Chìa khóa để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh”, hàng năm công ty vận chuyển hàng hóa qua đường thủy chi khoảng 100 triệu USD cho các chi phí kho phụ trội do chậm trễ trong thông quan xuất nhập khẩu, và đến năm 2020 ước tính lên đến 180 triệu USD. Còn theo báo cáo “Thúc đẩy thương mại thông qua giao thông vận tải có sức cạnh tranh, ít khí thải: Tuyến đường thủy nội địa, đường biển ở Việt Nam” của WB, việc khai thác thế mạnh ngành vận tải đường thủy là cách để giải quyết thách thức song song về tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Hiện vận tải đường thủy nội địa và ven biển đóng vai trò huyết mạch trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm 53% tổng trọng tải lưu thông trên cả nước. Góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại cho người nghèo và cận nghèo ở nông thôn.

Để ngành vận tải cạnh tranh hơn và dịch vụ kho vận hiệu quả hơn, các chuyên gia của WB cho rằng, đối với lĩnh vực kho vận, Việt Nam cần giảm thiểu thủ tục giấy tờ trong quy trình thông quan, nghiệp vụ xuất, nhập khẩu; nâng cao liên kết giữa nội địa và các cảng nước sâu ở các cổng giao dịch quốc tế; thực thi cân bằng cung - cầu trong các dịch vụ xử lý bốc dỡ container ở các cổng giao dịch quốc tế; tạo thuận lợi cho việc thâm nhập thị trường của các hãng quốc tế vào thị trường vận tải và các công ty cung cấp dịch vụ kho vận trọn gói của bên thứ ba.

Xem chi tiết:

http://baocongthuong.com.vn/thi-truong-trong-nuoc/48141/giai-phap-tang-truong-ben-vung.htm#.UtNEiLQyMno

- “Giá điện, xăng dầu làm méo mó nền kinh tế”. Thủ tướng chỉ rõ, giá điện phải theo thị trường, phải tính đúng, tính đủ, không bao cấp, bù lỗ làm méo mó nền kinh tế, không khuyến khích công nghệ rẻ, lạc hậu.  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ rõ như vậy tại Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác năm 2013, triển khai nhiệm vụ năm 2014 của Bộ Công thương ngày 10/1.

Tại hội nghị, Thủ tướng yêu cầu phải đảm bảo cân đối cung cầu những mặt hàng thiết yếu như điện, than, xăng dầu, đi liền với giá thị trường. Chúng ta đi một bước dài, xăng dầu không bù lỗ nữa, nhưng phải công khai, minh bạch các yếu tố hình thành giá.

"Tôi yêu cầu anh Hoàng (Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng - PV) bằng cách nào đó để các yếu tố hình thành giá nhập, giá bán phải công khai hết. Phương tiện thông tin có hết, đưa lên truyền hình, điện thoại di động, đâu có tốn bao tiền, ai bật lên cũng biết giá xăng dầu bao nhiêu tiền, yếu tố hình thành giá như thế nào, lợi nhuận ra sao”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Cũng theo Thủ tướng, giá điện phải theo thị trường, phải tính đúng, tính đủ, không bao cấp, bù lỗ làm méo mó nền kinh tế, không khuyến khích công nghệ rẻ, lạc hậu. Không thể giữ giá điện thấp, nhưng phải hết sức công khai, minh bạch yếu tố hình thành giá trên các phương tiện thông tin đại chúng, mà người dân nào muốn cũng tiếp cận được.

Từng nói về thông tin EVN đề nghị Chính phủ tiếp tục cho tăng giá điện ở mức hơn 1.533 đồng/kWh trong 2014, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nói, việc đó hợp lý nhưng cũng có vấn đề.

Ông Thành phân tích, không nói riêng EVN, mà tất cả các sản phẩm phân phối cho nền kinh tế với tính chất độc quyền phải điều chỉnh lại giá cho hợp với tình trạng thật của thị trường. Các cơ quan chức năng phải giám định, kiểm tra giá của các tổ chức đó.

