Các báo viết về tài chính ngày 18/8/2016

(eFinance Online) - Giá dầu thế giới tăng ngày thứ 5 liên tiếp; Lãi suất có làm khó doanh nghiệp?; TTCK cần san sẻ gánh nặng tài trợ vốn với ngân hàng; Hơn 1.200 tỷ đồng thuế hải quan nguy cơ 'mất trắng'; Từ báo cáo thường niên tốt tới thị trường chứng khoán minh bạch; Tỷ phú giàu nhất Thái Lan muốn thâu tóm Vinamilk; 'Tồn kho' 16.000 tỷ đồng đất nền; Ngân hàng quốc doanh cũng cần sáp nhập...
Các báo viết về tài chính ngày 18/8/2016

Giá dầu thế giới ngày 17/8 tiếp tục tăng sau khi số liệu cho thấy lượng dầu lưu kho của Mỹ giảm. Đây là phiên tăng thứ năm liên tiếp của giá dầu sau hơn một tuần giảm và đang hồi phục mốc 50USD/thùng.

Chốt phiên giao dịch ngày hôm qua, giá dầu WTI ngọt nhẹ của Mỹ giao tháng 9/2015 trên sàn New York Mercantile Exchange tăng 21 cent, tương ứng 0,5%, lên 46,79 USD/thùng.

Giá dầu Brent giao tháng 9/2016 trên sàn ICE Futures Europe tăng 62 cent, tương đương 1,3%, lên 49,85 USD/thùng, trong phiên có lúc giá chạm 49,93 USD/thùng.

Số liệu công bố hôm 17/8 của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết, lượng dầu lưu kho của Mỹ trong tuần kết thúc vào 12/8 giảm 2,5 triệu thùng, trái ngược với dự đoán tăng 500.000 thùng của các nhà phân tích. Nguồn cung xăng cũng giảm 2,7 triệu thùng.

Tính đến hết phiên hôm qua, giá dầu trên các thị trường đã tăng được 5 phiên liên tiếp vì dự báo một số nước xuất khẩu dầu lớn của thế giới sẽ đạt được thỏa thuận không tăng sản lượng dầu.

Xem chi tiết:

http://petrotimes.vn/gia-dau-the-gioi-tang-ngay-thu-5-lien-tiep-466616.html
 Mặc dù Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có việc tiếp cận các nguồn vốn vay, tuy nhiên đến thời điểm này, không ít ngân hàng vẫn điều chỉnh tăng lãi suất cho vay, gây tâm lý lo lắng cho các doanh nghiệp.

Trao đổi với Báo Đấu thầu, nhiều doanh nghiệp chia sẻ, trong 6 tháng đầu năm 2016, mặt bằng lãi suất đã giảm rất nhiều so với khoảng 3 - 4 năm trước, nhưng vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực, nhất là khi ngành ngân hàng vẫn là “bà đỡ” chủ yếu về vốn cho hoạt động của doanh nghiệp.

Lãi suất cho vay của một số ngân hàng hiện ở mức khoảng 8-9%/năm.

Bình luận về hiện tượng nêu trên, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, mức lãi suất như vậy là quá cao trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Điều này sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Ông Vũ Minh Hồng, Giám đốc Công ty Cơ khí chính xác Thăng Long cho rằng, mức lãi suất như trên vẫn làm khó doanh nghiệp. “Hiện các doanh nghiệp ngành cơ khí vẫn gặp không ít khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì với mức lãi suất này doanh nghiệp vẫn phải “nghiến răng” vay để đầu tư sản xuất” - ông Hồng cho biết.

Đặc biệt, theo ông Nguyễn Văn Khang, Giám đốc Công ty TNHH MTV Vạn Xuân, để tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, doanh nghiệp vẫn phải mất rất nhiều thủ tục. “Đối với việc vay vốn đầu tư dài hạn, phía ngân hàng vẫn yêu cầu nhiều thủ tục. Hơn nữa, với nguồn vốn vay dài hạn, là người “nắm đằng chuôi” nên các ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất hàng tháng nên doanh nghiệp sợ không dám vay để đầu tư dài hạn. Đôi khi các doanh nghiệp đã khó lại càng khó để có thể đáp ứng được” - ông Khang phản ánh.

Xem chi tiết:

http://baodauthau.vn/tai-chinh/lai-suat-co-lam-kho-doanh-nghiep-26045.html

Góp ý cho dự thảo Đề án Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020, trong đó có những điểm mới về phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) trong thời gian tới, ông Nguyễn Thành Long, Chủ tịch Sở GDCK Hà Nội cho rằng, cần có thêm những định hướng chính sách cụ thể và khả thi để TTCK đảm đương đúng bản chất là kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ lực cho nền kinh tế. 

