Các báo viết về Tài chính ngày 5/12/2013

**Luật Thuế GTGT: Lằn ranh... “gạch chéo; **Kiến nghị hoãn áp thuế chống phá giá thép nhập khẩu; **Thoái hơn 22.000 tỷ đồng đầu tư ngoài ngành: Loay hoay lối thoát; **Thoái hơn 22.000 tỷ đồng đầu tư ngoài ngành: Loay hoay lối thoát; **Sẽ xóa bỏ 1.000 doanh nghiệp nhà nước; **Vụ viện trợ 10 tỷ USD: Cú lừa thế kỷ với kịch bản quá cũ; **Thiếu việc làm và áp lực xã hội: Đừng trông chờ vào các “máy cái” đã trở thành “máy phá“;...

“Gạch chéo” vừa thủ công, vừa mang tính ước lệ, không được quy chuẩn“Gạch chéo” vừa thủ công, vừa mang tính ước lệ, không được quy chuẩn

- "Luật Thuế GTGT: Lằn ranh... “gạch chéo”". Luật Thuế GTGT được triển khai thực hiện đã 15 năm đã từng bước làm lành mạnh các quan hệ trong giao dịch trên thị trường, góp phần thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính thuế tiến bộ, phù hợp với xu thế quản lý thuế hiện đại. Nhưng quy định về “gạch chéo” trên hóa đơn vẫn tồn tại cho đến nay đang gây không ít phiền toái.

Trong dự thảo Nghị định và Thông tư hiện nay khi Chính phủ và Bộ Tài chính đang lấy ý kiến để sửa đổi Nghị định 51/2010/NĐ-CP và Thông tư 64/2013/TT-BTC về hóa đơn bán hàng hoá cung ứng dịch vụ; trong đó vẫn dự kiến sẽ tiếp tục quy định về đường “gạch chéo” khi xuất hóa đơn này.

Cái “gạch chéo” này tưởng chừng đơn giản, nhỏ xíu; nhưng thực tế không phải vậy. Quy định này gây ra không biết bao phiền phức, thậm chí gây thiệt hại, làm tăng chi phí cho DN, nhất là những DN sử dụng máy tính để in hóa đơn. Đồng thời nó cũng gây nên những phức tạp và phiền phức cho chính cơ quan thuế trong quản lý hóa đơn.

Cái đường “gạch chéo” này là gì mà “ghê gớm” vậy? Đơn giản thôi, khi kết thúc việc viết (in) hóa đơn thì tại tất cả các liên của hóa đơn, bên A (bên bán) cần kẻ hoặc vạch một đường “gạch chéo” dưới dòng hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp; vị trí “gạch chéo này ở khoảng trống (nếu còn khoảng trống) trên hóa đơn trước khi giao hóa đơn này cho bên B (bên mua). Trong cả nước, 63 tỉnh thành phố mỗi nơi một kiểu, cách kẻ, vẽ cũng đa dạng, phong phú như muôn vẻ vốn có của thực tế cuộc sống vậy. Chính vì thế, trong 15 năm, có đến hàng nghìn vướng mắc về cách kẻ, vẽ, màu, mực và việc in hóa đơn này. Trong số đó, có những hóa đơn kẻ, vẽ, màu mực, in sai kiểu “gạch chéo” nên không được xem là hóa đơn hợp lệ, không được khấu trừ thuế GTGT hay tính làm chi phí hợp lệ khi tính thuế thu nhập DN…. Có những trường hợp tức cười, cùng cách kẻ, gạch đó ở tỉnh này thì được xem là hợp lệ, tại tỉnh bạn kế bên thì lại không. 

Tác giả đã chứng kiến cảnh hai bên mua và bán cự nự với nhau khi hóa đơn được giao, bên mua nhất định không nhận hóa đơn, vì đường “gạch chéo”này giống như “con giun”, và cho rằng cầm về sẽ không được cơ quan thuế chấp nhận, yêu cầu phải viết hóa đơn khác thay thế! Lại có trường hợp, máy tính không kẻ được đường “gạch chéo” này, bên bán đã phải bố trí riêng một người chờ máy in xong hóa đơn, cầm hóa đơn và chỉ làm mỗi cái việc “gạch chéo” hóa đơn trước khi giao cho khách hàng, do phần mềm in hóa đơn không thể thực hiện được công đoạn “gạch chéo”. Với hàng triệu người nộp thuế, hàng tỷ giao dịch được xuất hóa đơn trong một năm, vấn đề trở nên không đơn giản nữa. Đó là vấn đề của chính DN, và của chính cơ quan thuế.

Xem chi tiết:

http://dddn.com.vn/phap-luat/luat-thue-gtgt-lan-ranh-gach-cheo-2013120304172424.htm

- "Kiến nghị hoãn áp thuế chống phá giá thép nhập khẩu". Ngày 4-12, ngay sau khi Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) công bố phán quyết sơ bộ sẽ áp thuế chống bán phá giá thép không gỉ nhập khẩu, 18 doanh nghiệp (DN) ngành thép trong nước đã có văn bản kiến nghị hoãn quyết định này.

Các DN này cho biết nếu việc áp thuế chống bán phá giá được thực hiện thì chính bản thân DN và người tiêu dùng Việt Nam sẽ bị thiệt hại lớn. Giá thép không gỉ nội địa hiện cao hơn 10%-20% so với thị trường quốc tế, vì thế nguồn nguyên liệu giá rẻ từ Trung Quốc, Malaysia, Indonesia và Đài Loan là đầu vào chính của các DN. Bị đánh thuế chống bán phá giá sẽ đẩy giá thép lên cao, DN nước ta chỉ còn cách ngưng nhập nguyên liệu.

