Các báo viết về Tài chính ngày 15/3/2016

**Bộ Tài chính: Bỏ cơ chế "bù" ngân sách cho lọc dầu Dung Quất; **Dung Quất trước nguy cơ đóng cửa, Thứ trưởng Bộ Tài chính: 'Giảm thuế là cần thiết'; **“Dựa vào FDI thì thế mặc cả của Việt Nam càng kém”; **Người dân bị "móc túi" làm giàu cho DN xăng dầu, Bộ Công Thương nói gì?; **IFRS sẽ áp dụng với doanh nghiệp niêm yết; **Cần làm gì để 'con gà đẻ trứng vàng' của Việt Nam bay cao hơn; **Thủ tục hải quan mới nhanh... trên giấy; **Tại sao nhà đầu tư Hàn thích chứng khoán Việt?; **Ngưỡng nợ công Việt Nam và ngưỡng trách nhiệm; **Thách thức tăng trưởng khi trần nợ công chạm ngưỡng...

PGS. TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. Ảnh: TL.PGS. TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. Ảnh: TL.

Lãnh đạo Bộ Tài chính cho hay, việc điều chỉnh chính sách thuế đối với Lọc hoá dầu Dung Quất tới đây theo đề xuất của doanh nghiệp này là để doanh nghiệp trong nước bình đẳng với nhà nhập khẩu nước ngoài.

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn, từ năm 2016, nhất là khi thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Việt Nam-Hàn Quốc có hiệu lực, mặt hàng xăng từ mức thuế suất 20% xuống 10% tạo nên sự chênh lệch lớn giữa thuế suất thuế nhập khẩu theo mức thông thường và thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi theo mức ưu đãi đặc biệt của các Hiệp định FTA.

“Việc đề xuất của Bình Sơn chúng tôi thấy hoàn toàn cần thiết và hợp lý, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa các sản phẩm từ cơ sở sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu. Điều này cũng đảm bảo được mức bảo hộ hợp lý theo đúng các cam kết quốc tế khi Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại”- Thứ trưởng nói.

Bày tỏ rõ hơn quan điểm của Bộ Tài chính, ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết, việc thực hiện các chính sách vừa qua đối với Bình Sơn hoàn toàn không phải ưu đãi mà là nghĩa vụ của Bình Sơn đối với NSNN. Do vậy để thực hiện nghĩa vụ này thì nhà sản xuất trong nước phải được bình đẳng với nhà nhập khẩu từ Hàn Quốc.

Xem chi tiết:

http://infonet.vn/bo-tai-chinh-bo-co-che-bu-ngan-sach-cho-loc-dau-dung-quat-post193442.info

Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn nói: Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ xóa bỏ cơ chế cấp bù tiền cho Dung Quất trong trường hợp thuế nhập khẩu về dưới 7%.

Do giá dầu thế giới xuống thấp, việc tiêu thụ sản phẩm xăng dầu năm 2016 của Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (đơn vị quản lý vận hành Nhà máy lọc dầu Dung Quất) thời gian qua đã gặp nhiều khó khăn.

Trước thực trạng này, Tập đoàn PVN và Công ty Bình Sơn đã đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, xem xét và điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu đối với xăng, dầu diesel, madút và JET-A1 nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Ý kiến về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết, từ năm 2016, nhất là khi thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Việt Nam - Hàn Quốc (FTA Việt Nam - Hàn Quốc) có hiệu lực, thuế suất với xăng giảm 20% về 10% tạo nên sự chênh lệch lớn giữa thuế nhập khẩu theo mức thông thường và thuế ưu đãi của các FTA.

“Do vậy, việc đề xuất của Bình Sơn chúng tôi thấy hoàn toàn cần thiết và hợp lý, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa các sản phẩm từ cơ sở sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu.

Điều này cũng đảm bảo được mức bảo hộ hợp lý theo đúng các cam kết quốc tế khi Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại. Quan điểm của chúng tôi cho rằng, việc thực hiện các chính sách vừa qua đối với Bình Sơn hoàn toàn không phải ưu đãi mà là nghĩa vụ của Bình Sơn đối với NSNN.