Theo ông Long, giai đoạn tới, cần có các giải pháp mạnh mẽ và đồng bộ hơn để thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn, gồm cả thị trường cổ phiếu và trái phiếu. Đây là một trong những hướng đi quan trọng để thị trường vốn san sẻ gánh nặng tài trợ vốn cho nền kinh tế và doanh nghiệp với hệ thống ngân hàng, từ đó tiến tới phân định tương đối rõ nét như thông lệ quốc tế là thị trường vốn chịu trách nhiệm cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế và doanh nghiệp, còn hệ thống ngân hàng chỉ cung cấp nguồn vốn ngắn hạn.

 Nguồn vốn đầu tư (thông qua TTCK) và nguồn vốn tín dụng có những đặc điểm khác nhau, nên việc các ngân hàng phải đảm đương cả nhiệm vụ tài trợ vốn dài hạn cho nền kinh tế như hiện nay đang làm gia tăng rủi ro cho chính hệ thống ngân hàng, cũng như nền kinh tế và doanh nghiệp. 

Thực tiễn cho thấy, những quốc gia có nền kinh tế dựa nhiều vào thị trường vốn thường vận hành năng động hơn, thích ứng tốt hơn với các cú sốc kinh tế, có khả năng tự điều chỉnh và phục hồi tốt hơn, đồng thời có văn hóa quản trị công ty tốt.

Xem chi tiết:

http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/ttck-can-san-se-ganh-nang-tai-tro-von-voi-ngan-hang-161414.html
 Theo báo cáo của Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh (TP.HCM), số nợ thuế không có khả năng thu hồi từ các DN thuộc đơn vị quản lý tăng từ 617 tỷ đồng (năm 2011) lên 1.234 tỷ đồng (năm 2015). Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nhiều doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích.

Cụ thể, năm 2011, tổng nợ thuế chuyên thu gần 1.600 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng thu hồi là 940 tỷ, nợ không có khả năng thu 617 tỷ đồng. Đến năm 2015, tổng nợ thuế chuyên thu lên tới 1.535 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng thu 273 tỷ đồng, không có khả năng thu hồi 1.234 tỷ đồng (chiếm 80% tổng nợ thuế).

Theo Cục Hải quan TP.HCM, nguyên nhân khiến nợ thuế không có khả năng thu ngày càng tăng lên hoàn toàn… khách quan! Cục này cho rằng, trước khi Luật quản lý Thuế có hiệu lực, các doanh nghiệp (DN) được hưởng chính sách ân hạn thuế 30 ngày sau khi thông quan hàng hóa. Nhiều DN đã lợi dụng việc này nên đã không nộp thuế, chây ỳ bỏ trốn, mất tích. Cục đã lập hồ sơ đôn đốc thu hồi các khoản nợ thuế phát sinh trên.

Sau khi tiến hành 7 biện pháp cưỡng chế theo luật quản lý thuế, Cục Hải quan TP.HCM đã phân loại các khoản nợ thuế trên từ có khả năng thu sang không có khả năng thu theo yêu cầu của Tổng cục Hải quan (TCHQ).

Do đó, số nợ thuế không có khả năng thu của năm 2015 cao hơn 2011, nguyên nhân bởi các Chi cục đã chuyển nợ từ nợ có khả năng thu sang nợ không có khả năng thu.

Hiện, Cục đang tích cực kiện toàn hồ sơ để báo cáo TCHQ xem xét xóa nợ. Trong đó, nợ không có khả năng thu hiện chỉ mới xóa được 65.280 tỷ đồng (chiếm 5,3%).

Dẫu vậy, Cục Hải quan TP.HCM cho rằng, tổng thể nợ thuế của đơn vị chỉ chiếm 1,5% so với tổng thu NSNN năm 2016, thấp hơn tổng nợ thuế của ngành hải quan (chiếm 1,64%). 

Xem chi tiết:

http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/hon-1200-ty-dong-thue-hai-quan-nguy-co-mat-trang-1039769.tpo

Làm thế nào để thúc đẩy các doanh nghiệp minh bạch, tạo niềm tin cho nhà đầu tư tiếp tục là một câu hỏi trong mùa giải thứ 9 Cuộc bình chọn Báo cáo thường niên tốt nhất được tổ chức trên TTCK Việt Nam. Tôi đã suy nghĩ khá lâu về câu hỏi này và cuối cùng, tôi quyết định viết về những điều lâu nay mình suy nghĩ…

Một báo cáo thường niên tốt (theo yêu cầu của tôi là rõ ràng và cung cấp thông tin cần thiết cho nhà đầu tư về tình hình kinh doanh, chiến lược, rủi ro và quan hệ cộng đồng - Cuộc bình chọn Báo cáo thường niên tốt nhất chắc chắn có những tiêu chí đánh giá hơn) là bước cơ bản để đánh giá một công ty có chú tâm tới hình ảnh của mình với nhà đầu tư và công chúng hay không.

