“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“

Trong bối cảnh lạm phát, giá cả một số mặt hàng liên tục lập các mốc mới… Chính phủ đã ra Nghị quyết 11/NQ-CP nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội. Theo đó, cắt giảm chi tiêu công, hạn chế đầu tư các dự án không thực sự cần thiết…
 
“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“

1. Nội dung Hội nghị đối tác năm 2011

2. Một số lưu ý trong chuẩn bị HSDT

3. Phụ lục quy trình thực hiện NĐ 102 

Tuy nhiên, việc thực hiện cắt giảm chi tiêu thì cũng không thể ngừng đầu tư vào CNTT-TT, bởi một trong những mục tiêu chủ đạo của “Đề án sớm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về CNTT” vào năm 2020 mà Chính phủ đã đề ra, là đưa ngành CNTT-TT trở thành mũi nhọn, tăng trưởng hàng năm cao gấp 2 - 3 lần tăng trưởng GDP, đồng thời phát triển nguồn nhân lực đạt chuẩn quốc tế và thiết lập hạ tầng viễn thông băng rộng trên phạm vi cả nước. Theo đó, Chính phủ dự kiến sẽ đầu tư hơn 2.347 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước để hiện thực hóa các mục tiêu đặt ra trong Đề án.

Cùng với đó, các doanh nghiệp CNTT Việt Nam được ưu tiên tiếp cận các nguồn tài chính, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước và nguồn trái phiếu Chính phủ huy động trên thị trường tài chính quốc tế.

Có thể thấy Nhà nước tiếp tục có sự đột phá trong tư duy đầu tư cho CNTT khi quyết định đầu tư cho lĩnh vực CNTT-TT. Tuy nhiên, vấn đề này đòi hỏi Chính phủ Việt Nam nâng cao năng lực huy động và sử dụng nguồn vốn sao cho hiệu quả.

Đối với ngành Tài chính, mục tiêu xây dựng một nền Tài chính điện tử hiện đại luôn là chiến lược trọng tâm của ngành Tài chính, và trên con đường hiện thực hóa mục tiêu đó, ngành Tài chính luôn cần sự giúp đỡ, hỗ trợ, hợp tác của các doanh nghiệp CNTT trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, do đặc thù và tính chất chuyên biệt của lĩnh vực Tài chính, nhiều doanh nghiệp CNTT-TT còn chưa có điều kiện tiếp cận để trở thành đối tác với Bộ Tài chính.

Chính vì vậy, Giao lưu trực tuyến với chủ đề "Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính" nhằm tạo diễn đàn cung cấp và trao đổi thông tin giữa các đơn vị Hệ thống tin học ngành Tài chính (Tài chính, Thuế, Kho bạc, Hải quan, Chứng khoán, Dự trữ) với các doanh nghiệp CNTT-TT đang và có mong muốn trở thành đối tác của ngành Tài chính, về những nội dung liên quan tới:

- Đánh giá sự phối hợp của các doanh nghiệp đối tác trong năm qua;

- Một số vấn đề lưu ý trong đấu thầu, mua sắm CNTT ngành Tài chính;

- Kế hoạch triển khai công tác tin học ngành Tài chính năm 2011 và đến 2015 và các biện pháp phối hợp;

- Những vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp cần được tháo gỡ… 

Giao lưu trực tuyến với chủ đề "Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính", được tổ chức bên lề Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 10 của Bộ Tài chính, diễn ra vào hai ngày 06 - 07/5 tại Quảng Ninh với sự góp mặt của hơn 100 đại diện doanh nghiệp CNTT-TT trong và ngoài nước. 

Trực tiếp tham gia trả lời, giao lưu với bạn đọc là các Lãnh đạo CNTT hệ thống tin học ngành Tài chính (Tài chính, Thuế, Kho bạc, Hải quan, Chứng khoán, Dự trữ).

Độc giả quan tâm có thể gửi câu hỏi tới buổi Giao lưu trực tuyến tại đây.

(BBT eFinance)

“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“ ảnh 1
Các Lãnh đạo CNTT hệ thống tin học ngành Tài chínhtham gia trả lời, giao lưu với bạn đọc.Ảnh: Nhật Trung.

