Các báo viết về Tài chính ngày 18/12/2013

**Xử lý nợ xấu, phải chấp nhận mất tiền; **Sáu tháng, gói 30.000 tỷ “xài” chưa hết 2%; **Ngành giấy Việt Nam: Vàng mã là sản phẩm xuất khẩu chính; **Hiệp hội mía đường 'đấu khẩu' Thứ trưởng Công Thương; **Khốn đốn vì thoái vốn; **Ngăn ngừa nạn bóc lột lao động và mua bán người;...

Các báo viết về Tài chính ngày 18/12/2013

- "Xử lý nợ xấu, phải chấp nhận mất tiền". Các chuyên gia cho rằng, ngoài việc có chính xác các số nợ xấu, với những khoản nợ xấu của Việt Nam, cần chấp nhận việc mất một phần tiền, đồng thời phải có cách xử lý triệt để nợ thay vì chỉ mua và khoanh nợ như hiện nay.

Phát biểu tại Hội thảo Kinh nghiệm xử lý nợ xấu trong hệ thống tài chính của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam (do Bộ Tài chính Việt Nam và Trung Quốc tổ chức ngày 17/12), TS. Phạm Mạnh Thường, Phó Tổng Giám đốc Cty mua bán nợ và Tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) cho rằng, xử lý nợ xấu của Việt Nam có những điểm khác so với các nước.

So với thời kì bùng nổ nợ xấu ở Việt Nam có thể thấy quy mô nợ xấu cả con số tuyệt đối và tương đối đã giảm đáng kể. Trong số nợ xấu công bố, ngành công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất, sau đó là bất động sản.

Các số liệu cũng cho thấy có trên 30 tổ chức tín dụng có dư nợ xấu trên 3%. Một số ngân hàng có nợ xấu lớn như SHB (9%). Cá biệt như Agribank vừa công bố số nợ xấu là trên 33 ngàn tỷ đồng trong khi vốn điều lệ của ngân hàng chỉ hơn 29 ngàn tỷ đồng. Đây là trường hợp ngân hàng có nợ xấu cao hơn cả vốn điều lệ.

Điểm đáng quan ngại trong nợ xấu của Việt Nam, theo ông Thường, là các con số nợ xấu công bố không bao hàm dư nợ xấu của các ngân hàng mang tính chính sách như dư nợ xấu của các đơn vị mang tính chính sách như Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội.

Đại diện DATC cho rằng, thời gian qua, Cty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) mua nợ chủ yếu theo phương thức ghi sổ và phát hành trái phiếu đặc biệt. Cty này mới chỉ tập trung vào mua nợ và để “tồn kho” để chờ thời gian xử lý nợ xấu. “Với cách xử lý như hiện nay, theo phát biểu của một Phó chủ tịch của Ủy ban giám sát Tài chính quốc gia, chúng ta đang xử lý nợ xấu cho các tổ chức tín dụng thông qua VAMC bằng phương thức cho “ngậm sâm”. Còn việc xử lý nợ thì chưa biết làm thế nào cả, ông Thường nói.

Xem chi tiết:

http://www.tienphong.vn/kinh-te/663924/xu-ly-no-xau-phai-chap-nhan-mat-tien-tpp.html

- "Sáu tháng, gói 30.000 tỷ “xài” chưa hết 2%". Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, tính đến giữa tháng 12/2013, giá trị giải ngân gói 30.000 tỷ cho vay hỗ trợ nhà ở mới chỉ đạt 555 tỷ đồng, chiếm chưa đầy 2% của gói hỗ trợ.

Đáng chú ý, dù các bộ, ngành, Ngân hàng Nhà nước cũng như các địa phương đã khẳng định đã dỡ bỏ hầu hết các rào cản về thủ tục, hồ sơ, xác nhận…, song giá trị giải ngân thực tế đến gần cuối năm 2013 cũng chỉ đạt chưa đầy 30% trong tổng số 1.654 tỷ đồng cam kết trong năm nay.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước cũng xác nhận bằng văn bản về việc đăng ký hợp đồng cho vay đối với 11 doanh nghiệp với số tiền 1.127 tỷ đồng. Có 6 doanh nghiệp đã được giải ngân số tiền 205 tỷ đồng.

Về phía khách hàng cá nhân, thống kê từ 5 ngân hàng được chỉ định giải ngân gói 30.000 tỷ đồng cho thấy các tổ chức tín dụng cũng đã cam kết cho vay 1.450 khách hàng cá nhân với số tiền là 527 tỷ đồng. Trong đó, các ngân hàng đã giải ngân cho 1.436 khách hàng với dư nợ 350 tỷ đồng.

Hiện BIDV đang dẫn đầu về kết quả giải ngân với dư nợ là 201 tỷ đồng. BIDV đã cam kết cho 443 khách hàng vay số tiền 187 tỷ đồng.

Đứng ở vị trí thứ hai là Vietcombank cũng đã giải ngân được 112 tỷ đồng trên số cam kết 161 tỷ đồng cho 425 khách hàng vay. Tiếp đến là Vietinbank với mức dư nợ đạt 85 tỷ đồng trên mức cam kết 122 tỷ đồng dành cho 380 khách hàng vay.

Xem chi tiết:

http://vneconomy.vn/20131217093012271P0C17/sau-thang-goi-30000-ty-xai-chua-het-2.htm

- "Ngành giấy Việt Nam: Vàng mã là sản phẩm xuất khẩu chính". Ngày 17.12, TS Vũ Ngọc Bảo, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội giấy và bột giấy Việt Nam (VPPA) cho biết, mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu 70.000 - 80.000 tấn giấy vàng mã, chủ yếu sang thị trường Đài Loan. 

Theo TS Bảo, Đài Loan cũng là thị trường tiêu thụ giấy vàng mã lớn nhất thế giới, được cung cấp chính từ hai quốc gia Việt Nam và Indonesia.

“Xuất khẩu giấy của Việt Nam hiện chủ yếu là giấy vàng mã, sản phẩm vừa có giá rẻ nhất, chất lượng kém nhất và gây ô nhiễm khủng khiếp nhất”, ông Bảo cho biết.

Tuy nhiên, theo một số doanh nghiệp (DN) giấy nội địa, đây là giải pháp tình thế mà DN bắt buộc phải làm, bởi trong tình hình khó khăn, làm vàng mã giúp DN giải quyết việc làm cho công nhân và duy trì hoạt động công ty.

Song theo quan điểm của ông Bảo, giải pháp tình thế này chỉ tổ làm tụt hậu ngành công nghiệp giấy. Đó là chưa tính tới khi thị trường này giảm nhu cầu, việc trở tay làm hàng cao cấp hơn cũng gây khó khăn cho DN.

Ông Bảo nhấn mạnh, DN nội địa cần có cái nhìn dài hạn hơn, đặc biệt sắp tới, Việt Nam chuẩn bị gia nhập Hiệp định Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). 

“Chúng ta không thể ủng hộ một sản phẩm gây ô nhiễm môi trường và đi ngược xu hướng phát triển của thế giới được”, ông Bảo nói.