EVN hay Viettel, Vinaphone, Mobiphone, tất cả đều ở trong tình trạng chưa rõ giá thật là gì, lợi nhuận là bao nhiêu, chênh lệch bao nhiêu là hợp lý.

"Về phía EVN, nếu làm sai thì phải sửa, chi phí chỗ nào không hợp lý thì phải giải trình. Chính phủ có trách nhiệm giám sát những cái EVN làm có đúng không, cũng là vai trò của các bộ ngành hữu quan. Chắc chắn cả chục năm nay rồi, chứ không phải giờ, từ những năm 80-90 đến nay, giá điện EVN không hợp lý, không đi sát giá thành của điện. Làm méo mó cả nền kinh tế Việt Nam. Từ chỗ giá điện như vậy thì nó ra giá thành cuối cùng của sản phẩm như vậy. Bây giờ điều chỉnh lại là nền kinh tế vướng vào thế khó", ông Thành phân tích.

Xem chi tiết:

http://baodatviet.vn/kinh-te/thi-truong/gia-dien-xang-dau-lam-meo-mo-nen-kinh-te-2364293/

- “Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường:Có 10 loại thuế phí trên một đầu xe cũng đúng, nhưng...”. 'Nếu thống kê có tới 10 loại thuế phí trên một đầu xe cũng đúng, nhưng tôi khẳng định Bộ GTVT không thu phí nào chồng phí nào hết", Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Hồng Trường nói.

Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường cho biết: Trong bảo trì đường bộ sẽ có sửa chữa định kỳ (còn gọi là sửa chữa thường xuyên), sửa chữa vừa và sửa chữa lớn. Theo rà soát của Bộ GTVT, năm 2014 Bộ cần khoảng 13.000 tỷ cho công tác sửa chữa đường bộ. Trong đó bao gồm cả sửa chữa thường xuyên, sửa chữa vừa và sửa chữa lớn. Sửa chữa thường xuyên sẽ bao gồm các công việc nhằm đảm bảo cho hoạt động trên các tuyến quốc lộ được an toàn, thông suốt. Như vệ sinh cống rãnh thoát nước, phạt cây cối... Tổng số tiền chi cho sửa chữa thường xuyên chiếm khoảng 1/3-1/4 tổng số tiền dành cho sửa chữa đường bộ.

Trong năm 2014, Bộ GTVT dành khoảng gần 7.000 tỷ cho sửa chữa đường bộ, con số sửa chữa thường xuyên chiếm khoảng 1.500 tỷ. Số tiền này sẽ được rải đều cho các địa phương và các tuyến đường phía dưới.

Thứ hai là khoản tiền sửa chữa tập trung. Gồm sửa chữa vừa và sửa chữa lớn chiếm tỉ phần còn lại.

Để có nguồn tiền này, từ năm 2013 Bộ GTVT đã tiến hành thu phí bảo trì đường bộ. Theo tính toán, cả năm thu được khoảng 5.500 tỷ (chiếm 40%) nhu cầu sửa chữa. Số tiền còn thiếu Bộ đề nghị xin cấp từ nguồn tiền ngân sách là 1.500 tỷ, nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 2/3.

Bên cạnh đó, Bộ GTVT đã huy động sự hỗ trợ  từ các doanh nghiệp ứng trước tiền vật liệu. Số tiền này sẽ được trích từ quỹ để hoàn trả sau.

Xem chi tiết:

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/thu-truong-nguyen-hong-truong-co-10-loai-thue-phi-tren-mot-dau-xe-cung-dung-nhung-2364288/

- “Thói xấu của người Việt khiến hàng Trung Quốc ngập thị trường”.  Sau hơn 10 năm, nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng gấp 100 lần, hàng Trung Quốc ồ ạt chảy vào thị trường Việt Nam từ chiếc tăm tre, dây chun đến những sản phẩm công nghệ cao. Thực tế, việc hàng Trung Quốc ngập thị trường Việt Nam vừa có lý do khách quan vừa có lý do chủ quan.