Bạn đọc hỏi

Được biết ngành Tài chính là ngành tiên phong và đầu tư lớn cho CNTT từ nhiều năm nay, chúng tôi rất quan tâm đến những dự án mà ngành Tài chính coi là trọng điểm trong năm nay?

Bộ Tài chính có cơ chế gì để doanh nghiệp bên ngoài có thể tham gia vào các dự án của ngành Tài chính?

Hiện nay ngành Tài chính đang tập trung triển khai ứng dụng CNTT theo 4 dự án trọng điểm sau:

1. Hạ tầng truyền thông:

Năm 2010 là năm kết thúc dự án hạ tầng truyền thông giai đoạn 2006 - 2010. Bộ Tài chính đã triển khai và nâng cấp kênh truyền kết nối toàn bộ các đơn vị cấp quận huyện/chi cục của Thuế, Hải Quan, KBNN và các Phòng THTC, đến nay tổng cộng có khoảng 3.000 điểm (site) được kết nối vào HTTT.

Dự án sẽ triển khai giai đoạn 2012 - 2015 nhằm tiếp tục duy trì và mở rộng đường truyền đáp ứng yêu cầu triển khai của ứng dụng Quản lý thuế thu nhập cá nhân, ứng dụng quản lý hóa đơn, triển khai Hải quan điện tử và các ứng dụng khác của ngành Tài chính triển khai theo mô hình tập trung với máy chủ đặt tại trung tâm dữ liệu và người dùng từ các đơn vị truy cập đến để làm việc, mô hình này đòi hỏi cao về băng thông đường truyền, chất lượng và độ sẵn sàng của HTTT; kết nối các bộ, ngành triển khai ứng dụng TABMIS; bổ sung thiết bị dự phòng cho các đơn vị đã triển khai; bảo dưỡng thiết bị…

Kế hoạch triển khai năm 2011:

- Nâng cấp băng thông kênh truyền: Hải quan, Kho bạc, Dự trữ.

- Bổ sung đường truyền mới: Bộ Tài chính, Thuế, Hải quan

- Tư vấn lập dự án HTTT giai đoạn 2012 - 2015.

2. Dự án An toàn Bảo mật

Đây là dự án quan trọng nhằm đảm bảo tính an toàn bảo mật cho hệ thống thông tin của Bộ Tài chính và các Tổng cục. Vì vậy Bộ Tài chính đã thành lập Ban quản lý riêng để tổ chức triển khai dự án này.

Hiện nay Bộ Tài chính đã phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ thiết lập phân nhánh chứng thực chữ ký số trong hệ thống chung dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng, theo đó đã cấp chứng thư số triển khai ứng dụng Tổng hợp báo cáo thanh tra, ứng dụng Đăng ký tài sản công, các ứng dụng của Tổng cục Hải quan, các ứng dụng của KBNN. Ngoài ra các Tổng cục đã triển khai giải pháp dò quét lỗ hổng bảo mật cho các Website, ứng dụng, dịch vụ công bố trên Internet và triển khai các thiết bị bảo mật cho hệ thống thông tin tại từng Tổng cục.

Kế hoạch triển khai ATBM năm 2011:

- Xây dựng dự án ATBM chung toàn ngành

- Thay thế Firewall cho Bộ Tài chính

- Bổ sung hệ thống bảo mật theo dự án được duyệt của các Tổng cục và theo thực tế nhu cầu triển khai.

3Dự án CSDL toàn ngành

Năm 2010 là năm kết thúc dự án CSDL giai đoạn 2006-2010. Bộ Tài chính đã xây dựng các ứng dụng: CSDL mục dùng chung, CSDL văn bản pháp quy, CSDL thu chi ngân sách, CSDL Giá, cấp mã số đơn vị có quan hệ với NSNN.          

Kế hoạch triển khai năm 2011:

- Xây dựng dự án CSDL giai đoạn 2012 - 2015. 

- Chuẩn hoá các cơ sở dữ liệu CSDL giá, CSDL văn bản pháp quy và CSDL thu chi ngân sách đảm bảo dữ liệu đầy đủ, chính xác, nhất quán.