Thống kê từ VPPA cho thấy, nhu cầu tiêu thụ giấy của người Việt mới bằng một nửa so với nhu cầu trung bình của thế giới và bằng 1/10 so với người Mỹ.

Xem chi tiết:

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131217/nganh-giay-viet-nam-vang-ma-la-san-pham-xuat-khau-chinh.aspx

- "Hiệp hội mía đường 'đấu khẩu' Thứ trưởng Công Thương". Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) vừa có văn bản 7 trang A4, phản bác tới 7 vấn đề lên Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú, liên quan đến những phát biểu của ông này trên báo chí gần đây về vụ Hoàng Anh Gia Lai xin nhập đường về từ Lào.

Hiệp hội này cho rằng, việc ông Tú đánh giá về những khó khăn của ngành mía đường Việt Nam, lời kêu cứu của Hiệp hội khi Hoàng Anh Gia Lai xin nhập đường thô sản xuất tại Lào về cho Cty CP đường Biên Hòa tinh chế và xuất khẩu qua cửa phụ biên giới là “chưa chuẩn xác”. Theo VSSA, ở góc nhìn nào đó, “Thứ trưởng đã cảm nhận chúng tôi với một hình ảnh méo mó, trẻ con, thiếu trung thực …”.

Theo VSSA, khi nói về tính cạnh tranh của các DN mía đường trong nước, ông Tú ví von rằng, “tất cả các đứa con cưng đều hư, tôi khẳng định như thế. Là con cái chúng ta, cưng chiều lắm thì sẽ hư, DN nhà nước cũng vậy, chiều lắm cũng hư”.

“Rất là ngỡ ngàng. Với cương vị hiện tại... đến giờ này mà Thứ trưởng vẫn còn cho rằng các DN mía đường là DN Nhà nước. Vậy thì thời gian qua, Thứ trưởng đã tham mưu những gì cho Chính phủ khi xử lý các vấn đề có liên quan đến ngành mía đường. Đề nghị Thứ trưởng xem lại chúng tôi là ai?”- Đại diện VSSA cho biết.

Đại diện VSSA cho hay, hầu hết DN mía đường là DN cổ phần, nhà nước chỉ là cổ đông, thậm chí không còn cổ đông; có DN hiện đã tư nhân hoàn toàn, hoặc DN FDI, liên doanh nước ngoài. “Thứ trưởng đã nuông chiều ai và ai đã hư qua sự nuông chiều ấy của Thứ trưởng? Chúng tôi không được nuông chiều...”.

Hiệp hội mía đường dẫn lời ông Tú: “Hiệp hội luôn luôn nói 2 giọng, khi vào vụ mía đường thì họ nói rằng thừa đường và có đường buôn lậu, nhưng cuối vụ giọng họ khác ngay và họ đẩy giá lên”. Theo VSSA, thị trường đường Việt Nam thời gian qua không kiểm soát được. Giá đường nội địa bị chi phối nguyên nhân chính bởi giá đường lậu...

Xem chi tiết:

http://www.tienphong.vn/kinh-te/663926/hiep-hoi-mia-duong-dau-khau-thu-truong-cong-thuong-tpp.html

- "Khốn đốn vì thoái vốn". Nền kinh tế vĩ mô đã có những dấu hiệu tốt lên, lạm phát đang ở mức kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng cả năm dự báo không quá 6,3%. Mục tiêu kiềm chế lạm phát thấp hơn so với năm ngoái là hoàn toàn khả thi. Sang năm 2014, nền kinh tế sẽ khởi sắc đôi chút, nhưng khó khăn của năm 2013 sẽ kéo sang năm 2014. Đây là nhận định được rút ra trong cuộc hội thảo “Kinh tế năm 2014-Bài học trong tiến trình phát triển doanh nghiệp” vừa diễn ra.

Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương nhận định, ổn định kinh tế vĩ mô đã được cải thiện, cán cân thanh toán dương, dự trữ ngoại tệ tăng. Tuy vậy, kinh tế vẫn đối mặt với những thách thức như doanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản, thị trường trì trệ. Đặc biệt là nợ xấu chưa được cải thiện khiến dòng tín dụng còn bị tắc nghẽn. Tình trạng thừa tiền, thiếu vốn còn kéo dài. Sau một thời gian nỗ lực, xử lý, tỷ lệ nợ xấu là 4,62%, tăng 0,54% so với cuối năm 2012. Theo các chuyên gia, nếu hệ thống cơ chế xử lý nợ xấu thông thoáng từ những năm trước thì các ngân hàng không đến nỗi phải “ôm” cục nợ xấu lớn như bây giờ. Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ngân hàng nhận định, muốn xử lý được nợ xấu ở các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp, trước hết phải xử lý hàng loạt vướng mắc ở các khâu trong Luật Phá sản, mua bán đấu giá, thi hành án. Không thể kéo dài mãi tình trạng hệ thống pháp lý, bộ máy thi hành án xử lý nợ xấu rối rắm, nhiêu khê như hiện nay.

Xét đến cùng, số nợ mà công ty mua bán nợ thu về cũng không giải quyết triệt để gốc của vấn đề, mà chỉ là tạm nới lỏng áp lực dồn lên ngân hàng trong một thời gian ngắn. Đã có ý kiến đề nghị cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua nợ xấu. Muốn có thị trường mua bán nợ, theo vị Giám đốc Trung tâm, chúng ta không thể một mình đá một sân mà phải có các đối tượng khác cùng vào cuộc. Ngoài vấn đề nợ xấu, theo yêu cầu của Chính phủ, chỉ còn hơn một năm nữa, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải hoàn tất việc thoái vốn 22.000 tỷ đồng giá gốc các khoản đầu tư ngoài ngành. Số tiền “khủng” này đã được các “ông lớn” vung tay đầu tư vào chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư, bất động sản. Đứng đầu danh sách đầu tư ngoài ngành là Tập đoàn Điện lực Việt Nam, với 4.551 tỷ đồng, Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam hơn 1.828 tỷ đồng, Tổng công ty Hàng hải với 672 tỷ đồng, Tổng công ty Xi măng 634 tỷ đồng… Rất nhiều tập đoàn, tổng công ty đang loay hoay tìm cách thoái vốn nhưng không dễ dàng, vì Chính phủ quy định không được bán vốn thấp hơn giá thị trường, không bán lỗ…

Đầu tư ngoài ngành đã trở thành gánh nặng của nhiều tập đoàn, tổng công ty. “Trái ngọt” trước kia nay thành “trái đắng”. Thực tế, việc thoái vốn là để cắt lỗ, ưu tiên bán khoản lỗ trước. Ngay cả việc cắt lỗ này cũng đòi hỏi phải bán được giá cao. Tài sản xấu, ít người dám mua lại đòi bán giá cao, sao làm được?

Xem chi tiết:

http://www.anninhthudo.vn/van-de-hom-nay/khon-don-vi-thoai-von/529542.antd

- "Ngăn ngừa nạn bóc lột lao động và mua bán người". Hưởng ứng Ngày người di cư quốc tế 18-12, chuỗi các sự kiện nhằm cung cấp các thông tin chính thống về chi phí và các kênh hợp pháp để đi làm việc ở nước ngoài một cách an toàn sẽ được tổ chức tại một số địa phương có nhiều nhu cầu tìm việc ở nước ngoài.  