Do vậy để thực hiện nghĩa vụ này thì nhà sản xuất trong nước phải được bình đẳng với nhà nhập khẩu từ Hàn Quốc”- ông Tuấn nhấn mạnh.

Xem chi tiết:

http://vietq.vn/dung-quat-truoc-nguy-co-dong-cua-thu-truong-bo-tai-chinh-giam-thue-la-can-thiet-d84706.html

“Muốn tăng trưởng, muốn thành tích phải dựa vào FDI nhưng dựa vào thì thế mặc cả của Việt Nam sẽ càng kém, và rồi toàn những ông kiếm chác vào Việt Nam”, PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết.

Tại hội thảo công bố báo cáo tổng quan thị trường tài chính năm 2015 và chỉ số kinh tế dẫn báo do Ủy ban giám sát tài chính quốc gia tổ chức sáng 14/3, ông Trần Đình Thiên đã đưa ra những quan điểm liên quan đến vấn đề ngân sách nhà nước, tăng trưởng kinh tế, tái cơ cấu kinh tế…

Theo ông Thiên, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2015 vừa qua với mức 6,68% trong bối cảnh kinh tế thế giới kém đi là “có gì đó vĩ đại” và tiềm ẩn những bất thường.

“Bất thường vì điều kiện hiện giờ dễ sinh ra ảo tưởng. Thực tế ta không tốt hơn đâu để đánh giá tốt hơn như nào cho chính đáng nếu không sẽ dẫn đến ảo tưởng chính sách. Thế giới chết cả, Việt Nam bơi băng băng liệu đây có là ta hay ta nào”, ông Thiên nói.

Cũng theo Viện trưởng Thiên, cần nhấn mạnh sự phục hồi kinh tế năm 2015 vừa qua độ vững chắc đến đâu vì xu hướng chung tươi sáng nhưng có lẽ không tươi sáng đến mức đó.

Với 3 nhiệm vụ phục hồi tăng trưởng, ổn định vĩ mô; tái cơ cấu và thứ 3 là hội nhập nhiệm vụ hội nhập Việt Nam đã hội nhập mạnh, đã “xông pha vào lửa đạn” nhưng 2 nhiệm vụ còn lại cần có sự đánh giá kỹ hơn.

Theo ông Thiên, tăng trưởng GDP đã vượt xa dự kiến nhưng phần đóng góp của khu vực nội địa rất thấp, chủ yếu nằm ở khu vực FDI.

“Tôi không phản ứng nhận định FDI là một phần của Việt Nam nhưng khu vực nội địa cứ yếu sẽ nguy hiểm. Lúc đó tăng trưởng do ai, vì ai là quan trọng. Ta hiện tăng trưởng do áp lực dựa vào FDI là rất cao vì khu vực nội địa rất yếu”, ông Thiên lưu ý.

Ông Thiên cho biết, muốn tăng trưởng cao và đạt được thành tích tăng trưởng Việt Nam đang phải dựa vào FDI và việc dựa vào FDI khiến vị thế mặc cả của Việt Nam càng kém, sau đó Việt Nam sẽ chỉ thu hút được những doanh nghiệp “kiếm chác”.

Xem chi tiết:

http://bizlive.vn/doanh-nghiep/dua-vao-fdi-thi-the-mac-ca-cua-viet-nam-cang-kem-chi-thu-hut-cac-doanh-nghiep-kiem-chac-1631122.html

Trước thông tin doanh nghiệp xăng dầu đang hưởng lợi lớn từ chênh lệch thuế suất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho biết, công thức tính giá cơ sở đối với sản phẩm xăng dầu áp mức thuế nhập khẩu ưu đãi...

Bộ Công Thương vừa chính thức lên tiếng về cách áp thuế xăng dầu khiến các doanh nghiệp xăng dầu được hưởng lợi lớn.