4. Dự án xây dựng Trung tâm dự phòng thảm họa 

Dự án này nằm trong dự án xây dựng Trung tâm dịch vụ tài chính đặt tại khu công nghệ cao Hòa Lạc. Bộ Tài chính đã phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Trung tâm dự phòng thảm họa ngành Tài chính. Việc xây dựng Trung tâm dự phòng thảm họa là cần thiết để đảm bảo an toàn cho các CSDL và sự hoạt động liên tục của ứng dụng đặt tại Trung tâm chính của các đơn vị nếu có sự cố, đây cũng là nơi đặt điểm nút thứ 3 dự phòng cho mạng HTTT của ngành, ngoài ra việc khẩn trương xây dựng Trung tâm dự phòng thảm họa giúp các đơn vị không phải đi thuê đặt thiết bị tại các Trung tâm bên ngoài gây lãng phí cho NSNN.

 Kế hoạch triển khai năm 2011:

- Xây dựng dự án Trung tâm dự phòng thảm họa (cấu phần CNTT).

- Triển khai các phần việc liên quan đến công tác chuẩn bị đầu tư dự án.

Về câu hỏi có cơ chế gì để doanh nghiệp bên ngoài có thể tham gia vào các dự án của ngành Tài chính, xin trả lời: thực ra Bộ Tài chính luôn có cơ chế mở, cầu thị, mong muốn sự hợp tác của tất cả các công ty có năng lực, đáp ứng được yêu cầu của ngành Tài chính. Tuy nhiên, mỗi công ty cũng cần xác định rõ năng lực (nhân lực, vật lực...) của mình trước khi quyết định tham gia vào các dự án của ngành Tài chính. 

“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“ ảnh 2

Ông Đặng Đức Mai - Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Chí Thanh.

Công ty của tôi đã nhiều năm là đối tác của Bộ Tài chính và chúng tôi cũng đã được tham gia nhiều dự án CNTT quan trọng của ngành Tài chính. Tuy nhiên, từ khâu phê duyệt đến thực hiện các dự án của ngành Tài chính thường kéo dài, gây tổn thất lớn cho doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh có biến động mạnh về tỷ giá, lãi xuất... như hiện nay. Mong muốn của chúng tôi là Bộ Tài chính có cách nào để cải thiện tình trạng này?

Nhìn chung các dự án CNTT của ngành Tài chính đều là các dự án lớn, phức tạp với phạm vi ảnh hưởng trên toàn quốc. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến thời gian từ khâu phê duyệt thầu, đến thời gian thực hiện dự án thường bị kéo dài.

Nhưng mặt khác, cũng còn những nguyên nhân xuất phát từ phía chính các doanh nghiệp, ví dụ như:

 - Về tư vấn lập dự án, xây dựng giải pháp, công ty khi triển khai dịch vụ đã bố trí nguồn lực không ổn định (thay đổi về chuyên gia tư vấn trong quá trình triển khai).

- Về triển khai các hợp đồng mua sắm, một số công ty đã yêu cầu thay đổi về sản phẩm và xuất xứ sản phẩm làm ảnh hưởng đến tiến độ của dự án; Một số doanh nghiệp triển khai chậm các hạng mục có yêu cầu kỹ thuật phức tạp (như Firewall, điều hoà...); tiến độ cung cấp các thiết bị chưa đúng kế hoạch dự kiến; Cán bộ kỹ thuật triển khai có trình độ chuyên môn không cao dẫn tới hiệu quả công việc thấp, tiến độ triển khai chậm v.v...

- Hay về dịch vụ bảo hành, một số hãng thực hiện dịch vụ hỗ trợ còn chậm (có trường hợp thiết bị phải bảo hành lại tới 3 lần), trình độ cán bộ kỹ thuật hạn chế dẫn đến xác định nguyên nhân hư hỏng không chính xác... vừa ảnh hưởng đến công việc của các đơn vị tài chính ở một số địa phương, vừa làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án...

Ngày 6/11/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định 102/2009/NĐ-CP về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và đến thời điểm hiện nay các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT đã được các cơ quan nhà nước ban hành. Vì vậy các doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ các văn bản kể trên để tránh ách tắc trong quá trình thực hiện.