Sự kiện khởi đầu tại các huyện Thanh Ba, Phú Ninh, tỉnh Phú Thọ vào ngày 17 và 18-12, sau đó sẽ tiếp tục được tổ chức tại các tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ngãi và Thanh Hoá trong khoảng thời gian từ nay đến tháng 2-2014.  Hoạt động này do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và MTV EXIT (Chấm dứt buôn bán người và bóc lột lao động) phối hợp tổ chức.

Xem chi tiết:

http://www.anninhthudo.vn/xa-hoi/ngan-ngua-nan-boc-lot-lao-dong-va-mua-ban-nguoi/529532.antd

- "Doanh nghiệp đóng quỹ chống thiên tai, EVN vô can xả lũ".  Tại dự thảo Nghị định quy định về thành lập và quản lý quỹ phòng, chống thiên tai đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN-PTNT) đưa ra lấy ý kiến có quy định, doanh nghiệp sẽ phải đóng từ 1 - 100 triệu đồng mỗi năm.

Đối với quỹ phòng chống thiên tai, ngoài doanh nghiệp đóng góp bắt buộc thì tất cả công dân từ 18 tuổi trở lên sẽ có mức đóng quỹ khác nhau.
 
Cụ thể, lao động trực tiếp trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ đóng 10.000 đồng/người/năm. Cán bộ, công nhân viên chức trong các cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang là một ngày lương. Còn lao động khác là 30.000 đồng/năm/người.
 
Liên quan đến quỹ phòng chống thiên tại hiện nay có Nghị định 50 về quy chế thành lập và hoạt động của quỹ phòng chống lụt bão của địa phương. Tuy nhiên, nghị định này chưa phân loại cụ thể đối tượng đóng góp là công dân trong độ tuổi lao động, vì thế, chưa quy định mức đóng góp tương ứng của từng lao động cụ thể mà chỉ quy định là hộ nông nghiệp và đối tượng khác.
 
Xem chi tiết:
 
 
- "Giá lợn tại các tỉnh phía Nam tăng mạnh: Người chăn nuôi đón tết “ấm”". Giá lợn hơi tăng lên mức cao nhất trong gần 2 năm, vượt qua ngưỡng 50.000 đồng/kg và tiếp tục trên đà tăng giá khiến bà con vùng chăn nuôi các tỉnh phía Nam phấn khởi. Nếu tình hình này duy trì, người chăn nuôi có thể được ăn cái tết “ấm”.
Mặc dù vậy, theo đánh giá của một số chuyên gia, thị trường tiêu thụ các sản phẩm gia súc vẫn chưa ổn định, nhiều ngày thịt dội chợ do nhu cầu thấp. Ngày 16.12, trao đổi với phóng viên NTNN, bà Hồ Thị Nhi (ngụ xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai) cho biết, bà chuẩn bị bán 50 con lợn thịt để trang trải các chi phí cho đám cưới con gái vừa xong. Hiện tại, giá lợn hơi tại khu vực Đồng Nai đang ở mức từ 49.000 - 51.000 đồng/kg, cao hơn 1.000 - 2.000 đồng/kg so với thời điểm cuối tháng 11 vừa qua.
 
Xem chi tiết:
 
 
- "Tăng cường khai thác nguồn thu, chống thất thu". Từ đầu năm đến nay, số thu ngân sách nhà nước do Cục Thuế TP Hà Nội thực hiện ước đạt 85% dự toán. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao trong năm 2013, những ngày còn lại của năm nay, Cục Thuế Hà Nội tiếp tục hỗ trợ DN cùng với việc khai thác tốt nguồn thu, chống thất thu ngân sách, phấn đấu hoàn thành cao nhất nhiệm vụ được giao.
Chỉ còn ít ngày nữa, năm tài khóa 2013 sẽ kết thúc trong bối cảnh nền kinh tế vẫn chưa vượt qua giai đoạn khó khăn. Công tác thu ngân sách nhà nước năm 2013 đã đứng trước những thách thức lớn do hoạt động sản xuất, kinh doanh (SXKD) của cộng đồng DN chưa phục hồi. Theo Bộ Tài chính, 11 tháng của năm 2013, tổng thu nội địa cả nước đạt 84,6% dự toán. Tại Hà Nội, từ đầu năm đến nay, số thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 85%. Ông Phi Vân Tuấn, Cục trưởng Cục Thuế TP Hà Nội cho biết, để có được kết quả trên, đơn vị đã áp dụng nhiều biện pháp quyết liệt, trong đó công tác thanh, kiểm tra được tăng cường thông qua việc xây dựng tiêu chí và phân tích rủi ro nộp thuế của DN. Từ đó, cơ quan thuế đã tập trung vào thanh, kiểm tra theo chuyên đề những lĩnh vực có dấu hiệu rủi ro cao. Tính từ đầu năm đến nay, Cục Thuế Hà Nội đã hoàn thành 5.048 cuộc thanh, kiểm tra thuế, qua đó đã xử lý giảm thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ 179 tỷ đồng, giảm số lỗ DN đã kê khai 1.521 tỷ đồng, đưa tổng số thuế truy thu, truy hoàn và phạt đạt 1.611 tỷ đồng. Công tác thu hồi nợ đọng thuế cũng đạt được những kết quả tích cực bằng việc đã thu hồi hơn 6.000 tỷ đồng tiền nợ đọng thuế, ban hành 2.557 lượt quyết định cưỡng chế nợ với số tiền nợ thuế 1.848 tỷ đồng. Riêng với 77 đơn vị chây ỳ, nợ đọng thuế với số nợ 1.800 tỷ đồng, đến nay Cục đã thu hồi được hơn 100 tỷ đồng.

Đặc biệt, việc thực hiện đề án xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn của người nộp thuế và tổ chức thực hiện đối chiếu hóa đơn qua mạng trên địa bàn Hà Nội đã bước đầu mang lại những kết quả tích cực, góp phần ngăn chặn tình trạng buôn bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. Qua rà soát, đối chiếu dữ liệu kê khai trên hệ thống quản lý của cơ quan thuế, Cục Thuế TP Hà Nội đã đưa ra danh sách 7.451 DN sử dụng 60.031 hóa đơn có dấu hiệu bất hợp pháp để kê khai, khấu trừ thuế GTGT và hạch toán chi phí, trong đó tổng doanh thu chưa thuế là 1.443 tỷ đồng, thuế GTGT khấu trừ là 141 tỷ đồng. Hiện, Cục đã gửi toàn bộ danh sách các DN, danh mục các hóa đơn có dấu hiệu bất hợp pháp tới các phòng, chi cục thuế, yêu cầu DN rà soát, kê khai và điều chỉnh lại. Đến nay, 6.514/7.451 DN đã điều chỉnh kê khai theo đúng thực tế với số thuế GTGT đầu vào điều chỉnh giảm là 73 tỷ đồng.