Tôi đã từng nghe từ một vài nhà phân tích ở một số công ty chứng khoán và người làm phân tích rủi ro của ngân hàng nước ngoài về những công ty niêm yết mà trong báo cáo đã kiểm toán của họ, khi cộng lại một vài số dư thì không thể cân đối được trong bảng tính phân tích của công ty chứng khoán và ngân hàng. Và có một người làm phân tích tín dụng của ngân hàng kể rằng, khi gọi điện thoại xác minh thì câu chuyện cười ra nước mắt là mỗi lần nhận được một con số khác nhau. Đó chắc chắn là một công ty không tốt và có báo cáo (đã kiểm toán) không tốt.

Tuy nhiên, một báo cáo tốt chưa có nghĩa là minh bạch. Có công ty niêm yết hàng đầu mà bộ phận tài chính đều là những người rất giỏi, có người là đàn anh mà tôi ngưỡng mộ. Báo cáo của họ chuyên nghiệp và khó mà nhìn thấy sai sót gì - nhìn nhận chung của nhiều bạn làm phân tích chứng khoán lẫn ngân hàng. Nhưng cách đây không lâu, trong một chuyến công tác về Việt Nam, khi tôi và một người bạn lâu năm trong ngành kiểm toán nói chuyện về công ty này, chúng tôi đồng ý với nhau là điều đó không có nghĩa là họ minh bạch, mà chỉ là họ chuyên nghiệp trong cách làm.

Chúng tôi cho rằng, với kiểm toán viên có kinh nghiệm hạn chế thì khó có thể “chỉ ra cái gì đáng kể” trong một tập đoàn phức tạp như vậy, chưa kể khả năng tập đoàn “làm đẹp” sổ sách bởi những “cao thủ” trong nghề, hay có những chuyện khuất tất khác giữa bên kiểm toán và một khách hàng lớn nhiều tiền, nhiều quan hệ. Nhiều thứ mập mờ trong mô hình kinh doanh đa ngành trải rộng và những câu chuyện hành lang về một số thương vụ mạo hiểm của tập đoàn đó làm chúng tôi nghi ngại. Các báo cáo được trình bày rất chuyên nghiệp của họ không giúp gì cho chúng tôi trong việc làm giảm bớt những mối nghi ngờ. Nhưng ít ra, đây là một công ty biết làm đẹp mình và bỏ nguồn lực ra để thuyết phục giới đầu tư và ngân hàng rằng, mình là một công ty tốt.

Theo tôi, một báo cáo thường niên tốt phải là sản phẩm của một công ty minh bạch và làm ăn tốt. Với một công ty lớn có ảnh hưởng mạnh và biết cách che giấu sai lầm, đổ vỡ thị trường thường do họ gây ra khi họ mắc sai lầm lớn và không thể che giấu được nữa.

Dĩ nhiên, một công ty có giỏi che giấu đến đâu, nếu hệ thống giám sát độc lập (kiểm toán, thành viên Hội đồng quản trị độc lập, kiểm soát nội bộ, giám sát của báo chí, ngân hàng và giới phân tích đầu tư) đủ tốt thì họ không thể che giấu mãi được. Vấn đề là những định chế được gọi là độc lập đó đều có ở Việt Nam, nhưng có là một chuyện, hiệu quả lại là chuyện khác.

Xem chi tiết:

http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/tu-bao-cao-thuong-nien-tot-toi-thi-truong-chung-khoan-minh-bach-159969.html
 Sau hàng loạt thương vụ thâu tóm, thị trường Việt Nam vẫn tỏ ra hấp dẫn trong mắt người Thái. Theo tin từ hãng tin Bloomberg, tỷ phú giàu nhất Thái Lan đang có ý muốn thâu tóm doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam là CTCP Sữa Việt Nam (Vinamilk).

Cụ thể, công ty sản xuất đồ uống Fraster & Neave Ltd (F&N) thuộc sở hữu của tỷ phú giàu nhất Thái Lan, ông Charoen Sirivadhanabhakadi, đang tìm kiếm một số thương vụ nhằm tăng cường thị phần tại khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu tiềm năng mà F&N nhắm đến chính là Vinamilk.

Theo ông Lee Meng Tat – Giám đốc điều hành của F&N trong lĩnh vực đồ uống không cồn – Vinamilk hội tụ đủ các yếu tố mà F&N muốn thâu tóm, đó là thị phần lớn, thương hiệu nổi tiếng, và mạng lưới phân phối rộng.

