Thu hút nhà đầu tư FDI đầu tư vào sản xuất xi măng bằng cách nào?

Theo đánh giá của Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI), trong vòng 10 năm qua, ngành công nghiệp sản xuất xi măng nước ta càng ngày càng bộc lộ tình trạng thừa cung với hiệu quả đầu tư thấp và kinh doanh thua lỗ.

Ảnh minh họa - nguồn Internet.Ảnh minh họa - nguồn Internet.

Dẫn chứng cho nhận định trên, VAFI cho rằng: Các nhà quản lý tại các doanh nghiệp xi măng, các Tổng công ty nhà nước, các địa phương đã luôn hăng hái với các dự án đầu tư nhà máy xi măng mới mà ít tính chặt chẽ  nhu cầu xi măng trong nước trong từng giai đoạn. Theo dòng thời gian, do ảnh hưởng của lạm phát, của biến động tỷ giá thì suất đầu tư cho một nhà máy xi măng luôn tăng và rất cao so với khả năng tài chính của từng doanh nghiệp, hiệu quả đầu tư thấp và đã xảy ra hệ quả là các doanh nghiệp xi măng luôn luôn gặp phải tình trạng vay nợ nhiều, tổng nợ vay ngân hàng thường cao gấp 4 đến 6 lần vốn tự có của doanh nghiệp.

Đã từ lâu, nhiều ngân hàng nước ngoài đã cảnh giác cho vay đầu tư nhà máy xi măng do mức độ rủi ro lớn, đa phần các ngân hàng nước ngoài không đồng ý cho vay trừ khi chỉ có bảo lãnh của Chính phủ thì họ mới giải ngân. Cách đây 5 năm, các nhà đầu tư tài chính chuyên nghiệp đã nhận thấy mức độ rủi ro của ngành xi măng, rủi ro do cung vượt cầu, do nợ lớn và hiệu quả kinh doanh kém… vì thế họ đã tỉnh táo ngừng đầu tư hay thoái vốn khỏi các doanh nghiệp sản xuất xi măng.

Đến thời điểm hiện tại, công suất  ngành ximăng dư thừa khoảng 20 triệu tấn, đa phần doanh nghiệp trong ngành xi măng lâm vào tình trạng thua lỗ lớn (kể cả khối Tổng công ty Xi măng Việt Nam) lý do thua lỗ là vì: Cung vượt xa cầu, dẫn đến sản lượng tiêu thụ giảm đi và giá bán giảm; Thua lỗ do vay nợ nhiều, trong đó có nợ vay ngoại tệ, như vậy chi phí tài chính tăng lên từ lãi xuất cao cộng với biến động tỷ giá lớn trong các năm gần đây; Thua lỗ do năng lực quản trị kinh doanh kém, nhất là khối doanh nghiệp nhà nước và trong tình hình hiện nay, tỷ trọng vốn nhà nước chiếm đa phần trong ngành công nghiệp xi măng.

Đối phó với tình hình như vậy, các doanh nghiệp sản xuất xi măng buộc phải tái cơ cấu và trong vòng 3 năm qua, đã và đang có khoảng 10 thương vụ mua bán sáp nhập, tính chất của 10 thương vụ có điểm chung như sau: Những doanh nghiệp xi măng quản trị kém, nợ nhiều và lâm vào tình cảnh phá sản thì buộc phải bán cho nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực tài chính mạnh hơn và có năng lực quản trị cao hơn. Có nhà máy sản xuất xi măng thuộc tập đoàn tư nhân lớn, chẳng hạn như Nhà máy xi măng Hòa Phát không lâm vào tình cảnh khó khăn về tài chính song hiệu quả kinh doanh thấp thì công ty mẹ cũng quyết định thoái vốn để tập trung nguồn lực tài chính và chất xám vào những mảng kinh doanh cốt lõi. Trong tình hình hiện nay, có nhiều chủ đầu tư muốn thoát khỏi lĩnh vực xi măng cho "nhẹ nợ” song không phải dễ.

Dưới con mắt của nhà đầu tư tài chính, nhà đầu tư chứng khoán thì lĩnh vực sản xuất xi măng vẫn còn nhiều rủi ro, đầu tư vào những cổ phiếu xi măng bây giờ có vẻ rẻ nhưng biết đến bao giờ doanh nghiệp mới có khả năng trả hết nợ gốc. Biết đến bao giờ doanh nghiệp mới có lãi ở mức có khả năng chi trả cổ tức cho cổ đông.

Còn đối với doanh nghiệp ngoài ngành xi măng thì lĩnh vực này không hấp dẫn mà trái lại đầy rủi ro cho nên sẽ không quan tâm đến. Trong bối cảnh hiện nay, có lẽ không còn nhà đầu tư chiến lược trong nước có tiềm lực tài chính mạnh để mua lại các nhà máy xi măng ốm yếu: Nhà sản xuất xi măng Vissai là doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả trong ngành, đã chủ động tìm được thị trường xuất khẩu lớn cho khối nhà máy của mình, đã tích cực mua một số nhà máy ximăng song tiềm lực tài chính cũng có hạn. Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam (VICEM) cũng đang ở tình trạng ốm yếu do nhiều đơn vị thành viên đầu tư thêm nhiều dây chuyền sản xuất xi măng lớn trong những năm qua, tổng nợ đối với VICEM gấp khoảng 4 lần tổng vốn chủ sở hữu, VICEM cũng không thể nhiệt thành đi ôm các doanh nghiệp yếu kém trừ nhiệm vụ chính trị.