Các DN thép đề nghị Bộ Công Thương cân nhắc thận trọng về việc phê chuẩn lệnh áp thuế. Cần xem xét việc dành cho DN nhập khẩu một khoảng thời gian hợp lý để chuẩn bị trước thời điểm bắt đầu áp thuế (nếu có). Theo đó, tính toán mức độ thiệt hại làm cơ sở để điều chỉnh mức thuế chống phá giá trên cơ sở xem xét đến tỉ lệ thiệt hại thực tế của DN trong nước.

Xem chi tiết:

http://phapluattp.vn/20131204103049870p0c1014/kien-nghi-hoan-ap-thue-chong-pha-gia-thep-nhap-khau.htm

- "Thoái hơn 22.000 tỷ đồng đầu tư ngoài ngành: Loay hoay lối thoát". Chỉ còn hơn 1 năm nữa, các tập đoàn, tổng công ty phải hoàn tất việc thoái hơn 22.000 tỷ đồng giá gốc các khoản đầu tư ngoài ngành theo yêu cầu của Chính phủ. Tuy nhiên, chỉ với quy định không được bán vốn thấp hơn giá thị trường, không bán lỗ, hàng loạt đơn vị đang trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan. 

Theo thống kê của Cục Tài chính Doanh nghiệp (Bộ Tài chính), có tổng cộng hơn 22.000 tỷ đồng đã được các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tung ra để đầu tư ngoài ngành (vào chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư, ngân hàng). Trong đó, dẫn đầu về đầu tư ngoài ngành, phải kể đến khoản đầu tư hơn 4.551 tỷ đồng của công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vào chứng khoán, tài chính, bất động sản….

Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cũng chi 1.828 tỷ đồng rót vào lĩnh vực khác như tài chính, chứng khoán, bất động sản… Tổng Cty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), đầu tư ra ngoài 672 tỷ đồng, bằng 10,37% vốn điều lệ; Tổng Cty Xi măng Việt Nam (Vicem) chi hơn 634 tỷ đồng.Sau khi Chính phủ yêu cầu các “quả đấm thép” phải thoái vốn đầu tư ngoài ngành, đến nay, EVN đã thoái vốn trị giá 1.079 tỷ đồng tại Cty CP Bất động sản Điện lực Nha Trang và đang tập trung thoái vốn tại Cty CP Bất động sản Sài Gòn Vina, Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình, Công ty Tài chính cổ phần Điện lực... Dự kiến đến năm 2015, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cũng sẽ thoái vốn hoàn toàn khỏi Ngân hàng Đại Dương (khoảng 20% vốn điều lệ hiện nay).

Phó Tổng GĐ Vinacomin Nguyễn Văn Biên cho biết, tập đoàn đầu tư khoảng 300 tỷ đồng vào lĩnh vực ngân hàng, 70 tỷ đồng vào chứng khoán, còn lại vào lĩnh vực bảo hiểm. “Thời điểm hiện nay giá cổ phiếu còn hơi thấp. Dự tính sẽ hoàn thành việc thoái vốn trong khoảng thời gian từ năm 2014 – 2015. Quan trọng là chờ đợi thời điểm giá tốt nhất sẽ tiến hành khớp lệnh để thu được giá trị cao hơn”, ông Biên nói.

Nhiều tập đoàn, tổng công ty cũng loay hoay với việc thoái vốn. Như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) dù đã rao nhiều lần trong suốt tháng 9 và tháng 10 qua, nhưng chỉ bán được 373.500 cổ phiếu trong tổng số trên 1,06 triệu cổ phiếu SZL của Cty CP Sonadezi Long Thành (mà tập đoàn này đang nắm giữ).

Tình hình thoái vốn được dự báo không hề dễ dàng với Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) khi phải thoái toàn bộ phần vốn đã đầu tư vào 37 doanh nghiệp (trong khi đến nay tập đoàn này mới hoàn tất thoái vốn tại 5 doanh nghiệp).

Xem chi tiết:

http://www.tienphong.vn/kinh-te/661176/thoai-hon-22000-ty-dong-dau-tu-ngoai-nganh-loay-hoay-loi-thoat-tpp.html

- "Sẽ xóa bỏ 1.000 doanh nghiệp nhà nước". Doanh nghiệp nhà nước làm ăn không hiệu quả là nguyên nhân kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho biết, đến năm 2020 sẽ chỉ còn 300 doanh nghiệp Nhà nước được tồn tại. Mới đây, Vinashin đã chính thức được xóa bỏ và thành lập SBIC trên cơ sở tổ chức lại công ty mẹ và 1 số đơn vị thành viên của Vinashin, số nợ nghìn tỷ của Vinashin cũng được tái cơ cấu qua các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thường niên (VBF) 2013 sáng 3/12, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho biết đến năm 2015, Việt Nam sẽ chỉ còn 600 doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), và tiếp tục xuống còn 300 doanh nghiệp vào 2020 theo kế hoạch đã được Chính phủ phê duyệt.
 
“Thời gian qua, quá trình cổ phần hóa DNNN chậm vì ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế. Sắp tới sẽ đẩy nhanh hơn”, Phó Thủ tướng khẳng định. 
 
Năm 2012, cả nước chỉ cổ phần hóa được 34 doanh nghiệp, những tháng đầu năm 2013, con số này chỉ dừng ở gần 100 doanh nghiệp, so với kế hoạch là 175. Sau 7 năm, đến năm 2020, số lượng doanh nghiệp trong khu vực này sẽ giảm gần 1.000, thay vì hơn 1.200 đơn vị hiện nay.
 