Hiện tại, phía Vinamilk chưa đưa ra bình luận gì về sự chú ý của F&N. Cổ phiếu VNM đã tăng khá mạnh thời gian gần đây, nguyên nhân là do công ty có kết quả kinh doanh tích cực trong 6 tháng đầu năm 2016. Ngoài ra, tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn và thông tin VNM được nới room 100% cho khối ngoại, và lộ trình thoái vốn của SCIC cũng là lực đỡ cho VNM và cho cả thị trường chứng khoán thời gian qua. 

Xem chi tiết:

http://infonet.vn/ty-phu-giau-nhat-thai-lan-muon-thau-tom-vinamilk-post206618.info

Theo báo cáo của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, giao dịch bất động sản trong tháng giữa của quý III có xu hướng chững lại. Lượng hàng tồn kho chủ yếu đọng ở phân khúc đất nền tại các dự án xa trung tâm chưa có hạ tầng đầy đủ.

Theo đó, tổng giá trị tồn kho bất động sản toàn quốc còn gần 36.000 tỷ đồng; so với tháng 12/2015 giảm 14.931 tỷ đồng, tương đương 29,34% và so với thời điểm kết thúc quý 2/2016 giảm 1.530 tỷ đồng.

Đáng chú ý, tồn kho đất nền nhà ở chiếm giá trị lớn nhất với gần 4,4 triệu m2, xấp xỉ 16.000 tỷ đồng. Tiếp đến là tồn kho nhà thấp tầng khoảng 9.890 tỷ đồng, tương ứng 4.951 căn; chung cư 4.883 căn, tương đương 6.893 tỷ đồng; đất nền thương mại hơn 1 triệu m2, khoảng 3.255 tỷ đồng.

Giá trị tồn kho bất động sản tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn dẫn đầu cả nước với khoảng 6.599 tỷ đồng. Con số này so với kết thúc năm 2015 đã giảm hơn 3.500 tỷ đồng, xấp xỉ 35% và giảm thêm 216 tỷ đồng so với kết thúc quý 2/2016.

Tại Hà Nội, giá trị tồn kho bất động sản hiện rơi vào khoảng 5.823 tỷ đồng. Tỷ lệ giảm tồn kho bất động sản của Hà Nội thời điểm này chậm hơn Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ giảm 923 tỷ đồng (gần 14%) so với cuối năm 2015 và giảm thêm 64 tỷ đồng so với quý 2.

Xem chi tiết:

http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/ton-kho-16000-ty-dong-dat-nen-1039760.tpo
Theo một số chuyên gia kinh tế, các ngân hàng quốc doanh nên tính đến việc sáp nhập để hình thành một ngân hàng lớn, có quy mô tương đương các ngân hàng lớn trong khu vực.     

Hiện nay, trong số 35 ngân hàng thương mại (NHTM) của toàn hệ thống thì có tới 7 NHTM do Nhà nước nắm tỷ lệ sở hữu chi phối (bao gồm cả 3 ngân hàng 0 đồng). Đặc biệt, trong số 7 ngân hàng này, có tới 4 NHTM lớn nhất hệ thống (big 4) với tỷ lệ sở hữu nhà nước rất lớn: Agribank (100%), BIDV (95,28%),Vietcombank (77,11%), VietinBank (64,46%).

Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, các NHTM nhà nước đang nắm phân nửa tổng tài sản của toàn hệ thống. Cụ thể, tính đến ngày 30/6/2016, tổng tài sản của toàn hệ thống đạt hơn 7,8 triệu tỷ đồng, thì riêng tổng tài sản của khối NHTM nhà nước chiếm hơn 3,5 triệu tỷ đồng (gần 45%). Với tổng tài sản, vốn điều lệ lớn, các ngân hàng thương mại nhà nước đang đóng vai trò chi phối hệ thống ngân hàng.

PGS.TS Đào Văn Hùng, Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nhận định: “Không cần thiết hệ thống ngân hàng phải có tới 4-5 ngân hàng thương mại của Nhà nước. Ở Việt Nam, tỷ lệ nhà nước sở hữu ngân hàng vào loại cao nhất thế giới. Chúng ta cần sắp xếp lại để tránh sự lãng phí, tạo ra nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển”.

Theo ông Đào Văn Hùng, big 4 ngân hàng hiện nay có chức năng, nhiệm vụ, sản phẩm dịch vụ… tương đối giống nhau. Do đó, không cần thiết tồn tại sự cạnh tranh lẫn nhau của cả 4 ngân hàng chung sở hữu nhà nước, vừa lãng phí, vừa không tạo được ngân hàng tầm cỡ khu vực. 

Xem chi tiết:

http://baodautu.vn/ngan-hang-quoc-doanh-cung-can-sap-nhap-d50171.html

(CT tổng hợp)