Nhìn nhận về khả năng thực hiện hoàn thành dự toán được giao cả năm 2013 (149.805 tỷ đồng), ông Phi Vân Tuấn cho biết, đây là nhiệm vụ rất khó khăn do tình hình kinh tế. Dù đã xuất hiện một số tín hiệu tích cực, song tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức thấp, nợ xấu ngân hàng tăng, tồn kho ở một số lĩnh vực như bất động sản, vật liệu xây dựng... còn ở mức cao. Chỉ tính riêng khoản hụt thu từ ngành ngân hàng đã lên tới hơn 9.000 tỷ đồng, bất động sản 4.500 - 5.000 tỷ đồng. Số thu từ thuế thu nhập DN cũng giảm mạnh do nhiều DN đạt tốc độ tăng trưởng không cao, thậm chí giảm hoặc lỗ lớn nên không có nguồn thu sau quyết toán. Bên cạnh đó, việc triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho SXKD, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu theo chỉ đạo của Chính phủ và việc thực hiện một số luật thuế mới đã giảm nguồn thu ngân sách của thành phố hơn 11.300 tỷ đồng.
 
Xem chi tiết:

http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Thuong-hieu-DN/650253/tang-cuong-khai-thac-nguon-thu-chong-that-thu

- "Dự án Nhà máy Nước sạch KCN Phú Nghĩa (huyện Chương Mỹ): 5 năm vẫn tắc, vì đâu?". Hơn 5 năm triển khai xây dựng, khối lượng công việc hoàn thành đến nay đã được 85% thế nhưng Dự án Nhà máy Nước sạch tại Khu công nghiệp Phú Nghĩa (huyện Chương Mỹ) hiện vẫn "tắc" do những bất đồng giữa chủ đầu tư và người dân xã Phụng Châu chưa được giải quyết triệt để.Theo ông Hoàng Tuấn Anh, Giám đốc quản lý vận hành Khu công nghiệp (KCN) Phú Nghĩa, Phó Giám đốc Dự án Khai thác nước ngầm tại xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ phục vụ KCN Phú Nghĩa, KCN hiện có 62 doanh nghiệp vào đầu tư, trong đó 60 doanh nghiệp đã đi vào sản xuất ổn định và 2 doanh nghiệp đang thực hiện dự án đầu tư xây dựng, giải quyết việc làm cho hơn 9.000 lao động địa phương và các khu vực xung quanh. Tuy nhiên, do trên địa bàn huyện Chương Mỹ hiện chưa có hệ thống cấp nước sạch tập trung và việc khai thác nguồn nước cung cấp cho nhà máy xử lý nước sạch tại chỗ gặp nhiều khó khăn, nên KCN đã rơi vào tình trạng không có nguồn nước sạch phục vụ cho các doanh nghiệp sản xuất và sinh hoạt. 

Năm 2007, Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Mỹ (đơn vị quản lý và điều hành KCN Phú Nghĩa) đã chủ động đề xuất, triển khai các bước chuẩn bị đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước sạch cung cấp cho KCN và khu nhà ở cho người lao động KCN. Ngày 16-11-2007, UBND tỉnh Hà Tây (cũ) đã cấp Giấy phép số 41/GP-UBND, về việc thăm dò nước ngầm. Theo kết quả khảo sát thăm dò của đơn vị tư vấn báo cáo thì phạm vi khu vực khảo sát tại KCN là khu vực nghèo nước, không đủ trữ lượng nước sạch cho KCN với công suất 6.000m3/ngày đêm mà chỉ đáp ứng 500m3/ngày đêm. Căn cứ vào tài liệu địa chất thủy văn của Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường) khả năng cung cấp nguồn nước cho KCN ổn định, lâu dài là nguồn nước ngầm tại xã Phụng Châu (cách KCN 4km). Được sự chấp thuận của UBND xã Phụng Châu và huyện Chương Mỹ, Tập đoàn Phú Mỹ lập hồ sơ và ngày 11-3-2010 đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy phép số 490/GP-BTNMT khoan thăm dò nước ngầm.

Năm 2012, để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp tại KCN, UBND TP Hà Nội đã chấp thuận đầu tư xây dựng Dự án Nhà máy Nước sạch tại KCN Phú Nghĩa, với công suất 6.000m3/ngày đêm trên lô đất TT1 của KCN bao gồm hệ thống 6 giếng khai thác nước dưới đất tại xã Phụng Châu, cùng tuyến đường ống dẫn nước thô kéo từ xã Phụng Châu về nhà máy tại KCN. UBND thành phố cũng giao Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Mỹ làm chủ đầu tư để tổ chức triển khai thực hiện dự án; giao các sở, ngành có liên quan và UBND huyện Chương Mỹ hướng dẫn Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Mỹ triển khai thực hiện các thủ tục dự án theo quy định.

Với mức đầu tư 45 tỷ đồng, đến nay, dự án đã hoàn thành đến 85% khối lượng công việc. Theo ông Hoàng Tuấn Anh, khối lượng công việc này không nhiều và nếu tập trung chỉ mất vài tuần là xong, tuy nhiên đến nay vẫn chưa thể thực hiện được do một số người dân không đồng tình ủng hộ, vì lo ngại khi công ty khai thác tài nguyên nước dưới đất sẽ có thể gây mất nguồn nước sạch của nhân dân hoặc sụt lún…

Xem chi tiết:

http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Phong-su-Ky-su/650215/5-nam-van-tac-vi-dau

- "Doanh nghiệp xuất khẩu gạo đầu tư vùng nguyên liệu". Vừa có một bản ghi nhớ được ký kết về sản xuất và tiêu thụ lúa trong cánh đồng mẫu lớn giữa hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) – tổ chức đại diện cho 140 đầu mối xuất khẩu gạo với cục Trồng trọt, cục Chế biến kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, đại diện 13 sở nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đây là lần đầu tiên doanh nghiệp xuất khẩu gạo xem trọng lợi ích khi đầu tư vào vùng nguyên liệu…

Thời gian qua có nhiều mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo khá hiệu quả, điển hình như công ty cổ phần bảo vệ thực vật An Giang, công ty Angimex, Docimexco, Gentraco, Thu Hà… Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang tính toán, trong tổng số trên 61.000ha vùng nguyên liệu liên kết sản xuất với nông dân ở các tỉnh thành đồng bằng sông Cửu Long, thông qua việc tiết kiệm chi phí thu được nhờ áp dụng quy trình sản xuất lúa có kiểm soát, nông dân tiết kiệm đầu tư trung bình 1.236 đồng/kg lúa tươi so với bên ngoài và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư của nông dân đạt 455% của vụ đông xuân 2010 – 2011, hè thu 2011 là 286%, thu đông 2011 là 317%, đông xuân 2011 – 2012 là 392% và 362,5% của vụ hè thu 2012. Tại Gentraco, ông nguyễn Trung Kiên, tổng giám đốc công ty này cũng khẳng định lợi nhuận tăng thêm mà nông dân được hưởng so với ngoài mô hình liên kết lên đến 19,3%, tương đương 4,83 triệu đồng/ha…

Trên đây chỉ là hai trong số nhiều doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu thu được hiệu quả khá tốt. Và, dẫn chứng như vậy để thấy, mục đích cuối cùng trong chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo mà các doanh nghiệp đang hướng tới là nhằm nâng cao chất lượng hạt gạo, mang đến giá trị xuất khẩu cao hơn sau đó phân chia lại lợi ích hài hoà cho các bên tham gia. Có lẽ, cũng vì nhìn thấy lợi ích nhãn tiền này, nên trong nội dung quy hoạch thương nhân xuất khẩu gạo mà bộ Công thương công bố hồi giữa năm nay, quy định doanh nghiệp phải có vùng nguyên liệu hoặc liên kết với các chủ thể khác tạo ra vùng nguyên liệu mới được tham gia xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp cho rằng, với tình hình thị trường xuất khẩu gạo thay đổi theo chiều hướng nghiêng hẳn về chất, cạnh tranh giá ở mức độ cao hơn thì quy định trên không còn là mệnh lệnh hành chính nữa. Bản thân các doanh nghiệp buộc phải tham gia vào sản xuất mới có thể tồn tại được.