Xem chi tiết:
 

- "Vụ viện trợ 10 tỷ USD: Cú lừa thế kỷ với kịch bản quá cũ". Việt kiều Pall Hùng Lê đại diện cho công ty Daimond Acess Inc tại Châu Á - Thái Bình Dương tiến hành đi vận động nhiều tỉnh thành từ Bắc chí Nam nhận gói hỗ trợ trong cam kết viện trợ 10 tỷ USD cho Việt Nam không hoàn lại. Nếu đúng sự thực thì đây là gói viện trợ tài chính khủng của một công ty đứng ra viện trợ cho một quốc gia.

Điều kiện bên viện trợ đưa ra là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải cung cấp một bảo lãnh có giá trị 10 tỷ USD và công ty Diamond Acess Inc là pháp nhân được thụ hưởng. Một thông tin quá sốc với dư luận, tuy nhiên với các chuyên gia đầu ngành về tài chính ngân hàng thì sự việc trên chỉ là một chiêu lừa đảo dị hợm, vì kịch bản đã quá cũ. 

Câu chuyện ông Paull Hùng Lê, một Việt kiều Mỹ tỏ ý muốn "viện trợ nhân đạo" cho Việt Nam 10 tỷ USD/năm nhưng bị nhiều tỉnh thành từ chối đang khiến dư luận chú ý. Bởi số tiền mà ông Paull Hùng Lê hứa cho quá lớn và đòi hỏi đưa ra từ phía ông này cũng rất đơn giản - "không để lộ thông tin ra bên ngoài" với yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cung cấp một bảo lãnh có giá trị 10 tỷ USD.

Theo tìm hiểu của PV, đến nay ông Việt kiều Mỹ này đã phải "khổ công" đi từ Bắc đến Nam, gặp gỡ nhiều lãnh đạo, ban ngành của các tỉnh thành để vận động "cho tiền". Số tiền mà ông Paull Hùng Lê "mạnh mồm" tuyên bố tại mỗi tỉnh mà ông ghé qua lên tầm 2.000 tỷ đồng đến 4.000 tỷ đồng. Theo ông Hùng, số tiền đó sẽ là nguồn tài trợ để làm các công trình, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Xem chi tiết:

http://www.nguoiduatin.vn/cam-ket-vien-tro-10-ty-usd-mien-phi-cho-viet-nam-cu-lua-the-ky-bat-thanh-vi-kich-ban-qua-cu-a117167.html

- "Thiếu việc làm và áp lực xã hội: Đừng trông chờ vào các “máy cái” đã trở thành “máy phá“". Một trong những nội dung của Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII là dự án Luật Việc làm được trình để Quốc hội cho ý kiến. Trong bối cảnh hàng loạt doanh nghiệp phá sản vì khủng hoảng kinh tế, dự án luật này càng có ý nghĩa thực tiễn. Chúng tôi có cuộc trò chuyện cùng PGS-TS Nguyễn Đức Định, Chủ tịch Hội đồng Khoa học,Trung tâm Nghiên cứu kinh tế - xã hội.

Ông Định cho biết: Các số liệu cho thấy, với việc hàng ngàn doanh nghiệp đã và đang phá sản thì rõ ràng số lượng người thất nghiệp là không nhỏ, chỉ có khác là thất nghiệp từng phần hay thất nghiệp toàn phần.

Ở các nước phát triển, nếu thất nghiệp thì sẽ khai thất nghiệp để được trợ cấp thất nghiệp, những người thất nghiệp đó gọi là thất nghiệp toàn phần. Tuy nhiên, ở ta chuyện trợ cấp này là khá hiếm ở thời điểm hiện tại, nên không biết ai thất nghiệp.
 
Còn thất nghiệp từng phần/ bán phần lại thường xảy ra ở nông thôn, người dân bận các vụ cày cấy và vụ gặt, còn sau đó nhàn rỗi những ngày dài. Hoặc có những nơi, người lao động chỉ làm ngày 3 tiếng thay vì 8 tiếng, vì không đủ việc để làm.
 
Thi thoảng tôi đi qua khu công nghiệp ở Đông Anh (Hà Nội), công nhân nghỉ việc cả… đoàn. Vinashin vừa rồi sa thải 15.000 công nhân, nhưng lại diễn giải theo kiểu lấp liếm. Tức là không có việc làm nên cho 15.000 công nhân nghỉ việc, nhưng lại bảo là “chúng tôi không sa thải”. Rõ ràng cho nghỉ việc mà lại còn nói rằng không sa thải.
 
Bản chất nó giống nhau cả thôi. Rõ ràng những người này không đi làm thì thiệt hại tính ra bao nhiêu cho nền kinh tế quốc dân phải tính ra được. Nó gây ra một áp lực ghê gớm cho xã hội.
 
Xem chi tiết:
 

 - "Giá xe nhập khẩu khó giảm". Cạnh tranh giữa những mẫu xe nhập khẩu nguyên và xe lắp ráp trong nước đã kéo dài từ rất lâu, nhưng suốt bao nhiêu năm qua phần thắng luôn thuộc về xe lắp ráp trong nước do thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng thấp hơn nhiều so với xe nhập khẩu nguyên chiếc.

Điều này nay đã thay đổi và sẽ còn tiếp tục thay đổi khi mà các mức thuế xe nhập khẩu đang theo một lộ trình thấp dần và tiến tới sẽ lùi về mức 0 - 5% vào năm 2018 ( còn hơn 4 năm nữa). Đó là một xu hướng có lợi cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, về lâu dài chưa biết thế nào?