Theo đó, Bộ Công Thương cho biết: Theo điểm b Khoản 2 Điều 40 Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, Bộ Tài chính được giao thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về giá; chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương hướng dẫn phương pháp tính giá cơ sở làm căn cứ điều hành giá bán lẻ xăng dầu trong nước.

"Hiện nay, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, trong công thức tính giá cơ sở đối với sản phẩm xăng dầu thì mức thuế nhập khẩu là mức thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN)", Bộ Công thương cho biết.

Bộ Công Thương đã và đang tiếp tục đề nghị và phối hợp với Bộ Tài chính sớm có giải pháp tài chính tổng thể xử lý hài hòa việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu theo lộ trình của các FTA theo cam kết hội nhập quốc tế trên cơ sở bảo đảm lợi ích của Nhà nước; các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất xăng dầu và các đối tượng tiêu dùng

Xem chi tiết:

http://soha.vn/kinh-doanh/nguoi-dan-bi-moc-tui-lam-giau-cho-dn-xang-dau-bo-cong-thuong-noi-gi-20160314225048457.htm

“Việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam dự kiến bắt đầu từ giai đoạn 2017-2018 khi Luật Kế toán 2015 có hiệu lực. Thời gian đầu, IFRS sẽ áp dụng đối với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp niêm yết trên TTCK…”, ông Đặng Thái Hùng, Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính chia sẻ với ĐTCK.

Ông Hùng cho biết: Điểm khác biệt lớn là VAS hạch toán theo nguyên tắc giá gốc, còn IFRS theo nguyên tắc giá thị trường (giá trị hợp lý). IFRS được xây dựng để áp dụng cho các nền kinh tế phát triển, khi mà các yếu tố thị trường đã phát triển đồng bộ, có thị trường thuận lợi cho định giá các loại tài sản theo giá thị trường. Các yếu tố này chưa có được đầy đủ ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nên việc áp dụng nguyên vẹn bộ Chuẩn mực IFRS gặp không ít khó khăn.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như vì những lợi ích rõ nét mà IFRS đem lại cho nền kinh tế từ kinh nghiệm của nhiều nước như: cải thiện tính minh bạch và mức độ tin cậy về thông tin tài chính của các doanh nghiệp; nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp…, nên Việt Nam đang có những bước đi quan trọng để chuẩn bị áp dụng IFRS.

Cụ thể, “Chiến lược phát triển kế toán - kiểm toán Việt Nam đến 2020, tầm nhìn 2030” đã khẳng định, Việt Nam quyết tâm áp dụng IFRS, đồng thời Luật Kế toán 2015 có hiệu lực từ 1/1/2017, đã bổ sung nguyên tắc giá trị hợp lý. Đây là những bước chuẩn bị chủ động, cần thiết để tiến đến áp dụng IFRS.

Xem chi tiết:

http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/ifrs-se-ap-dung-voi-doanh-nghiep-niem-yet-145141.html

Dệt may được coi là "con gà đẻ trứng vàng" của nền kinh tế Việt Nam. "Con gà" này còn có thể đẻ thêm nhiều trứng vàng nữa khi Việt Nam tham gia hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới nếu có chính sách hỗ trợ tốt.

Ngành dệt may Việt Nam được xem là một trong những lĩnh vực nhận được nhiều lợi ích nhất từ các hiệp định thương mại mà chúng ta đã ký kết trong thời gian qua, khi đây luôn là một trong những ngành có tổng kim ngạch xuất khẩu đạt giá trị lớn nhất trong những năm qua và nhất là vẫn còn khá nhiều dư địa để tăng trưởng.

Với việc thuế suất với hàng dệt may Việt Nam ở nhiều hạng mục sẽ được giảm về mức 0% trong các hiệp định thương mại như TPP hay FTA EU-Việt Nam, thì việc lợi thế mà ngành dệt may nhận được là điều không có gì phải bàn cãi. Tuy nhiên, để tận dụng được tối đa những lợi thế này, thì ngành dệt may Việt Nam cần một chính sách hỗ trợ đặc biệt, để đón đầu những lợi thế lớn đó.