Trở lại nội dung văn bản mà các bên vừa mới ký kết, ngay trong vụ đông xuân 2014, mỗi doanh nghiệp trong số 140 đầu mối xuất khẩu phải xây dựng riêng cho mình vùng nguyên liệu có diện tích ít nhất là 200ha. Việc xây dựng vùng nguyên liệu lúa hàng hoá chất lượng cao xuất khẩu có thể dựa trên hình thức liên kết với nông dân thông qua cung ứng vật tư đầu vào hoặc đặt hàng nông dân trong vùng nguyên liệu sản xuất 1 – 2 giống lúa sau đó cam kết tiêu thụ theo giá thị trường. Ông Trương Thanh Phong, chủ tịch VFA cho biết trong bối cảnh thị trường xuất khẩu ngày càng bị cạnh tranh khốc liệt nên việc xây dựng lại mối liên kết giữa doanh nghiệp, nông dân trong chuỗi sản xuất, tiêu thụ lúa gạo mới có thể tạo ra sản phẩm gạo có chất lượng tốt hơn, đủ sức cạnh tranh với thế giới.

Xem chi tiết:

http://sgtt.vn/kinh-te/186113/doanh-nghiep-xuat-khau-gao-dau-tu-vung-nguyen-lieu.html

- "Nhà nước lẫn doanh nghiệp thụ động trong hội nhập". Tại phiên họp của Ủy ban Tư vấn về Chính sách thương mại quốc tế VCCI vào sáng 17-12-2013, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan chỉ rõ “khi gia nhập WTO, thời gian qua chúng ta cam kết nhiều nhưng thực hiện chỉ ở mức đòi hỏi từ bên ngoài. Việc tự cải cách từ trong nước rất ít.

Thậm chí có những việc chúng ta còn đi lùi, như việc đẻ thêm thủ tục, gây khó cho doanh nghiệp”.

Đồng tình quan điểm với bà Lan, bà Nguyễn Thị Thu Trang, Phó ban Pháp chế VCCI, đưa ra dẫn chứng: “Qua khảo sát 120 hiệp hội, có đến 50% phản hồi rằng hiệu quả tham vấn các đàm phán hiệp định thương mại quốc tế chỉ đạt mức trung bình. Chỉ 1/3 lượng người cho rằng các tham vấn hiệu quả”.

Lấy dẫn chứng trường hợp Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), ông Nguyễn Trường Sơn, Phó Chánh văn phòng Bộ Công Thương, nhấn mạnh thực trạng: “Nếu không có sự chuẩn bị từ trong nước thì dù một cam kết có tốt đến đâu cũng trở nên vô nghĩa. Việc đàm phán TPP hiện nay đã ngửa bài 95% rồi, chỉ còn 5% là ẩn số để đi đến ký kết. Vì vậy vấn đề còn lại là sự chuẩn bị cho doanh nghiệp như thế nào khi tham gia”.

Trước thực trạng cơ quan nhà nước lơ là, doanh nghiệp thiếu mặn mà trong hội nhập, bà Phạm Chi Lan thì đưa ra lời khuyên: “Muốn hội nhập với bên ngoài đòi hỏi phải cải cách mạnh từ bên trong. Đến bản thân mình mà chưa biết mình như thế nào thì làm sao tham gia vào sân chơi với người khác”.

Xem chi tiết:

http://phapluattp.vn/20131218032226361p0c1014/nha-nuoc-lan-doanh-nghiep-thu-dong-trong-hoi-nhap.htm

- "Hơn 99% DN thực hiện thông quan điện tử". Theo thông tin từ Cục Hải quan TP.HCM, trong 11 tháng đầu năm 2013, Cục đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử cho gần 1,7 triệu tờ khai hàng hóa xuất, nhập khẩu, đạt tỉ lệ 97,3% tổng số tờ khai hải quan phát sinh.

Kim ngạch xuất, nhập khẩu thực hiện qua thủ tục hải quan điện tử đạt 61/61,4 tỉ USD, chiếm tỉ lệ 99,4%. Trong đó, số lượng doanh nghiệp (DN) xuất, nhập khẩu thực hiện thủ tục hải quan điện tử là 27.500/27.700 DN, đạt tỉ lệ 99,3%. Được biết, Cục Hải quan TP.HCM đã triển khai thủ tục hải quan điện tử tại 100% các chi cục và các điểm thông quan, nhằm tạo thuận lợi thông thoáng, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa xuất, nhập khẩu cho DN. Nhằm ngăn chặn và hạn chế tình trạng trên, Cục đã có kiến nghị trình Chính phủ điều chỉnh lại một số bất cập tại Nghị định 87/2012 về tự động phân luồng tờ khai. Đối với tờ khai xuất khẩu, Cục đề nghị các DN phải tập kết hàng đầy đủ tại địa điểm kiểm tra của cơ quan hải quan. Sau đó cơ quan hải quan mới thực hiện việc phân luồng tờ khai và thông báo cho DN. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong hoạt động xuất, nhập khẩu, song song đó cơ quan hải quan vẫn đảm bảo việc quản lý các DN.

Xem chi tiết:

http://phapluattp.vn/20131218032142985p0c1014/hon-99-dn-thuc-hien-thong-quan-dien-tu.htm

- ""Dốc sức" hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước". Tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) luỹ kế 11 tháng ước đạt 700 nghìn tỷ đồng, bằng 85,6% dự toán. Trong đó, số thu nội địa ước đạt 462 nghìn tỷ đồng, bằng 84,6% dự toán, tăng 14,5% so cùng kỳ; số thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 200 nghìn tỷ đồng, bằng 83,8% dự toán, tăng 12,7% so cùng kỳ. Ðiều đáng lo ngại là theo đánh giá của ngành tài chính, chỉ có gần 50% số địa phương bảo đảm được tiến độ thu theo dự toán (tối thiểu đạt 92%), 33 địa phương còn lại thu không đạt tiến độ. 