Chỉ tính riêng trong tháng 10/2013 kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc đạt 4000 chiếc, giá trị kim ngạch cao nhất từ đầu năm, lên tới 77 triệu USD, tăng hơn 1000 xe và 4 triệu USD so với tháng 9/2013. Dự báo tổng số lượng xe nhập khẩu trong 11 tháng sẽ lên tới 31.000  xe, tăng 28,3% so với cùng kỳ, tổng giá trị kim ngạch ước đạt 638 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ.

Những số liệu trên khiến nhiều người bất ngờ khi ngay từ cuối năm ngoái và đầu năm nay, dự báo xe nhập khẩu nguyên chiếc sẽ ngang bằng hoặc thấp hơn năm 2012. Bản thân dự báo đó cũng dựa trên một dự báo khác là nền kinh tế vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Đúng là nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng lượng tiêu thụ xe ô tô, cả xe lắp ráp trong nước và xe nguyên chiếc đều tăng mạnh, trong đó, phần thắng đang nghiêng về xe nhập khẩu nguyên chiếc. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô VN (Vama) thì trong 10 tháng năm 2013 tỷ lệ tăng trưởng về bán hàng của thị trường ô tô nhập khẩu nguyên chiếc so với cùng kỳ năm 2012 cao hơn hẳn so với xe lắp ráp trong nước (25% so với 18%).

Điều quan trọng, như một số chuyên gia đặt ra là sự tăng trưởng đó mang tính thời vụ hay xu thế ? Câu trả lời là cả hai, nhưng xu thế là yếu tố quan trọng hơn. Tại sao?

Thứ nhất, thực tế những tháng gần đây, sự sôi động, nhộn nhịp, tăng trưởng của thị trường ô tô nói chung đa phần là nhờ vào xe nhập khẩu. Ngoài sự tăng trưởng về số lượng thì sự đa dạng về mẫu mã, chủng loại và hàng loạt những thương hiệu (chủ yếu là xe hạng sang) như Lexus, Audi, Rang Rover, Peugout…đều đua nhau đổ bộ vào thị trường VN. Bên cạnh đó, những tháng cuối năm luôn được xem là thời điểm “vào mùa” của thị trường ô tô Việt, nên gọi đây là dịp thời vụ cũng không sai.

Thứ hai, như chúng tôi đã phân tích trong hàng loạt số báo vừa qua, việc nhập khẩu xe nguyên chiếc đang trở thành xu thế của thị trường ô tô Việt do các mức thuế nhập khẩu đang giảm dần theo lộ trình Afta mà sang năm 2014 sẽ giảm xuống còn 50%. Bản thân các DN, các liên doanh trong nước hiện đang đều đi hai chân, vừa nhập khẩu, vừa lắp ráp. Có những lien doanh, doanh nghiệp việc tiêu thụ xe nhập khẩu nguyên chiếc còn cao hơn cả xe lắp ráp. Như vậy, việc gia tăng nhập khẩu và bán xe nguyên chiếc đã thực sự trở thành xu thế, nhiều khả năng, năm sau sẽ cao hơn năm trước (Nếu so với xe lắp ráp trong nước).

Xem chi tiết:

http://dddn.com.vn/thi-truong/gia-xe-nhap-khau-kho-giam-20131203042538533.htm

- "Khó tận dụng ưu đãi thuế". Đó là chia sẻ của ông Thân Đức Việt- Giám đốc điều hành Tổng công ty May 10 tại hội thảo “Ảnh hưởng của các Hiệp định thương mại tự do đối với doanh nghiệp Việt Nam” do Phòng Công nghiệp và thương mại Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 4-12. 

“Lợi ích mà May 10 được hưởng sau khi Việt Nam gia nhập Hiệp định thương mại tự do (FTA) chủ yếu là về mặt thị trường. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là May 10 chưa tận dụng được những ưu đãi về thuế - vốn được xem là thuận lợi quan trọng nhất - ông Thân Đức Việt nói. Vì vậy, các doanh nghiệp đang cần sự hỗ trợ từ Chính phủ trong việc hình thành các chuỗi cung ứng để tận dụng lợi thế của FTA.  

Xem chi tiết:

http://www.anninhthudo.vn/kinh-doanh/kho-tan-dung-uu-dai-thue/527525.antd

- "Nóng chuyện thưởng Tết của EVN và Petrolimex". “EVN và Petrolimex là những tập đoàn tổng công ty lớn lại đang có số nợ lớn đồng thời có vị thế độc quyền do vậy mức thưởng tết nhiều hay ít của doanh nghiệp này luôn được dư luận quan tâm”, TS Lê Đăng Doanh nhận định.Chỉ chưa đầy 1 tháng nữa khép lại năm 2013, vấn đề lương thưởng của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) lại trở thành câu chuyện nóng được dư luận quan tâm. 

Trao đổi với báo chí bên lề Hội nghị tổng kết công tác tái cơ cấu và thực hiện Nghị định 99/2012/NĐ-CP đối với doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công thương, ông Bùi Ngọc Bảo - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho hay: “Riêng chế độ lương thưởng của Petrolimex thực hiện theo quy định của Nhà nước. Ví dụ như năm ngoái (năm 2012) được xem là một năm kinh doanh rất khó khăn của Petrolimex, nhân viên của Tập đoàn không có chế độ thưởng tết. Và năm nay chúng tôi cũng cố gắng duy trì như năm ngoái”.

Theo người đứng đầu Petrolimex, do diễn biến giá xăng dầu trong những ngày còn lại của năm 2013 chưa đoán định được nên Petrolimex chưa thể kết luận kết quả kinh doanh của cả năm.