Trong thời gian vừa qua, các kênh truyền thông của Việt Nam cũng như thế giới đã nói quá nhiều đến các lợi ích mà lĩnh vực dệt may của chúng ta có thể nhận được thông qua các quy định trong những hiệp định thương mại lớn, như TPP hay FTA EU-Việt Nam, tuy nhiên những quan điểm thực tế về việc làm thế nào để tận dụng được các lợi thế đó thì lại không có nhiều. Một nguyên tắc cơ bản của các hiệp định thương mại là lợi ích chỉ đến với những ai có sự chuẩn bị tốt nhất để tận dụng nó, chứ không phải là sung để cứ há miệng là rơi vào. Trên thực tế, ngành dệt may của Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề nội tại cũng như những vấn đề mà các hiệp định thương mại đem lại, mà nếu không được xử lý một cách hiệu quả, thì không những không tận dụng được thời cơ và lợi ích mà còn có thể lâm vào tình trạng bị chèn ép và giảm sút khả năng hoạt động.

Vấn đề nội tại lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam hiện này là tiềm lực yếu. Dù tổng kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam trong năm 2015 lên tới 27,5 tỉ USD thì trên thực tế tiềm lực của các doanh nghiệp dệt may nội địa là rất nhỏ. Theo thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, thì cũng giống như các ngành khác trong nền kinh tế hiện nay, hiện 70% kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đến từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), trong khi đó số doanh nghiệp FDI chỉ chiếm 20% tổng số doanh nghiệp trong ngành dệt may.

Xem chi tiết:

http://motthegioi.vn/dau-tu-kinh-doanh/can-lam-gi-de-con-ga-de-trung-vang-cua-viet-nam-bay-cao-hon-297251.html

Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan vào cuối năm 2015, đến thời điểm đó đã chuẩn hóa được 23 thủ tục mới, thay thế 128 thủ tục, bãi bỏ 84 thủ tục, giữ nguyên 13 thủ tục...
 
Tuy nhiên theo phản ánh của các doanh nghiệp, hầu hết thủ tục thông quan ở luồng đỏ, vàng không có gì thay đổi.
 
Theo chân Tuấn, nhân viên có 12 năm kinh nghiệm làm thủ tục hải quan cho nhiều doanh nghiệp (DN) giao nhận nước ngoài lớn tại TP.HCM, chúng tôi thấy quy trình thông quan hàng hóa vẫn hết sức nhiêu khê, mất thời gian. “Chỉ có thủ tục khai báo luồng xanh (luồng ưu tiên miễn kiểm tra thực tế) thay đổi chút chút, thời gian làm thủ tục trước đây 1 ngày rưỡi, nay giảm xuống hơn 1 ngày. Còn thủ tục khai báo hàng hóa tại hai luồng đỏ và vàng vẫn giữ nguyên như trước, chẳng có gì thay đổi cả. Các chi phí phát sinh không có biên lai hóa đơn thì vẫn như cũ, không giảm đồng nào cả”, Tuấn nói.
 
Thực tế, các thủ tục hàng hóa phân luồng xanh vẫn phải trải qua các bước gồm khai tên trên hệ thống mạng, phân luồng tự động, đăng ký mở tờ khai tại chi cục, nộp thuế, thông quan, thanh lý. Theo anh Tuấn, khi hàng hóa đã thanh lý xong, với luồng xanh, anh vẫn phải quay về công ty in tờ khai để nộp, muốn in tại chỗ trả phí “nhờ in” khoảng 20.000 đồng/phiếu. Mỗi lần làm thủ tục, in không dưới 10 tờ khai như vậy. Nhưng kể cả khi đã hoàn tất các thủ tục, nếu chẳng may nhân viên quên bấm nút hoàn tất hồ sơ, thông tin không được truyền lên mạng thì dù đã chạy xuống cảng cũng phải quay ngược lại hải quan... nhờ bấm nút “OK” rồi mới tiếp tục được.
 