Tuy nhiên, để đảm bảo việc triển khai ứng dụng CNTT tại các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tài chính kịp thời, hiệu quả và tuân thủ đúng theo quy định của Nhà nước, Bộ Tài chính sẽ có hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện theo tinh thần Nghị định này.

Xin hỏi mỗi khi Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn thực hiện các Nghị định mới, chính sách mới thì có tổ chức tập huấn cho doanh nghiệp không? Nếu có thì xin cho biết theo phương thức nào để chúng tôi biết để được tham gia?

Để đáp ứng nguyện vọng của đa số doanh nghiệp đối tác, mặc dù chưa có tiền lệ, nhưng chúng tôi sẽ tính đến việc có hình thức tổ thức thích hợp nào đó để tập huấn cho các doanh nghiệp về những chủ trương, chính sách mới của Bộ Tài chính trong lĩnh vực CNTT nói chung, và về những nguyên tắc thực hiện Nghị định 102/2009/NĐ-CP nói riêng.

Không thể phủ nhận rằng các doanh nghiệp đối tác của ngành Tài chính đã cơ bản thực hiện tốt việc xây dựng và triển khai ứng dụng góp phần không nhỏ trong sự thành công về ứng dụng CNTT toàn ngành Tài chính. 

“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“ ảnh 3

Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: Chí Thanh.

Được biết ngành Tài chính có một số lượng ứng dụng các phần mềm CNTT rất lớn, lại cần triển khai diện rộng cho các cán bộ tài chính trên khắp cả nước. Chúng tôi là một đơn vị có dịch vụ đào tạo tin học, nên rất muốn có được lời khuyên để có thể trở thành đối tác tốt của Bộ Tài chính về lĩnh vực tin học ?

Để trở thành đối tác phối hợp triển khai công tác đào tạo cán bộ CNTT cho ngành Tài chính, các doanh nghiệp cần lưu ý trước hết đến yếu tố chất lượng, trong đó bao gồm cả: nội dung các khoá đào tạo tuân thủ đúng theo chuẩn yêu cầu; giảng viên phải có chuyên môn nghiệp vụ và sư phạm; công tác hậu cần (địa điểm, trang thiết bị phòng học...), chủ động liên hệ với các đơn vị đến làm việc để đảm bảo đúng thời gian, lịch trình đào tạo, đảm bảo nội dung yêu cầu đào tạo của Bộ Tài chính.

Xin cho biết cụ thể về kế hoạch triển khai những dự án CNTT liên quan tới ngành Hải quan?

Năm nay ngành Hải quan tập trung vào 10 dự án chính gồm:

1) Xây dựng CSDL hàng hóa xuất nhập khẩu, trong đó bao gồm phần việc: Tiếp tục xây dựng các chức năng trên Cổng thông tin; Chuyển đổi dữ liệu lịch sử đến 2007 vào thế hệ mới; Xây dựng và áp dụng công nghệ phân tích (DataWarehouse); Mua sắm phần mềm bản quyền cho DataWarehouse; Triển khai và mua sắm.

2) Nâng cấp các ứng dụng nghiệp vụ trong ngành Hải quan để áp dụng chữ ký số, trong đó bao gồm phần việc:

- Áp dụng chữ ký số vào công việc cơ quan Hải quan tiếp nhận khai báo thông tin khai Hải quan từ phía doanh nghiệp.

- Áp dụng chữ ký số vào việc phản hồi thông tin từ cơ quan Hải quan cho doanh nghệp.

- Nâng cấp bổ sung chức năng áp dụng chữ ký số vào một số ứng dụng CNTT hiện tại để phục vụ thủ tục Hải quan điện tử.

- Triển khai và đào tạo

3) Xây dựng Hệ thống thông tin phục vụ thông quan điện tử cho các doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt, trong đó bao gồm phần việc:

- Xây dựng module tiếp nhận dữ liệu khai Hải quan và phản hồi thông tin cho doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế (Rosettanet, AS2,…).

- Xây dựng module quản lý nghiệp vụ Hải quan đối với doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt.

- Triển khai và đào tạo.

4) Xây dựng, triển khai hệ thống Thông quan điện tử theo mô hình xử lý tập trung tại cấp Cục, trong đó bao gồm phần việc:

- Xây dựng module tiếp nhận dữ liệu khai Hải quan và phản hồi thông tin cho doanh nghiệp tập trung tại cấp Cục.