Theo thống kê của Bộ Tài chính, trong số các địa phương không đạt tiến độ thu NSNN, có nhiều địa bàn trọng điểm thu, có số thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN. Tại Cục Thuế tỉnh Ðồng Tháp, số thu nội địa hiện cũng chỉ mới đạt 84,52% dự toán UBND tỉnh giao, các khoản thu, sắc thuế đều đạt thấp. Tại Cục Thuế TP Hà Nội, số thu chỉ mới đạt hơn 60% dự toán năm, bằng 90,2% so cùng kỳ. "Chúng tôi đang ở đỉnh điểm của khó khăn, khi 11 tháng qua đã có tới gần 10 nghìn doanh nghiệp (DN) trên địa bàn ngừng giao dịch thuế. Tuy có hơn 12 nghìn DN thành lập mới, nhưng lại chưa phát sinh thuế phải nộp, hoặc có phát sinh nhưng số thuế thấp, làm giảm nguồn thu hàng nghìn tỷ đồng. Số thu thuế đã phản ánh rõ tình hình sản xuất, kinh doanh khó khăn của thành phố" - Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội Phi Vân Tuấn nói.

Theo lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội, bên cạnh những khó khăn bất khả kháng thì năm nay, công tác thu của ngành thuế Hà Nội còn phải "đương đầu" với thách thức lớn là dự toán thu năm nay được giao tăng tới 30,8% so với số thực hiện năm 2012. Số giao này trung bình gấp gần bốn lần tốc độ tăng trưởng GDP dự kiến đạt được (khoảng từ 8 đến 8,5%), còn ở một số khu vực, lĩnh vực thu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu thu thì số giao dự toán còn cao hơn nhiều (như khu vực doanh nghiệp FDI tăng 34,1%; khu vực DN ngoài quốc doanh tăng 42,3%; nguồn thu từ phí, lệ phí tăng 45,7%...) Bởi những nguyên nhân này nên số thu NSNN của Cục Thuế Hà Nội hiện vẫn chưa đạt mức yêu cầu.

Xem chi tiết:

 http://www.nhandan.org.vn/kinhte/tin-tuc/item/21925902-doc-suc-hoan-thanh-nhiem-vu-thu-ngan-sach-nha-nuoc.html

- "Vốn vẫn ứ ở nhiều ngân hàng". Tín dụng tăng chậm, trong khi huy động tăng nhanh đã khiến nhiều ngân hàng luôn thừa vốn cho vay, vì vậy, đã xảy ra chuyện các ngân hàng đang cạnh tranh lãi suất đầu ra, thay vì cạnh tranh lãi suất đầu vào như từ trước đến nay.

Trao đổi với TBKTSG Online, ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Eximbank đã từng cho biết có ngân hàng cho doanh nghiệp vay lãi suất thấp, và ứng vốn trước để doanh nghiệp trả nợ cho Eximbank và sau đó mới chuyển hồ sơ vay về ngân hàng của họ.

Còn giám đốc chi nhánh một ngân hàng thương mại lớn thì cho biết trong cả năm qua chi nhánh ông không có thêm một khách hàng lớn nào. Việc cho vay chủ yếu với khách hàng cũ. Hiện tại ngân hàng tìm đủ mọi cách để giữ doanh nghiệp, nên đã liên tục hạ lãi suất và chuyển một số khoản nợ ngắn hạn thành trung hạn để doanh nghiệp có thời gian trả nợ.

Ông này cho rằng, vốn hiện nay không thiếu, hội sở sẵn sàng cung cấp vốn nếu chi nhánh kiếm được khách vay tiền, đồng thời cũng có những chính sách khuyến khích về thưởng để tăng lượng khách hàng mới.

Ông Nguyễn Miên Tuấn, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Sacombank cho rằng hiện rất nhiều ngân hàng mời gọi doanh nghiệp tốt với lãi suất chỉ 7%/năm, tức bằng với trần lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống. Việc cho vay lãi suất thấp có thể do ở nhiều ngân hàng thương mại nhà nước có chi phí vốn bình quân thấp. Trong khi vốn dư ra nhiều, nếu gửi liên ngân hàng lãi suất thấp nên nhiều ngân hàng tận dụng để cho vay, giảm bớt khoản thiệt hại nếu gửi liên ngân hàng. Chưa kể việc thu hút được khách hàng tốt thì có thể bán được nhiều dịch vụ khác và lấy khoản lời trên bù đắp cho khoản lỗ cho vay.

Tại TPHCM, ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TPHCM cho biết kể cả vốn dành cho doanh nghiệp chuẩn bị hàng tết mà các doanh nghiệp đăng ký vay chỉ vào khoảng 7.500 tỉ đồng, nhưng số vốn mà các ngân hàng đăng ký cho vay lên đến 45.000 tỉ đồng. Trong khi đó, tín dụng của TPHCM trong năm nay không dễ để tăng được đến 9% vì để bơm ra thị trường 27.000 tỉ đồng trong 1 tháng cuối năm là không thể thực hiện được.

Ông Minh cho rằng vốn hiện không thiếu, chỉ là nhu cầu từ phía doanh nghiệp không tăng.

Xem chi tiết:

http://www.thesaigontimes.vn/home/taichinh/nganhang/107346/

- "Nhiều doanh nghiệp FDI trong khu công nghiệp tăng vốn". Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang hoạt động trong các khu chế xuất - khu công nghiệp (KCX-KCN) của TPHCM đã tăng vốn đầu tư, chiếm đến khoảng 80% tổng nguồn vốn thu hút được từ đầu năm đến nay.

Theo Ban quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TPHCM (Hepza), tính từ đầu năm đến nay, tổng nguồn vốn đầu tư FDI thu hút trong các KCX-KCN của thành phố kể cả cấp mới và điều chỉnh đạt hơn 358,5 triệu đô la Mỹ, tăng 72,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo Hepza, nguồn vốn FDI của các doanh nghiệp đang hoạt động trong khu vực này tăng vốn rất cao, đạt gần 290 triệu đô la Mỹ, tăng hơn 66% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm hơn 80% tổng nguồn vốn FDI đầu tư vào khu vực này.

Hepza cho rằng nguồn vốn FDi khu vực này tăng cao trong năm nay phần lớn là nhờ các dự án điều chỉnh tăng vốn của các doanh nghiệp Nhật Bản với số lượng vốn tăng thêm khá lớn. Phần lớn các doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực cơ khí.

Công ty TNHH Sài Gòn Precision của Nhật tại khu chế xuất Linh Trung II đã điều chỉnh tăng thêm 129 triệu đô la Mỹ nhằm mở rộng, nâng cấp dây chuyền sản xuất, đổi mới công nghệ và xây dựng nhà máy thứ tư có diện tích 2,2 ha tại khu chế xuất này. Với việc tăng vốn, Công ty Sài Gòn Precision đã nâng tổng vốn đầu tư đăng ký lên 219 triệu đô la Mỹ.

Công ty Nidec Tosok Việt Nam, thành viên của tập đoàn Nidec của Nhật Bản, đã quyết định tăng thêm 95,8 triệu đô la Mỹ để mở rộng nhà máy sản xuất của mình tại khu chế xuất Tân Thuận. Với việc tăng vốn này, tổng vốn đầu tư của công ty này đã đạt 205,6 triệu đô la Mỹ.