Trước thực tế này, tại Hội thảo "Cạnh tranh toàn cầu và hướng đi cho người khởi nghiệp" diễn ra vào ngày 11/1 vừa qua, các chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh, TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, TS Phạm Chi Lan - nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, TS Lê Đăng Doanh - nguyên là Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương đã lý giải và đề xuất những biện pháp đẩy mạnh sự cạnh tranh của doanh nghiệp Việt.TS Lê Xuân Nghĩa - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh dẫn ý từ một bài báo đăng tải trên tờ Tạp chí Viễn Đông khi nghiên cứu về kinh tế Trung Quốc và sức cạnh tranh của nền kinh tế Trung Quốc đã gọi Trung Quốc là "Chủ nghĩa tư bản rừng rú", có tính hủy diệt, không chỉ ở Việt Nam mà ở toàn cầu trong đó có cả Mỹ.

TS Lê Xuân Nghĩa cũng cho biết, vị Chủ tịch tập đoàn người Mỹ đã từng phải phát khóc vì sức cạnh tranh khủng khiếp của hàng hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, TS Lê Xuân Nghĩa cũng nhìn nhận, sức cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam đồng thời cũng là cơ hội lớn để doanh nghiệp Việt học tập từ Trung Quốc.

"Chúng ta có khiếm khuyết khủng khiếp về đổi mới công nghệ, tầm tư duy kỹ thuật, tư duy trí tuệ quá yếu kém, kể cả kỹ sư vì không có thực tiễn", TS Lê Xuân Nghĩa nói.

Ông dẫn chứng, một giám đốc công ty xây dựng muốn sản xuất thêm nồi đa năng và đã đặt trường ĐH Bách Khoa Hà Nội thiết kế nhưng phải mất 2 năm trường ĐH Bách Khoa mới thiết kế xong với giá bán 2,1 triệu đồng. Chiếc nồi đa năng dù được quảng cáo nhiều vẫn ế.

Trong khi cùng ý tưởng sản xuất cũng chiếc nồi này tại Trung Quốc chỉ trong vòng 4 tiếng đã đưa ra 6 phiên bản thiết kế và họ nói luôn hoặc lấy thiết kế về sản xuất hoặc lấy phụ kiện về lắp ráp. Chiếc nồi có giá chỉ 210.000 đồng và bán ra 450.000 đồng.

Xem chi tiết:

http://baodatviet.vn/kinh-te/thi-truong/thoi-xau-cua-nguoi-viet-khien-hang-trung-quoc-ngap-thi-truong-2364289/

-“Thống nhất sử dụng cách tính chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước “. Chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) được dùng để phân tích kinh tế và hoạch định chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, mà ít có ý nghĩa đối với cấp tỉnh, huyện, xã. Thế nhưng, thực tế hiện nay cho thấy, có sự chênh lệch giữa tốc độ tăng GDP của quốc gia chỉ khoảng 5-6%, trong khi địa phương nào tốc độ tăng GDP cũng từ 8% trở lên, thậm chí 14%.

Ngày 25-12-1992, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 183/TTg về việc chính thức áp dụng Hệ thống các tài khoản Quốc gia (System of National Accounts-SNA). Điều 1 của Quyết định nêu rõ "Bắt đầu từ năm 1993, áp dụng hệ thống tài khoản quốc gia trên phạm vi cả nước, thay cho hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc dân và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp tương ứng". Theo đó, chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) được tính toán thay cho chỉ tiêu "Thu nhập quốc dân". Quyết định trên đã chỉ rõ hệ thống tài khoản quốc gia nói chung và chỉ tiêu GDP nói riêng chỉ áp dụng cho phạm vi cả nước.