- Tích hợp với các hệ thống lõi xử lý nghiệp vụ của ngành Hải quan (Giá, Kiểm tra sau thông quan, quản lý Thuế).

- Triển khai và đào tạo.

5) Xây dựng Hệ thống thông tin quản lý CSDL Danh mục, biểu thuế và phân lại mức thuế, trong đó bao gồm phần việc:

- Xây dựng CSDL danh mục, biêu thuế và phân tích mức thuế tập trung tại cấp Tổng cục, Cục.

- Xây dựng hệ thống thông tin để quản lý, cập nhật, khai thác thông tin cho các đơn vị trong toàn ngành.

- Chia sẻ thông tin với các hệ thống lõi xủa lý nghiệp vụ của ngành Hải quan (Quản lý tờ khai, Giá, Kiểm tra sau thông quan, quản lý thuế, thông quan điện tử).

- Triển khai và đào tạo.

6) Xây dựng hệ thống thông tin tiếp nhận bản khai hàng hoá, các chứng từ có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh, trong đó bao gồm phần việc:

- Mua sắm phần mềm công cụ có bản quyền.

- Xây dựng CSDL về bản lược khai hàng hoá, các chứng từ khác có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh tập trung tại cấp Tổng cục, Cục.

- Xây dựng hệ thống thông tin để trao đổi thông tin với các cơ quan cảng vụ, quản lý, cập nhật, khai thác thông tin về bản lược khai hàng hoá, các chứng từ khác có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh cho các đơn vị trong ngành.

- Chia sẻ thông tin với hệ thống xử lý nghiệp vụ của ngành Hải quan (Quản lý tờ khai, Giá, kiểm tra sau thông quan, quản lý thuế, thông quan điện tử).

- Triển khai và đào tạo.

7) Triển khai mở rộng cổng thanh toán điện tử thu thuế XNK qua các ngân hàng thương mại, trong đó bao gồm phần việc:

- Rà soát, hoàn thiện hệ thống chương trình đã triển khai trong giai đoạn I.

- Đào tạo, hướng dẫn sử dụng cho 25 Cục Hải quan tỉnh, thành phố.

- Rà soát, chuẩn bị số liệu kế toán, chuyển đổi dữ liệu cung cấp cho hệ thống cổng thanh toán điện tử thu thuế XNK qua các ngân hàng thương mại.

- Triển khai hệ thống cho 25 Cục Hải quan tỉnh, thành phố.

- Mở rộng kết nối với một số ngân hàng thương mại có nhu cầu.

8) Xây dựng hệ thống thông tin quản lý vi phạm Hải quan, trong đó bao gồm phần việc:

- Xây dựng CSDL thông tin vi phạm pháp luật về Hải quan tập trung tại cấp Tổng cục, Cục.

- Xây dựng hệ thống thông tin để quản lý, cập nhật, khai thác thông tin vi pham pháp luật về Hải quan cho các đơn vị trong toàn ngành.

- Chia sẻ thông tin với hệ thống xử lý nghiệp vụ của ngành Hải quan (Quản lý tờ khai, Giá, kiểm tra sau thông quan, quản lý thuế, thông quan điện tử).

- Triển khai và đào tạo.

9) Dự án nâng cấp cổng thông tin ngành Hải quan tăng cường cung cấp dịch vụ công, trong đó bao gồm phần việc:

- Mua sắm phần mềm công cụ có bản quyền.

- Rà soát, nâng cấp hoàn thiện cổng thông tin ngành Hải quan tăng cường cung cấp dịch vụ công.

- Thuê chuyển các văn bản sang dạng điện tử.

- Đào tạo, hướng dẫn sử dụng cho công chức Hải quan.

- Triển khai hệ thống tại Tổng cục Hải quan.

10) Mua sắm trang thiết bị và dịch vụ triển khai, trong đó bao gồm phần việc:

- Thiết bị ATBM.

- Thiết bị lưu trữ.

- Máy chủ và lưu điện máy chủ.

- Máy in, máy tính xách tay, máy tính cá nhân và thiết bị lưu trữ.

- Dịch vụ thuê TTDL để backup dự phòng hệ thống CNTT của ngành. 