Không chỉ thủ công hóa một thủ tục điện tử mà có nhiều khâu thừa song hải quan vẫn "miệt mài" áp dụng. Chẳng hạn, với hàng thanh lý có phiếu xuất kho (hàng lẻ) và phiếu E (hàng container) đầy đủ thông tin song khi ra cảng mang theo tờ xuất kho này rồi vẫn phải làm thêm khâu “ghi vào sổ tàu” các thông tin “y chang” đã đăng ký tờ khai trước đó. Theo các DN, khâu “vào sổ tàu” là không cần thiết bởi thông tin đã được điện tử hóa và duyệt qua bảng điện tử, thêm bước thủ công này chỉ khiến quy trình tự động qua mạng vô nghĩa và tiêu cực cũng từ đó mà ra.

Xem chi tiết:

http://thanhnien.vn/kinh-doanh/thu-tuc-hai-quan-moi-nhanh-tren-giay-680752.html

Tuần qua, HOSE đã có buổi tiếp xúc với hàng trăm nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc đến tìm hiểu cơ hội đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Theo ông Nguyễn Quang Thuận, Tổng giám đốc công ty StoxPlus, từ thành công trong lĩnh vực thương mại giữa hai nước Việt – Hàn trong thời gian qua đã khiến các nhà đầu tư Hàn Quốc ngày càng muốn tìm kiếm cơ hội tại Việt Nam.

Sau khi Việt Nam ký Hiệp định Thương mại song phương (FTA) với Hàn Quốc và Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) sắp có hiệu lực, đang có những “làn sóng” đầu tư từ Hàn Quốc tìm kiếm cơ hội “đổ” vào Việt Nam. Nếu trước đó, từ những năm 2007 phần lớn những dòng vốn vào Việt Nam khoảng 6,3 tỷ USD chủ yếu đến từ Nhật, Mỹ, Singapore, Hồng Kông, thì những năm gần đây người Hàn Quốc mới là nhân vật “đổ” vốn mạnh vào Việt Nam.

Nhà đầu tư Hàn Quốc không chỉ đầu tư bằng hình thức FDI, họ muốn đầu tư thông qua mua cổ phần (vốn gián tiếp - FII), trong đó những doanh nghiệp Nhà nước sẽ thoái vốn cũng như IPO của các doanh nghiệp tư nhân là những tiêu điểm họ lựa chọn.

Xem chi tiết:

http://bizlive.vn/chung-khoan/tai-sao-nha-dau-tu-han-thich-chung-khoan-viet-1631462.html

Câu chuyện nhận được nhiều chú ý của xã hội trong những ngày qua là tỷ trọng nợ công của Việt Nam đang sắp kịch trần mức giới hạn mà Quốc hội cho phép là 65% GDP. Và nó đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế, và nhất là an ninh tài chính quốc gia.

Gánh nặng nợ công tăng lên đang dẫn đến việc Việt Nam phải chi ra ngày càng nhiều tiền hơn để thanh toán lãi và một phần nợ gốc, và nó đang lạm mạnh vào nguồn vốn đầu tư cho xã hội và nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu nhìn rộng hơn một chút, thì vấn đề dường như còn nghiêm trọng hơn thế nhiều, khi mà trên thực tế nợ công của Việt Nam có vẻ như đã không còn ở dưới ngưỡng cho phép là 65% GDP nữa, mà đã vượt qua ngưỡng này từ rất lâu.

Theo báo cáo của Bộ Tài Chính và Chính phủ, thì ở thời điểm hiện tại trong 3 chỉ số vĩ mô cơ bản của nền tài chính quốc gia thì mới chỉ có nợ chính phủ là vượt ngưỡng cho phép, còn lại hai chỉ số là dư nợ công và nợ nước ngoài vẫn ở mức kiểm soát. Cụ thể, đến thời điểm cuối năm 2015, dư nợ công của Việt Nam đạt 62,2% GDP, nợ chính phủ là 50,3% và nợ nước ngoài của quốc gia là 43,1%. Theo đó, mới chỉ có nợ chính phủ là vượt ngưỡng mà Quốc hội cho phép là 50%, còn dư nợ công vẫn chưa kịch trần là 65% GDP mà Quốc hội đặt ra.