Xem chi tiết:

http://giaoduc.net.vn/kinh-te/nong-chuyen-thuong-tet-cua-evn-va-petrolimex/327831.gd

- "Hà Nội tăng 6.000 tỉ đồng hàng hóa phục vụ Tết 2014". Còn gần 2 tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán, nhưng ngay từ lúc này, UBND thành phố Hà Nội đã chỉ đạo ngành chức năng sẵn sàng các mặt hàng phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân. Trong đó, việc bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm… được đặc biệt quan tâm.

Với phương châm, đáp ứng đủ nhu cầu hàng hóa và ổn định thị trường trong dịp Tết, UBND thành phố Hà Nội đã chỉ đạo 13 doanh nghiệp tham gia bình ổn giá trên địa bàn dự trữ đúng lượng hàng hóa đã cam kết, tương ứng với số vốn 318 tỷ đồng, gồm 5.500 tấn gạo, 900 tấn thịt lợn, 300 tấn thủy sản đông lạnh…

Các doanh nghiệp tham gia bình ổn giá, ngoài việc tổ chức bán hàng tại các điểm cố định còn tăng cường tần suất bán hàng lưu động bình ổn giá kết hợp với hàng phục vụ Tết tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và các huyện ngoại thành.

Ông Đào Quang Vinh, TGĐ Công ty CP công nghệ thực phẩm Vinh Anh, một trong những doanh nghiệp tham gia bình ổn giá cho biết, công ty được thành phố giao nhiệm vụ bình ổn mặt hàng thịt lợn và được thành phố cho vay 25 tỷ đồng. Công ty đã triển khai ký hợp đồng với các trang trại lớn của Hà Nội cũng như các tỉnh lận cận, đảm bảo nguồn hàng, an toàn vệ sinh thực phẩm phục vụ nhân dân trong dịp Tết.

UBND thành phố Hà Nội cũng chỉ đạo các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, hệ thống siêu thị, trung tâm bán lẻ trên địa bàn chuẩn bị lượng hàng hóa phục vụ Tết tăng từ 10% - 20% so với năm 2012 (trong đó 90% là hàng hóa trong nước sản xuất). Ước tính, tổng lượng hàng hóa dự trữ tăng thêm của hệ thống phân phối, bán lẻ trên địa bàn thành phố phục vụ thị trường trong nước trong và sau Tết trị giá khoảng 6.000 tỷ đồng.

Xem chi tiết:

http://vov.vn/kinh-te/thi-truong/ha-noi-tang-6000-ti-dong-hang-hoa-phuc-vu-tet-2014/295350.vov

- "Ngân hàng ngại thông tin về an toàn thanh toán thẻ vì sợ ảnh hưởng uy tín". Theo TS. Hà Huy Tuấn – Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia – Việt Nam hiện vẫn chưa có đánh giá chính xác với số liệu cụ thể về mức độ an toàn, bảo mật của các ngân hàng (NH).

Bản thân các NH thường ngại đề cập hoặc công bố các vấn đề có liên quan đến an toàn hoạt động thanh toán thẻ do sợ bị ảnh hưởng đến uy tín của mình. Đây chính là rủi ro lớn nhất mà hệ thống NH nói riêng và toàn xã hội nói chung phải đối mặt.

Đồng quan điểm trên, ông Bùi Quang Tiên – Vụ trưởng Vụ thanh toán, Ngân hàng Nhà nước VN (NHNN) – cũng cho biết NHNN đã chủ động phối hợp với Bộ Công an trong việc phòng chống tội phạm, thiết lập kênh trao đổi thông tin để kịp thời xử lý nhiều vụ gian lận, lừa đảo trong thanh toán thẻ. Tuy nhiên các NH rất ít hoặc không khai báo những vụ việc liên quan.

Do đó bên cạnh việc tăng cường các giải pháp về an ninh, an toàn và bào mật cho cơ sở hạ tầng thanh toán, các NH cần tăng cường sự hợp tác và trao đổi thường xuyên với các cơ quan chuyên trách trong việc phát hiện, ngăn chặn các nguy cơ gây mất an toàn trong thanh toán thẻ.  

Đó là thông tin tại hội thảo “An ninh bảo mật thẻ và thanh toán” do Hiệp hội thẻ Việt Nam và Công ty CP Komtek tổ chức đã diễn ra ngày 4.12 tại TP.HCM.

Xem chi tiết:

http://tinnong.vn/pages/20131205/ngan-hang-ngai-thong-tin-ve-an-toan-thanh-toan-the-vi-so-anh-huong-uy-tin.aspx

- "Phải thêm “sân tập” cho doanh nghiệp tư nhân". Vừa qua, bộ Công thương đưa thông tin về dự thảo thông tư công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá, cũng như các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở Việt Nam. Điều đáng chú ý trong dự thảo lần này này chính là ý kiến đề xuất các doanh nghiệp FDI có thể sẽ được mở rộng và kinh doanh những lĩnh vực như xăng dầu, dược phẩm, lúa gạo từ năm 2014.Chúng ta đã quá quen với ngụ ngôn “cửa kính vỡ”, chuyện mô tả nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập. Theo đó, trong nền kinh tế hội nhập vốn đa dạng thành phần tham gia, thì lợi ích của người này có thể là sự mất mát của người khác. Việt Nam sẽ đứng trước “một cơ hội” và “một nguy cơ”. Cơ hội chính là được hưởng lợi từ những “cái mới” bên ngoài vào, cụ thể là tiền, tri thức, khoa học, kinh nghiệm. Tuy nhiên, cũng xuất hiện nguy cơ bản thân nền kinh tế quốc gia bị “khống chế” nếu “bên ngoài” quá mạnh và “nuốt chửng” cái nội.  Một trong những yếu tố “bên ngoài” vừa đề cập phía trên chính là các doanh nghiệp FDI. Trao đổi với Sài Gòn Tiếp Thị, TS Lê Đăng Doanh ví von “cho các doanh nghiệp FDI vào hoạt động cũng như việc dẫn con hổ về nhà chơi”. Rõ ràng việc “dẫn hổ về nhà chơi” có những cái lợi riêng của nó. Chính ông Doanh nhận định, “nếu biết làm cho con hổ vui, biết cách thuần phục nó thì nó sẽ là vật “làm sang” cho căn nhà. Thậm chí, có đưa đầu vào miệng hổ để đùa thì hổ cũng không cắn”. Tuy nhiên, “nếu không áp dụng những nguyên tắc quản lý hổ đúng, thì có thể bị giết bất kỳ lúc nào”, ông Doanh nhấn mạnh.

Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang vận hành dựa trên bốn guồng máy chủ yếu: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, nông nghiệp và doanh nghiệp FDI. Vậy là, Việt Nam, như một xu hướng hội nhập tất yếu, cũng đang nuôi một “con hổ”.

Điều đáng nói là theo nghiên cứu của chuyên gia Vũ Thành Tự Anh, trong bốn guồng máy đó chỉ có guồng máy FDI là đang hoạt động một cách mạnh mẽ và hiệu quả. Đồng ý với quan điểm này, ông Doanh cho biết “khoảng 65% giá trị hàng hoá xuất khẩu hiện nay đến từ các doanh nghiệp FDI”. Năm 2012, lần đầu tiên trong nhiều năm qua, Việt Nam đạt xuất siêu. Tuy nhiên chưa kịp mừng, thì dư luận bắt đầu lo lắng khi chủ yếu xuất siêu là khu vực FDI.

Câu hỏi đặt ra là tại sao trong cùng một lãnh thổ, cùng chịu tác động của những chính sách như nhau nhưng khu vực FDI trội hơn? Ông Doanh chỉ rõ “do các doanh nghiệp FDI nằm trong chuỗi sản xuất liên quốc gia, nhận kinh phí mạnh từ doanh nghiệp mẹ từ nước ngoài. Thế nên đầu vào doanh nghiệp FDI cũng mạnh, mà đầu ra cũng thế”. Như vậy, khi nhiều doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, doanh nghiệp tư nhân “leo lét”, khu vực nông nghiệp ì ạch giá thấp, thì “con hổ” FDI ngày càng trở nên khoẻ mạnh.

Xem chi tiết:

http://sgtt.vn/kinh-te/185669/phai-them-%E2%80%9Csan-tap%E2%80%9D-cho-doanh-nghiep-tu-nhan.html

- "Nỗi băn khoăn có lý". Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2014 đề ra chỉ tiêu tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động và tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%. Câu hỏi được đặt ra là: Vì sao mỗi năm hơn 50.000 doanh nghiệp phá sản hoặc ngừng hoạt động, số doanh nghiệp còn lại phải giảm quy mô ít nhất 30%, vốn đầu tư toàn xã hội ngày càng giảm, vậy mà đều đặn hàng năm vẫn tạo ra việc làm cho từ 1,5 đến 1,6 triệu người và tỷ lệ thất nghiệp cũng giảm từ 2,8% năm 2010 xuống 1,9% năm 2012.

Băn khoăn trên là hoàn toàn có lý. Các nước trên thế giới suy giảm kinh tế thì tất nhiên tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, thế mà ở Việt Nam ngược lại, kinh tế giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp không tăng mà lại giảm là trái với quy luật kinh tế. Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng bày tỏ ý kiến của một số đại biểu lo ngại về tính xác thực của các con số và tính khả thi của chỉ tiêu việc làm và thất nghiệp khi mà mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2014 chỉ tăng khoảng 5,8%.

Trong bối cảnh thực trạng nền kinh tế và tình hình doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, nhưng tạo việc làm, tỷ lệ thất nghiệp lại diễn ra theo chiều hướng “khả quan”, như vậy cần phải phân tích, đánh giá khách quan và thực chất hơn. Đặc biệt phải “mổ xẻ” mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tình trạng khó khăn của doanh nghiệp với chỉ tiêu việc làm và thất nghiệp. Bảo đảm việc làm là một đòi hỏi lớn, quan trọng đối với nền kinh tế, có ý nghĩa quyết định đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội.

Vì vậy giữ hai chỉ tiêu này làm cơ sở để Chính phủ phấn đấu ở mức cao nhất, từ đó gây dựng lại niềm tin cho doanh nghiệp và người lao động. Vấn đề lớn nhất trong năm tới không phải là tăng trưởng GDP trên 5% hay 6% mà quan trọng nhất là tạo ổn định công ăn việc làm, thu nhập cho hàng triệu lao động. Việc làm được coi là một chỉ tiêu quan trọng hàng đầu về sức khỏe của nền kinh tế. Biến động việc làm luôn là một trong những lý do hàng đầu dùng để giải thích cho chỉ số giá tiêu dùng và sức mua của người dân. Việc làm có thể coi là thước đo trực tiếp và xác thực tình trạng hiện tại và triển vọng của nền kinh tế. Tuy vậy, ở nước ta thông tin về việc làm chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các cơ quan điều hành vĩ mô. Dự thảo Luật Việc làm chuẩn bị trình Quốc hội thông qua cũng không được dư luận thật sự chú ý. Theo dự thảo Luật, người lao động có ký hợp đồng lao động, hợp đồng việc làm có thời hạn, không thời hạn hoặc theo thời vụ từ 3 đến 12 tháng đều bắt buộc phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Tương tự, các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động đều phải đóng bảo hiểm này dù muốn hay không.