“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“ ảnh 4

Ban Biên tập Website eFinance đang thực hiện giao lưu trực tuyến.Ảnh: Nhật Trung.

Chúng tôi là doanh nghiệp đã có kinh nghiệm triển khai ứng dụng về quản lý số liệu kho tàng, liệu ngành Tài chính có dự án nào liên quan để chúng tôi có thể tham gia?

Hiện nay Tổng cục Dự trữ nhà nước, Bộ Tài chính đang là “mảnh đất màu mỡ” để các công ty CNTT tham gia vì đây là hệ thống “đi sau” nhất về CNTT ở Bộ Tài chính. Chúng tôi đang rất cần các phần mềm quản lý hàng hóa, theo dõi thường xuyên về thời gian ra vào của sản phẩm... Cụ thể trong năm 2011, chúng tôi tập trung vào các dự án sau:

1) Phần mềm có bản quyền:

- Windows Server 2008.

- Phần mềm và dịch vụ triển khai hệ thống thư điện tử AD & Exchange 2010 hoặc tương đương.

- License cho phần mềm diệt Virus 1 năm.

2) Nâng cấp cổng thông tin điện tử:

Hệ thống nâng cấp thêm các tính năng an toàn bảo mật, chống được các tác động từ bên ngoài làm thay đổi nội dung cũng như gây lỗi hệ thống.

3) Nâng cấp, triển khai phần mềm QL VTHH và Kho tàng:

Phần mềm quản lý vật tư hàng hoá được xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2008. Xuất phát từ nhu cầu của người sử dụng và yêu cầu quản trị hệ thống cần bổ sung một số tính năng cho ứng dụng như: Tính năng hỗ trợ, nhập dữ liệu từ file Excel; bổ sung tính năng quản lý các loại biên bản, phiếu, thông tin kho sử dụng mã vạch và đầu đọc mã vạch; Tích hợp sử dụng Active Directory trong việc quản lý người dùng; hoàn chỉnh cơ chế phân quyền chi tiết theo từng cấp đơn vị và phân quyền đến từng chức năng Thêm/Sửa/Xóa.

4) Tư vấn và triển khai thí điểm hệ thống thông tin báo cáo DTNN:

5) Mua sắm trang thiết bị mạng, thiết bị bảo mật; Thiết bị lưu điện và triển khai dịch vụ lắp đặt hệ thống cấp điện cho phòng máy chủ; Các trang thiết bị đáp ứng yêu cầu triển khai các ứng dụng... 

“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“ ảnh 5
Ông Dương Thành Trung - Phó Tông cục trưởngTổng cục Dự trữ nhà nước.Ảnh: Chí Thanh.

Được biết Cục Tin học & Thống kê tài chính là cơ quan quản lý nhà nước về CNTT của ngành Tài chính, vậy các dự án CNTT của Cục có ưu tiên cho các dự án tư vấn, thống kê?

Đúng vậy, là cơ quan quản lý nhà nước về CNTT của ngành Tài chính, trong số 10 nội dung các dự án CNTT trọng điểm của Cục Tin học và Thống kê tài chính trong năm nay, Cục Tin học và Thống kê tài chính có kế hoạch triển khai dự án tư vấn tổng thể, bao gồm: Tư vấn tổng thể phát triển ứng dụng CNTT ngành Tài chính đến 2015; Tư vấn xây dựng, phát triển mạng HTTT; Tư vấn xây dựng CSDL dùng chung; Tư vấn phát triển ứng dụng đến 2015.

Về công tác thống kê, chúng tôi triển khai các nội dung theo Kế hoạch phát triển hệ thống thông tin và dữ liệu thống kê tài chính đến năm 2015.

Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói, Cục không chỉ ưu tiên cho dự án tư vấn và thống kê, mà chúng tôi còn 8 nội dung trọng điểm khác nữa cần triển khai trong năm nay, như nội dung: Chuẩn hoá số liệu và số hoá tài liệu, triển khai các dịch vụ dữ liệuQuản lý cán bộ ngành Tài chính; Xây dựng, nâng cấp, triển khai các ứng dụng * Cổng thông tin điện tử, * Quản lý ngân sách, * Phát triển và nâng cấp phần mềm quản lý văn bản điều hành* Phát triển phần mềm kế toán xã phiên bản 6.0, * Nâng cấp phần mềm tổng hợp dự toán, quyết toán ngân sách: Đáp ứng quy định tại Thông tư số 185/2010/TT-BTC ngày 15/1/2010 của Bộ Tài chính và quản lý số liệu phân bổ dự toán theo COA TABMIS, * Phần mềm bản quyền và phần mềm công cụ... 