Cũng theo báo cáo của Chính phủ và Bộ Tài Chính, mức dư nợ công của Việt Nam sẽ đạt đỉnh vào cuối năm 2016, dự kiến sẽ vào khoảng 64% GDP trước khi giảm dần và về mức 60% GDP trong giai đoạn 2017-2020. Nói cách khác, Chính phủ cam kết sẽ không để nợ công vượt mức giới hạn cho phép có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng với tình hình tài chính quốc gia. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận vấn đề theo một khía cạnh khác, thì nợ công của Việt Nam đã vượt ngưỡng giới hạn 65% GDP từ rất lâu rồi.

Nguyên nhân dẫn đến nhận định đó, là vì cách tính nợ công của Việt Nam đang có những khác biệt nhất định so với cách tính chuẩn của thế giới. Cụ thể, theo Luật quản lý nợ công 2009, thì nợ công của Việt Nam không bao gồm nợ của ngân hàng nhà nước (NHNN) và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Điều này có nghĩa là nợ của NHNN, DNNN và kể cả là của một số địa phương sẽ không được tính vào tổng nợ công của quốc gia. Trong khi đó tại các nước trên thế giới, thì nợ của NHNN, các DNNN và các địa phương cũng sẽ được tính vào tổng nợ công của đất nước.

Xem chi tiết:

http://viettimes.vn/kinh-doanh/tai-chinh/nguong-no-cong-viet-nam-va-nguong-trach-nhiem-44520.html

Mặc dù đã có sự tăng trưởng khá ấn tượng năm 2015 tạo đà cho bước phát triển mới trong năm 2016, song nền kinh tế vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức với nhiều rủi ro tiềm ẩn như bội chi ngân sách, nợ công chạm trần, khu vực tư nhân còn yếu kém…

Mặc dù đã có bước đà khá tốt từ năm 2015, song Báo cáo của NFSC cũng chỉ rõ nền kinh tế đang đối mặt nhiều khó khăn, thách thức trong năm nay và thời gian tới. Đặc biệt, TS. Trương Văn Phước, Phó Chủ tịch NFSC cảnh báo việc cân đối thu chi ngân sách đang ngày càng khó khăn hơn và trong năm nay sẽ là thách thức lớn mà nền kinh tế phải đối mặt.

“Trần nợ công gần như chạm ngưỡng 65%, bội chi ngân sách là 5,7% và thậm chí còn lên tới mức 6,1% là những rủi ro tiềm ẩn cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Hai con số này nói lên câu chuyện bội chi ngân sách vẫn cao trong bối cảnh trần nợ công xấp xỉ ngưỡng cảnh báo, dư địa điều chỉnh chính sách hạn hẹp, nguồn lực tài chính quốc gia hạn chế là những thách thức lớn đặt ra trong việc ổn định tăng trưởng kinh tế”, ông Phước nhấn mạnh.

Còn theo phân tích của TS. Vũ Viết Ngoạn, mặc dù tăng trưởng 2015 khá ấn tượng, song xu hướng tăng không bền vững. Theo ông Ngoạn, mặc dù đầu tư trong khu vực tư nhân, đầu tư tín dụng cho doanh nghiệp sản xuất và đầu tư tín dụng bất động sản tăng cao song không bền vững. Đặc biệt, đối với khu vực tư nhân, dù đầu tư tăng, song con số doanh nghiệp giải thể, đóng cửa vẫn tăng so với năm trước đã thể hiện sự èo uột của khu vực này. Trong khi đó, nếu nền kinh tế vẫn dựa vào doanh nghiệp FDI sẽ rất dễ rơi từ rủi ro này đến rủi ro khác.

Xem chi tiết:

http://baodauthau.vn/tai-chinh/thach-thuc-tang-truong-khi-tran-no-cong-cham-nguong-19620.html

(GB tổng hợp)