Chỉ tiêu GDP là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, ngay tên gọi cũng cho thấy đây là một chỉ tiêu ở tầm quốc gia, và phương pháp luận chỉ phù hợp tính cho toàn bộ nền kinh tế. Trong cuốn SNA chính thức xuất bản bởi LHQ không đề cập đến tính GDP cấp tỉnh, vì thế phần lớn các nước chỉ tính GDP cho phạm vi cả nước, chỉ có một số nước tính cho phạm vi cấp tỉnh hoặc vùng như Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Thái-lan, Ca-na-đa,... Trong SNA thì nguyên tắc thường trú và không thường trú là một nguyên tắc quan trọng để xác định phạm vi tính toán chỉ tiêu GDP. Khái niệm thường trú không dựa trên cơ sở quốc tịch hay tiêu chuẩn pháp lý của quốc gia mà dựa vào trung tâm lợi ích kinh tế và mức độ thời gian hoạt động trên lãnh thổ quốc gia đó. Về ý nghĩa, chỉ tiêu GDP được dùng để phân tích kinh tế và hoạch định chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, mà ít có ý nghĩa đối với cấp tỉnh, huyện, xã.

Ở Việt Nam, để đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ sự lãnh đạo, điều hành của T.Ư, của Đảng bộ và chính quyền cấp tỉnh, Tổng cục Thống kê đã chỉ đạo tập trung, thống nhất các Cục Thống kê tính tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư (GRDP). Về khái niệm, nội dung, nguồn số liệu và phương pháp tính ở cả T.Ư và địa phương đều thống nhất theo quy định của Hệ thống tài khoản quốc gia. Tuy vậy, sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta rất nhanh trong thập kỷ qua và các doanh nghiệp cũng được hình thành và phát triển mạnh mẽ (nhất là từ khi có Luật Doanh nghiệp). Các doanh nghiệp hoạt động năng động và luôn luôn có xu hướng mở rộng sản xuất. Nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tại một địa phương nhưng lại hoạt động ở nhiều địa phương khác. Điều đó dẫn đến trường hợp các tỉnh, thành phố tính trùng. Thực tế này cùng với những khó khăn trong việc thu thập thông tin của các đơn vị hạch toán toàn ngành, thu thập thông tin về thuế nhập khẩu chia theo tỉnh, thành phố... không cho phép tính GDP của tỉnh, thành phố một cách chính xác (hầu hết các nước tổ chức tính GDP cấp tỉnh, thành phố đều xảy ra tình trạng chênh lệch số liệu ở cấp quốc gia và cấp tỉnh, thành phố).

Xem chi tiết:

http://www.nhandan.org.vn/kinhte/tin-tuc/item/22125602-thong-nhat-su-dung-cach-tinh-chi-tieu-tong-san-pham-trong-nuoc.html

- “Ngành sữa cạnh tranh khốc liệt”. Mức tiêu thụ các sản phẩm sữa dạng nước trên đầu người của người VN hiện ở mức 15 lít/năm, so với 34 lít/năm ở Thái Lan, 25 lít/năm ở Trung Quốc hay 112 lít/năm ở Anh, cho thấy tiềm năng tăng trưởng trong lĩnh vực này còn rất lớn.

Năm 2013, thị trường sữa nước ước đạt 670.000 tấn, tương đương 18.000 tỉ đồng và dự tính đạt hơn 1.000 tấn, tương đương 34.000 tỉ đồng vào năm 2017. Thị trường sữa bột năm 2013 cũng đạt 70.000 tấn, tương đương 28.000 tỉ đồng và sẽ tăng lên mức 90.000 tấn (tương đương 48.000 tỉ đồng) vào năm 2017. Với những dự báo khả quan này, hàng loạt doanh nghiệp sữa đã đầu tư xây dựng nhà máy, mở rộng công suất để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Tháng 6.2013, Nhà máy sữa bột NutiFood được khởi công xây dựng với tổng công suất 50.000 tấn sữa bột/năm, nhà máy sẽ đáp ứng nhu cầu sử dụng sữa đạt chuẩn quốc tế cho khoảng 600.000 trẻ em VN mỗi năm, từ đầu năm 2014.