Trong vài thương vụ mua bán sáp nhập gần đây, đã xuất hiện các nhà đầu tư FDI đến từ các nước ASEAN. Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á giai đoạn 1997 – 2001 đã làm cho các nhà đầu tư ASEAN có bài học hết sức sâu sắc, đó là phải đầu tư thận trọng theo phương châm cầu tới đâu thì đầu tư đến đó và với thị trường ASEAN trong giai đoạn này thì nguồn cung trong nước thiếu. Với chính sách đẩy mạnh tiêu dùng trong nước của các nước như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippinnes thì thị trường chứng khoán tại những nước này tăng trưởng liên tục trong các năm qua, đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong các nước đó dễ dàng thu hút được vốn cổ phần với giá rẻ, đó là những lý do giải thích vì sao các nhà đầu tư FDI của ASEAN quan tâm tới ngành xi măng Việt Nam. Các nhà đầu tư FDI mua cổ phần đa số của công ty xi măng trong nước qua hình thức tăng vốn điều lệ hoặc vừa bán bớt một tỷ lệ cổ phần của chủ sở hữu vừa tăng vốn điều lệ.

Theo VAFI, thu hút vốn FDI đầu tư vào ngành xi măng mang lại nhiều lợi ích thiết thực như: Thu hút được hàng trăm triệu USD vốn cổ phần vào một công ty xi măng, chẳng hạn như dự án xi măng Thăng Long thu hút khoảng gần 5.000 tỷ đồng, dự án xi măng Cẩm Phả dự kiến thu hút trên 3.000 tỷ đồng; với nguồn vốn như vậy đã cơ cấu được tình trạng tài chính và giúp chủ đầu tư thoát khỏi gánh nặng nợ khổng lồ, điều đó cũng đồng nghĩa xử lý khoảng 1 tỷ USD nợ xấu không chỉ trong lĩnh vực sản xuất xi măng mà các mảng kinh doanh khác của 2 chủ đầu tư trong nước. Trình độ quản trị doanh nghiệp được tăng cường. Thu hút được nhà đầu tư FDI đồng nghĩa với việc mở thêm được thị trường cho xuất khẩu xi măng, giảm bớt tình trạng cạnh tranh gay gắt đối với thị trường trong nước.

Bên cạnh đó, do nhà đầu tư FDI có hệ thống phân phối trong nước họ nên: Giá bán xi măng xuất khẩu từ nhà đầu tư FDI sẽ cao hơn và dễ dàng tiêu thụ hơn so với doanh nghiệp trong nước thực hiện xuất khẩu; Xuất khẩu qua kênh FDI vào nước của doanh nghiệp FDI ít bị kiện chống phá giá hơn so với doanh nghiệp trong nước.

Nếu ngành xi măng tích cực xúc tiến thu hút nhà đầu tư FDI đầu tư thêm khoảng 7 doanh nghiệp nữa (tương tự như xi măng Thăng Long), thì xuất khẩu xi măng có thể tăng thêm 10 triệu tấn/năm trong những năm tới, giải quyết được cơ bản bài toán tìm đầu ra cho ngành xi măng. Nợ xấu, nợ xấu tiềm ẩn trong ngành sản xuất xi măng cơ bản được giải quyết, vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng và của nhà nước sẽ được bảo toàn.

Tuy nhiên để đẩy nhanh việc thu hút nhà đầu tư FDI thực hiện mua bán, sáp nhập, VAFI cho rằng: Với VICEM cũng cần nỗ lực tái cơ cấu tình hình tài chính tại các đơn vị thành viên bằng cách: Đẩy mạnh cổ phần hóa các đơn vị thành viên và với chính VICEM. Với các đơn vị gặp khó khăn về tài chính thì không nên duy trì quan điểm VICEM phải nắm cổ phần chi phối mà mục tiêu ưu tiên là phải cứu doanh nghiệp, đồng thời sẽ cứu ngành xi măng thông qua mua bán, sáp nhập với FDI.

Đối với các doanh nghiệp niêm yết thuộc lĩnh vực kinh doanh không nhạy cảm thì Nhà nước cần có chính sách không hạn chế tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (như khối doanh nghiệp chưa niêm yết) nhằm dễ dàng thu hút được nhà đầu tư FDI.

Đối với các doanh nghiệp xi măng đang niêm yết, muốn nhanh chóng được tái cấu trúc tài chính, mở rộng thị trường xuất khẩu, nên xúc tiến thu hút nhà đầu tư FDI đầu tư vào doanh nghiệp mình, có thể là bán cổ phần đa số hoặc chi phối. Trong trường hợp vướng room thì nên tự nguyện hủy niêm yết để thực hiện, điều đó chỉ có lợi cho cổ đông và cho nền kinh tế.

(Cát Tường)