Xem chi tiết:

http://www.anninhthudo.vn/van-de-hom-nay/noi-ban-khoan-co-ly/527460.antd

- "Năm 2014, doanh nghiệp vẫn chưa thoát khỏi khó khăn". Ngày 4.12, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (NFSC) công bố báo cáo Đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam 11 tháng năm 2013. Báo cáo này dự báo cán cân thanh toán quốc tế năm 2013 thặng dư khoảng 1,5 - 2 tỉ USD. 

Báo cáo nhận định chung kinh tế vĩ mô năm 2013 đã từng bước ổn định. Tăng trưởng và sản xuất đã có những chuyển biến tích cực đi lên vào thời điểm cuối năm. Tuy nhiên tăng trưởng vẫn còn ở mức độ thấp, cân đối ngân sách còn nhiều thách thức và các doanh nghiệp vẫn chưa thoát khỏi khó khăn là những vấn đề cần tiếp tục đặt ra cho năm 2014.

NFSC kiến nghị chính sách tỷ giá trong năm 2014 cần linh hoạt hơn nữa nhằm hỗ trợ năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam. Cụ thể là việc xác lập một ngang giá tiền tệ mới trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới 2007 - 2008 đã xác lập một mặt bằng giá mới.

Xem chi tiết:

http://tinnong.vn/pages/20131205/nam-2014-doanh-nghiep-van-chua-thoat-khoi-kho-khan.aspx

- "Kiến nghị sớm thả nổi lãi suất". Trung tâm nghiên cứu của BIDV cho rằng, NHNN cần đảm bảo lãi suất cho vay và huy động được xác định trên cơ sở cung cầu vốn của thị trường.

Trung tâm nghiên cứu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa công bố báo cáo Dự báo tình hình kinh tế vĩ mô 2014 và đề xuất kiến nghị.

Theo đó, trung tâm nghiên cứu dự báo lãi suất năm 2014 sẽ ổn định, tín dụng có thể tăng 14 – 15%, tỷ giá sẽ được điều chỉnh linh hoạt và ổn định, từ 2-4% với biên độ dao động 1%, nợ xấu tiếp tục được đẩy nhanh xử lý.

Trung tâm nghiên cứu kiến nghị với NHNN, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng là mục tiêu trung gian của tăng trưởng năm sắp tới, xem xét xác định tỷ lệ tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế căn cứ kết quả thực hiện năm 2013 và nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng đồng thời đảm bảo chất lượng, an toàn tránh hệ quả đặt mục tiêu tăng trưởng cao và tiềm ẩn phát sinh nợ xấu mới, mức tăng trưởng có thể từ 13% - 15%. NHNN tiếp tục duy trì việc giao tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cho các TCTD.

Về chính sách lãi suất, NHNN tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thấp tương đương mức cuối 2013 để đảm bảo đồng thời ổn định vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp. NHNN cần tiếp tục phát huy hoạt động của thị trường mở hỗ trợ thanh khoản của hệ thống TCTD, kết hợp công tác thanh tra giám sát để đảm bảo tính lành mạnh trong hoạt động huy động vốn.

Khi thanh khoản toàn ngành và lạm phát đã đi vào ổn định, chỉ số CPI giảm về mức dưới 7%, cần đưa ra lộ trình cụ thể nhằm tự do hóa lãi suất, đảm bảo lãi suất cho vay và huy động được xác định trên cơ sở cung cầu vốn của thị trường.

Cùng với quá trình tự do hóa lãi suất, các công cụ lãi suất chính sách cũng cần từng bước được đổi mới, dần phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo hình thành được các mức lãi suất chỉ đạo theo tín hiệu thị trường, nâng cao tính hiệu quả của cơ chế chuyển tải chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất. Theo đó, cần thiết lập đường cong lãi suất chuẩn của thị trường đối với tất cả các dải kỳ hạn để các NHTM có cơ sở xác định lãi suất phù hợp.

Xem chi tiết:

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/kien-nghi-som-tha-noi-lai-suat-201312050449486976ca34.chn

- "Giá gạo xuất khẩu tăng nhẹ". Theo Hiệp hội Lương thực VN (VFA), số lượng gạo xuất khẩu trong tháng 11 của VN đạt trên 410.000 tấn, thấp hơn gần 100.000 tấn so với kế hoạch đề ra (500.000 tấn).

Tuy nhiên, giá gạo trong tháng 11 tăng đáng kể (khoảng 25 USD/tấn) lên mức 395-425 USD/tấn (gạo 5% tấm) do VN mới trúng thầu cung cấp 500.000 tấn gạo cho Philippines và 50.000 tấn cho Cuba.

Tính đến hết tháng 11, VN đã xuất khẩu tổng cộng 6,143 triệu tấn gạo với kim ngạch 2,647 tỉ USD, giảm lần lượt 13,37% về lượng và 16,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2012.

Nguyên nhân lượng gạo xuất khẩu giảm là do các thị trường truyền thống ở Đông Nam Á giảm mua từ VN so với các năm trước nên dù lượng xuất khẩu sang Trung Quốc, châu Phi tăng cũng không bù đắp nổi.

Theo VFA, hợp đồng tập trung với Philippines có tác động tích cực giải quyết tồn kho cho các doanh nghiệp và tiêu thụ lúa gạo đầu vụ đông xuân 2013-2014.

Xem chi tiết:

http://tuoitre.vn/kinh-te/583679/gia-gao-xuat-khau-tang-nhe.html

- "Xuất khẩu cá tra phải có nhà máy chế biến". Hiệp hội Chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết vừa có Văn bản số 248/2013 gửi Thủ tướng Chính phủ góp ý Dự thảo Nghị định về nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra.