Năm 2014 TH milk dự kiến sẽ đưa vào vận hành toàn bộ siêu Nhà máy Mega Plant, với tổng công suất dự kiến 1.700 tấn/ngày (tương đương 500 triệu lít/năm) để thực hiện mục tiêu đạt doanh thu năm 2015 là 15.000 tỉ đồng, năm 2017 là 23.000 tỉ đồng.

Vinamilk, doanh nghiệp đang chiếm thị phần lớn nhất trong ngành sữa trong nước, cũng đang nỗ lực mở rộng thị trường. Sau khi đưa vào hoạt động 2 nhà máy sản xuất sữa bột và sữa nước hiện đại tại Bình Dương, Vinamilk tiếp tục tăng vốn đầu tư từ 121 triệu NZD (tiền New Zealand) lên gần 148 triệu NZD để đảm bảo tỷ lệ sở hữu 19,33% vốn tại Nhà máy sữa Miraka ở New Zealand. Ngoài ra, Vinamilk cũng nhận được giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài cho khoản góp vốn trị giá 7 triệu USD vào Công ty Driftwood tại Mỹ, tương đương 70% vốn chủ sở hữu tại công ty sữa này. Năm 2014, Vinamilk dự kiến sẽ mở thêm một nhà máy ở thủ đô Phnom Penh (Campuchia) chuyên sản xuất sữa đặc, sữa chua, sữa tiệt trùng. Với chiến lược mở rộng kinh doanh toàn cầu, Vinamilk kỳ vọng đạt doanh thu 3 tỉ USD vào năm 2017.

Mặc dù các dự án chế biến sữa đang nở rộ nhưng đàn bò sữa trong nước mới đáp ứng nhu cầu khoảng 28% thị trường. Năm 2013 vẫn phải nhập gần 841 triệu USD sữa và sản phẩm sữa cho nhu cầu tiêu dùng. Thấy được tình hình này, từ đầu năm 2007, Vinamilk đã đầu tư hơn 500 tỉ đồng xây dựng 5 trang trại bò sữa tại Tuyên Quang, Lâm Đồng, Bình Định, Nghệ An, Thanh Hóa, nhập khẩu bò giống bò cao sản thuần chủng HF từ Úc. Sắp tới, Vinamilk sẽ đầu tư thêm 4 trang trại mới với tổng vốn đầu tư khoảng 3.000 tỉ đồng với 3.000 con bò. Trong khi đó, đàn bò sữa cao sản của Công ty TH milk đến cuối năm 2013 đã đạt 45.000 con, dự kiến sẽ tăng lên 137.000 con vào năm 2017. Ông Nguyễn Đăng Vang, Chủ tịch Hội Chăn nuôi VN, cho biết: “Tổng đàn bò sữa năm 2012 có 167.000 con, dự kiến sẽ tăng lên 400.000 con vào năm 2020, tổng sản lượng sữa tươi lúc đó sẽ tăng lên gần gấp 3 lần, từ 381.000 tấn hiện nay lên 1 triệu tấn vào 2020; nhưng cũng chỉ đáp ứng 35% nhu cầu tiêu dùng sữa tươi trong nước. Vì vậy, Chính phủ cần tiếp tục thực hiện chương trình giống quốc gia, cần khôi phục lại dự án giống bò sữa vì VN đang rất thiếu sản phẩm quan trọng này”.

Xem chi tiết:

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140112/nganh-sua-canh-tranh-khoc-liet.aspx

- “Có hay không lỗ hổng trong thu hút FDI?”. Đây là câu hỏi mà các chuyên gia cũng như các nhà hoạch định chính sách đặt ra khi nhìn lại hơn 25 năm Việt Nam mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Theo Bộ Kế hoạch – Đầu tư, tính đến hết năm 2013, Việt Nam đã có hơn 15.696 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký khoảng 230 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện khoảng 112 tỷ USD.

Những đóng góp của FDI là không thể phủ nhận. FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần tăng năng suất sản xuất, đổi mới công nghệ, trình độ quản lý, tăng kim ngạch và thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo công ăn việc làm…

Đồng thời, FDI cũng có tác dụng lan tỏa đến các khu vực khác của nền kinh tế, khơi dậy nguồn lực đầu tư trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải cách doanh nghiệp nhà nước, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư nước ngoài cũng đã bộc lộ không ít hạn chế.