Hay Công ty Juki bổ sung thêm 12 triệu đô la Mỹ và Công ty Nidec Tosok Akiba "rót" thêm 10 triệu đô la Mỹ...

Trong khi đó, đối với các dự án đầu tư mới được cấp phép, theo Hepza, dù chỉ đạt 19 dự án với quy mô vốn vừa và nhỏ đạt tổng cộng gần 69 triệu đô la Mỹ, nhưng so với cùng kỳ năm ngoái vẫn tăng đến hơn 107%. Theo Hepza, phần lớn các dự án đầu tư mới này cũng đến từ Nhật Bản (chiếm hơn 47% tổng vốn đầu tư thu hút), Singapore chiếm hơn 26%, Úc chiếm 14,2%, còn lại là các quốc gia và vùng lãnh thổ như Đài Loan, Đức, Thụy Điển , Đan Mạch...

Xem chi tiết:

http://www.thesaigontimes.vn/home/kinhdoanh/dautu/107385/

- "Xuất khẩu của Singapore trong tháng 11 giảm mạnh". Xuất khẩu các mặt hàng nội địa phi dầu mỏ (NODX) của Singapore trong tháng 11 vừa qua đạt 13,2 tỷ SGD, giảm 9,3% so với tháng 10 và giảm 8,8% so với cùng kỳ năm ngoái.

Báo cáo của Cơ quan Xúc tiến kinh doanh và Đầu tư nước ngoài của Singapore (IE) ra ngày 17/12 cho biết xuất khẩu trong tháng vừa qua giảm mạnh là do có sự sụt giảm trong xuất khẩu hàng điện tử và hàng phi điện tử, giảm tương ứng 8,9% và 8,8% so với tháng 10.

Trong 10 thị trường hàng đầu của Singapore, ngoài Trung Quốc (tăng 16,2%), Mỹ (10,3%) và vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc), NODX sang các thị trường khác đều giảm so với tháng trước, với mức giảm mạnh nhất được ghi nhận tại thị trường Liên minh châu Âu (26,6%), Hong Kong (Trung Quốc) và Hàn Quốc.

Sau khi có thông báo về tình hình xuất khẩu trong tháng 11/2013, Song Seng Wun, nhà phân tích kinh tế của ngân hàng CIMB, dự đoán rằng xuất khẩu các mặt hàng nội địa phi dầu mỏ của Đảo quốc Sư tử trong năm 2013 này có thể giảm từ 4% đến 5% so với năm 2012 nhưng sẽ hồi phục vào năm 2014 với mức tăng dự đoán là 4%./.

Xem chi tiết:

http://www.vietnamplus.vn/xuat-khau-cua-singapore-trong-thang-11-giam-manh/235648.vnp

- "Dấu hỏi cho cổ phần hóa". Tại Diễn đàn DN 2013 tổ chức đầu tháng 12-2013, ông Trần Anh Đức, Nhóm Công tác Đầu tư và Thương mại cho rằng: Tốc độ cổ phần hóa đã giảm mạnh trong những năm vừa qua: Từ hơn 800 DN được cổ phần hóa trong năm 2004-2005 đã giảm xuống còn 13 DN vào năm 2012. Thực tế này đặt ra câu hỏi lớn về tiến độ cổ phần hóa trong các năm tiếp theo.

Còn theo báo cáo chính thức của Chính phủ, năm 2012 cổ phần hóa được 13 DN, 9 tháng đầu năm 2013 cổ phần hóa được 27 DN. Số DN 100% vốn Nhà nước giảm từ 5.655 DN năm 2001 đến nay đã giảm còn 1.257 DN. Nếu tính từ 1990 đến nay, số lượng DNNN đã giảm đáng kể (từ 12.000 DNNN)

Nhìn vào việc giảm nhanh số lượng DNNN 20 năm qua, có thể thấy đó như một thành tích. Nhưng đi sâu phân tích tiến độ cổ phần hóa những năm gần đây thì thấy rằng: Cổ phần hóa đang đi lùi.

Báo cáo của Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận: Việc cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành của DNNN còn chậm và gặp những khó khăn, vướng mắc do không có đủ nguồn lực để hỗ trợ tài chính và những cản trở bởi khuôn khổ pháp lí.

TS.Nguyễn Đình Cung, Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương cho rằng: Cổ phần hóa không tiến triển nhiều; thoái vốn gặp khó khăn trên nhiều mặt, chậm nhiều so với yêu cầu. Nguyên nhân là do tư duy, tiêu chí và cách thức thực hiện bảo toàn và phát triển vốn chưa phù hợp với cơ chế thị trường. Mặt khác, một số phương thức bảo toàn vốn theo quy định hiện hành còn hình thức và thiếu linh hoạt, làm tăng chi phí hoạt động của DN; chưa thật sự thúc đẩy DN đổi mới công nghệ, kinh doanh sáng tạo và cẩn trọng để bảo toàn vốn và phát triển vốn.

Theo TS.Nguyễn Đình Cung, cổ phần hóa, thoái vốn chậm thì chưa thể thay đổi vai trò, chưa thể thu hẹp phạm vi kinh doanh của DNNN, chỉ  tập trung vào các lĩnh vực chính gồm công nghiệp quốc phòng, các ngành, lĩnh vực công nghiệp độc quyền tự nhiên hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan tỏa lớn như kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI.

Xem chi tiết:

http://www.baohaiquan.vn/pages/dau-hoi-cho-co-phan-hoa.aspx

- "Xuất khẩu lệ thuộc FDI: Cái giá của “tấm huy chương”". Không quá lo ngại về sự lệ thuộc của xuất khẩu vào khu vực FDI, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu quan tâm nhiều đến sự cải thiện đáng kể của cán cân thương mại nhờ sự đóng góp chủ lực của doanh nghiệp khối này.

“Hai năm 2012, 2013, xuất khẩu giữ nhịp độ tăng trưởng cao, đặc biệt khu vực doanh nghiệp FDI, liên tục xuất siêu từ năm 2008 đến nay. FDI xuất siêu ngày càng gia tăng số tuyệt đối. Năm 2008, xuất siêu 6,6 tỷ USD; năm 2009 xuất siêu 4,3 tỷ USD; năm 2010 xuất siêu 2,1 tỷ USD. Sau đó tăng lên rất nhanh lên mức 6,2 tỷ USD năm 2011 và 12,3 tỷ USD xuất siêu năm 2012”, ông Giàu cho biết.

Phó chủ tịch Hiệp hội Da giày Việt Nam, ông Diệp Thành Kiệt cũng nói: “Nếu nhìn bên ngoài có thể thấy, việc các doanh nghiệp FDI chiếm tỉ trọng lớn trong xuất khẩu là không ổn. Tuy nhiên, đứng về mặt doanh nghiệp, tôi cho rằng, khi nhìn thấy tỉ trọng doanh nghiệp FDI lớn hơn sẽ làm cho các doanh nghiệp trong nước có động lực hơn để có thể đứng lên và cạnh tranh”.