Theo VASEP, trong 236 đầu mối xuất khẩu cá tra hiện nay có 94 doanh nghiệp (DN) có nhà máy chế biến cá tra, chiếm đến 90% giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành cá tra. Giá trị xuất khẩu cá tra của các DN không có nhà máy chế biến chỉ chiếm khoảng 10%. Tuy nhiên, những DN không có nhà máy chế biến lại có xu hướng cơ hội, lợi dụng những lỗ hổng trong quản lý nhà nước thu gom các nguồn cá kém phẩm chất, kém chất lượng. Sau đó chế biến trong những điều kiện không đảm bảo, chào hàng cạnh tranh bằng giá thấp, gây tác động tiêu cực đến thị trường. Do đó, VASEP kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét quy định điều kiện xuất khẩu cá tra là các DN có nhà máy chế biến đủ điều kiện chế biến thực phẩm, đáp ứng các quy định về truy xuất nguồn gốc.

Xem chi tiết:

http://phapluattp.vn/20131204103030182p0c1014/xuat-khau-ca-tra-phai-co-nha-may-che-bien.htm

- "Lương thấp hơn nhân viên, sếp nhà nước ấm ức".  Quy định khống chế trả lương cho lãnh đạo DNNN của Chính phủ mới đây đang khiến nhiều vị sếp ấm ức. Nhiều khả năng, lương giám đốc thấp hơn cả lương cán bộ cấp dưới.

Mới đây, phát biểu trên diễn đàn tái cơ cấu DNNN do Bộ Công Thương tổ chức, bà Quách Kim Anh, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Thuốc lá than phiền: "Lương của viên chức quản lý nếu bị Nhà nước quy định cứng, sẽ tạo thành hai mức lương trong DN rất bất cập. Chúng tôi đã tính toán, với các lãnh đạo quản lý bình quân trên 60 triệu đồng/tháng hiện nay thì sẽ xảy ra chuyện, lương viên chức quản lý sắp tới còn thấp hơn cả các nhân sự quản lý ở bộ phận khác và các viên chức quản lý bậc trung".

Trong khi đó, viên chức quản lý là người đứng đầu doanh nghiệp, có vai trò quyết định tới hoạt động của DN và có trách nhiệm rất cao với các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, kể cả nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao, bà Anh cho biết.

Không phàn nàn thấp cao, nhưng ông Bùi Ngọc Bảo, chủ tịch HĐTV Tập đoàn xăng dầu Việt Nam cho rằng, quy định về tiền lương mới cho viên chức quản lý DNNN sẽ làm nảy sinh 2 thang bảng lương khác biệt ở các công ty đã cổ phần hóa.

Ông cho biết, mặc dù Nghị định 51 của Chính phủ quy định, với các DN đã cổ phần thì người đại diện vốn Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm áp dụng cơ chế tiền lương phù hợp với thực tiễn nhưng Thông tư 19 hướng dẫn lại yêu cầu áp dụng bảng lương đúng với doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước.

Như vậy, tại DNNN đã cổ phần sẽ có 2 bảng lương, một là bảng lương trả cho người đại diện vốn Nhà nước được coi là viên chức quản lý, một bảng lương là trả cho hệ thống các cán bộ quản lý hoàn toàn theo Luật doanh nghiệp.

Xem chi tiết:

http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/152251/luong-thap-hon-nhan-vien--sep-nha-nuoc-am-uc.html

- "Mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 1,2 triệu tấn sữa". Ngày 4-12, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam tổ chức buổi đối thoại với chủ đề “Hướng tới phát triển chăn nuôi bò sữa bền vững”.Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, hiện Việt Nam có đàn bò sữa 166.000 con, sản lượng sữa khoảng 381.000 lít sữa tươi, chỉ đáp ứng được khoảng 25-35% nhu cầu tiêu dùng trong nước. Vì vậy, trung bình mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 1,2 triệu tấn sữa các loại. Các đại biểu dự buổi đối thoại đều cho rằng, trong những năm tới, dự báo nhu cầu sữa của người dân Việt Nam tiếp tục tăng, do đó để chăn nuôi bò sữa phát triển bền vững, giảm nhập khẩu sữa từ nước ngoài, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ nông dân nuôi bò sữa, mở rộng quy mô chăn nuôi nhỏ, lẻ hiện nay sang chăn nuôi nông hộ với quy mô vừa (từ 40-60 con bò) và trang trại chăn nuôi; đồng thời, cần tăng năng suất, chất lượng sữa, chủ động nguồn giống và thức ăn cho bò sữa.

Xem chi tiết:

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/2/26/26/276313/Default.aspx

- "TP.HCM: hơn 92.000 người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp". Theo Trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM, chín tháng đầu năm 2013 có hơn 92.000 hồ sơ đăng ký bảo hiểm thất nghiệp. So với năm 2012, số người đăng ký có giảm nhưng không đáng kể. Ông Nguyễn Cao Thắng, phó giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM, chia sẻ: “Mặc dù bước vào thời điểm cuối năm, một số doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng với số lượng lớn, song trong năm 2013 này số người đến đăng ký bảo hiểm thất nghiệp vẫn còn nhiều. Trung tâm hiện đã kết nối với những doanh nghiệp cần tuyển lao động thời vụ để giải quyết phần nào nhu cầu việc làm cho người lao động TP từ nay đến Tết Giáp Ngọ 2014”.

Xem chi tiết:

http://tuoitre.vn/nhip-song-tre/583657/tp-hcm-hon-92-000-nguoi-dang-ky-bao-hiem-that-nghiep.html

(T.H - Tổng hợp)