Ông Nguyễn Văn Trung, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư cho rằng, chất lượng của các dự án FDI nhìn chung chưa cao, số dự án sử dụng công nghệ cao còn ít, giá trị gia tăng thấp, không ít doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ lạc hậu; đặc biệt, một số doanh nghiệp FDI có biểu hiện sử dụng phương thức chuyển giá để trốn thuế, gây thất thu ngân sách.

Trong khi đó, các chuyên gia cho rằng, từ trước tới nay, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của chúng ta chỉ chạy theo số lượng mà “quên” đi chất lượng.

Minh chứng cho điều này có thể thấy rằng, vốn đăng ký của các dự án FDI rất lớn nhưng giải ngân lại rất ít. Hiện cả nước có 287 KCN nhưng hầu hết đều là những KCN kiểu “thập cẩm”, đa ngành, đa nghề, nhỏ lẻ, manh mún, không được chuyên môn hóa, không có những sản phẩm đặc thù có giá trị gia tăng cao.

Theo các chuyên gia, đã đến lúc chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam phải biết “khước từ” những ngành nghề, lĩnh vực chưa cần thiết. Cụ thể là hạn chế những ngành nghề sử dụng nguồn tài nguyên lớn nhưng giá trị gia tăng thấp, công nghệ lạc hậu hoặc những ngành nghề mà doanh nghiệp trong nước có thể làm tốt.

Gần đây, dư luận xã hội cũng đặc biệt quan tâm đến thực trạng các doanh nghiệp nước ngoài thao túng thị trường thức ăn và chăn nuôi gia súc, gia cầm; hay thao túng thị trường bán buôn, bán lẻ dẫn đến doanh nghiệp trong nước phải ngậm đắng thua ngay trên sân nhà.

Điều này đặt ra câu hỏi, phải chăng chúng ta đang có lỗ hổng trong thu hút đầu tư nước ngoài?

Xem chi tiết:

http://toquoc.gov.vn/Sites/vi-vn/details/3/kinh-te-viet-nam/121325/co-hay-khong-lo-hong-trong-thu-hut-fdi.aspx

- “Doanh nghiệp trước thách thức tăng năng suất lao động”. So với các nước trong khu vực cạnh tranh trực tiếp, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn Indonesia 10 lần, thấp hơn Malaysia 20 lần, Thái Lan gần 30 lần.

Xem chi tiết:

http://cafef.vn/doanh-nghiep/doanh-nghiep-truoc-thach-thuc-tang-nang-suat-lao-dong-201401122304579807ca36.chn

- “Ngành xổ số nộp ngân sách TPHCM 1.781 tỷ đồng”. Trong năm 2013, Công ty TNHH MTV Xổ số Kiến thiết TPHCM thực hiện tổng doanh thu 5.255 tỷ đồng, đạt 101,01% kế hoạch, tăng 3,24 so năm trước; lợi nhuận 643 tỷ đồng; nộp ngân sách TPHCM 1.781 tỷ đồng, đạt 102,71% kế hoạch.

Điểm nổi bật trong năm qua là công ty được Sở KH-CN TPHCM phê duyệt phương án trích lập Quỹ phát triển KH-CN để đầu tư thiết bị, nghiên cứu ứng dụng công nghệ kỹ thuật số vào công đoạn in vé số thay cho kỹ thuật in offset; đầu tư hệ thống máy quay số mở thưởng điện tử…Được biết trong năm 2013, theo quy định pháp luật, lãnh đạo UBND TPHCM đã chi đầu tư xây mới, cải tạo nhiều công trình y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội… được trích từ khoản nộp ngân sách của công ty (1.724 tỷ đồng) trong năm 2012. 

Xem chi tiết:

http://sggp.org.vn/kinhte/2014/1/337733/

(T.H - tổng hợp)