Cũng theo ông Kiệt, khi kinh tế gặp khó khăn, nhiều doanh nghiệp trong nước phải đóng cửa, ngừng hoạt động... thì nhiều doanh nghiệp FDI vẫn tiếp tục mở rộng và đầu tư. Điều đó cho thấy, không chỉ mạnh hơn doanh nghiệp Việt Nam về tài chính, quản trị, các doanh nghiệp FDI còn hơn về khả năng chịu đựng, kiên cường trước khó khăn cũng như khả năng tận dụng cơ hội.

Ngoài ra, Chính phủ đã có Luật Đầu tư thì không thể phân biệt doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp trong nước, không thể phân biệt xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước cần phải được coi trọng hơn doanh nghiệp FDI.

Xuất khẩu của Việt Nam năm 2013 có thể đạt 133,5 tỷ USD, vượt mức dự báo (131 tỷ USD), tăng hơn 16% và cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra đầu năm là 126,1 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2012.

Trong 11 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI (không kể dầu thô) ước đạt hơn 74,56 tỷ USD, trong khi các doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp được khoảng 47 tỷ USD. Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu đạt 114,6 tỷ USD, đóng góp của khu vực kinh tế trong nước chỉ là 42,3 tỷ USD, doanh nghiệp FDI đóng góp 72,3 tỷ USD.

Xem chi tiết:

http://vneconomy.vn/20131217095222163P0C9920/xuat-khau-le-thuoc-fdi-cai-gia-cua-tam-huy-chuong.htm

- "Siết quản lý, giá sữa vẫn tăng". Mặc dù đã bị “quản” và thậm chí bị yêu cầu tiết giảm chi phí, hạ giá bán song các hãng sữa ngoại vẫn tiếp tục tăng giá sữa ngay trong tháng 12 này...

Những ngày qua, các công ty sữa như Abbott Việt Nam, Mead Jonhson đều “né” báo chí về thông tin chính thức việc tăng giá sữa đợt mới. Song thực tế, trên thị trường, giá nhiều mặt hàng sữa của các hãng này đã tăng lên. Mở màn cho đợt tăng giá sữa mới là sữa của Hãng Mead Johnson, đã tăng 5-7% từ ngày 12.12. Một trong những hãng sữa khác chiếm thị phần lớn tại thị trường Việt Nam là Abbott cũng đã có “thông báo miệng” về việc tăng giá sản phẩm với đại lý. Chiều 17.12, chủ một đại lý sữa ở phố Kim Mã (Hà Nội) cho biết, lẽ ra sữa Abbott đã tăng từ tháng 12 này, nhưng do hàng còn bán chưa chạy như trước khi xảy ra vụ thu hồi sữa nghi nhiễm khuẩn nên các đại lý được thông báo giá sẽ tăng kể từ tháng 1.2014, với mức tăng từ 3-5% tất cả sản phẩm sữa, thực phẩm dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung… “Việc sữa ngoại sẽ lại tăng giá không bất ngờ với các đại lý vì họ đã biết từ hồi tháng 11 vừa qua, bởi đây là chu kỳ tăng giá của sữa, cứ đến hẹn lại lên, dù chẳng có lý do gì”- anh Nguyễn Hà - chủ một đại lý sữa ở phố Sơn Tây (Ba Đình, Hà Nội) cho biết.

Như vậy, bất chấp Thông tư 30 về việc quản lý giá sữa và các thực phẩm dinh dưỡng cho trẻ dưới 6 tuổi đã chính thức có hiệu lực từ 20.11 và các văn bản liên tục ban ra của Bộ Tài chính, nhiều hãng sữa vẫn tăng giá dịp cuối năm.

Xem chi tiết:

http://danviet.vn/kinh-te/siet-quan-lygia-sua-van-tang/20131217110547679p1c25.htm

- "Người thuê trọ bấn loạn vì “bão giá” điện". Với cách tính giá điện kỳ quặc, những ông chủ, bà chủ của các khu nhà trọ đang khiến người thuê nhà méo mặt. Cuộc sống đã bấp bênh càng thêm khốn khó với nỗi ám ảnh bởi giá điện.

Tôi có mặt tại phòng trọ của vợ chồng anh Chuyên, chị Hằng vào một buổi chiều muộn. Cả hai đều ở Vĩnh Phúc, hiện là công nhân của Công ty Xe đạp Thống Nhất ở Hà Nội. Anh chị lập gia đình đã lâu và có 3 người con nhưng gửi ông bà nội ở quê trông nom để ra Hà Nội làm ăn. 
 
Họ thuê căn nhà cấp 4 ở Triều Khúc, Thanh Xuân, với giá 1,2 triệu/tháng. Căn phòng xa nơi làm, lại ở cạnh chỗ sản xuất nhựa, trong phòng nghe rõ tiếng máy xát nhựa, mùi thối của hóa chất.
Anh chị bảo phòng ở đây giá rẻ hơn so với các nơi khác, với mức lương hai người mỗi tháng  6 đến 7 triệu đồng, họ buộc phải ở đây để tiết kiệm tiền gửi về quê cho con ăn học. Trong lúc vợ nấu cơm, anh Chuyên cắm nước để tắm, nhưng cách đun sôi nước của anh làm tôi không khỏi giật mình. 
 
Anh không dùng ấm điện mà dùng một chiếc “sục” được chế tạo chỉ với dao tem (lưỡi dao cạo râu), hai con dao tem ép vào hai phía một thanh gỗ, nối với một sợi dây điện, sau đó anh cắm điện thả dao tem vào chậu nước cho đến lúc sôi. 
 
Thấy cách nhìn lạ lùng của tôi, anh Chuyên cười bảo: “Các chú chưa dùng loại này sao?. Cái này dễ làm lắm, cắm lại đỡ tốn điện, chứ dùng ấm điện tốn lắm”. Nghe thế, chị Hằng cắt ngang: “Làm thế tiết kiệm điện hơn nhưng lần đầu sơ ý thì hay bị điện giật lắm, vì tiền điện hàng tháng nhiều quá, phải sáng tạo thôi. Tháng vừa rồi phòng tôi hết gần 500 nghìn mà có dùng mấy đâu. Tivi còn không dám xem nhiều, mua cái tủ lạnh mini mà cũng không dám cắm vì điện thuê trọ ở đây tận 4 nghìn một số”. 
Ăn tiêu dè dặt, nhưng sống ở Hà Nội tiền nhà, giá điện nước cao ngất ngưởng, những người công nhân nghèo như anh chị sẽ luôn phải gồng mình với gánh nặng mưu sinh.
 
Không chỉ công nhân mà sinh viên từ các vùng quê đến Hà Nội trọ học cũng đang phải chịu cảnh giá điện sinh hoạt cao. Trong căn phòng trọ nhỏ ở Phùng Khoang, Hà Nội, Nguyễn Quang Hùng và Lê Anh Đức (sinh viên Trường Đại học Công nghệ giao thông vận tải) đang học bài, nhưng họ chỉ dám bật chiếc đèn học nhỏ và dùng chung. Ánh sáng không đủ, song họ phải làm thế để cuối tháng bớt tiền điện. 
 
Xem chi tiết:

http://baophapluat.vn/dien-dan/nguoi-thue-tro-ban-loan-vi-bao-gia-dien-173918.html

(T.Hằng - tổng hợp)