“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“ ảnh 6
Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: Chí Thanh.

(Trendmicro): chúng ta hãy xem con số cảnh báo: 26.000 mã độc ra đời trong 1 giờ và chúng không chỉ phá hoại thông tin dữ liệu, mà ăn cắp dữ liệu chuyển đến chỗ khác. Là một công ty cung cấp sản phẩm an toàn bảo mật (ATBM), nhưng chúng tôi muốn đặc biệt lưu ý, liệu ngành tài chính đã quan tâm đúng mức đến việc đào tạo cho cán bộ nhận thức đúng về ATBM? Vấn đề không phải là thay thế sử dụng những phần mềm bảo mật mới, mà là cần đánh giá phần mềm đang sử dụng có lỗ hổng hệ thống hay do cá nhân sử dụng? Thông điệp của chúng tôi là sẽ sẵn sàng giúp sức cho ngành Tài chính tăng cường mặt bằng nhận thức về ATBM.

Đúng, đây là vấn đề mà ngành Tài chính đang rất quan tâm, bởi ngành tài chính có số lượng cán bộ lớn nhất so với khác bộ ngành, hệ thống trải rộng khắp đất nước và trình độ CNTT của cán bộ cũng ở những mức độ rất khác nhau.

Hiện nay Bộ Tài chính, Kho bạc NN cũng đang có đề án ATBM, nhưng chúng tôi cũng ý thức được rằng ngoài công nghệ hiện đại thì yếu tố con người là hết sức quan trọng, nhất là trong lĩnh vực an toàn bảo mật.

Chúng tôi cảm ơn các đối tác đã không chỉ cung cấp cho chúng tôi sản phẩm và dịch vụ mà còn dựa trên những kinh nghiệm chuyên sâu của mình để tư vấn, giúp đỡ thêm cho ngành Tài chính triển khai hiệu quả các kế hoạch ứng dụng CNTT. 

“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“ ảnh 7
Đại diện Trendmicrotham gia đặt câu hỏi tại Hội nghị.Ảnh: Nhật Trung.

(Viện CNTT) chúng tôi là đơn vị sự nghiệp có thu thuộc nhà nước: hơn 20 năm triển khai CNTT cùng với ngành Tài chính, chúng tôi nhận thấy viết phần mềm cho Bộ Tài chính rất khó vì chính sách mới ban hành đưa ra trong thời gian ngắn, đơn cử như thuế GTGT năm 1999 từ khi quyết định ban hành tới khi triển khai chỉ trong vòng 8 tháng, với thời gian ngắn như vậy yêu cầu phải có ngay chương trình phần mềm hỗ trợ cho Luật này, trong khi đó dưới luật lại có nghị định, thông tư, do đó chúng tôi gặp nhiều khó trong việc viết phần mềm.

Trường hợp Nghị định số 102/2009/NĐ-CP, phạm vi bài toán quy định chặt chẽ càng làm khó cho đối tác. Năm 2010, là đơn vị sự nghiệp có thu trong cơ quan nhà nước (Viện CNTT) nên chúng tôi không có báo cáo kiểm toán riêng cho hoạt động kinh doanh CNTT (vì kiểm toán chung cho cả Viện CNTT), do đó chúng tôi phải trở thành nhà thầu phụ cho FPT. Nhưng trong quá trình triển khai gói thầu, bên Cục Tin học và Thống kê tài chính chấp nhận chúng tôi là nhà thầu độc lập, nhưng Tổng cục Thuế lại không công nhận là nhà thầu độc lập. Rất mong có sự thống nhất trong cách đánh giá vị trí của nhà thầu trong ngành Tài chính và đề nghị ngành Tài chính nên tạo cơ chế linh hoạt, tạo thuận lợi cho cả hai bên thực hiện hiệu quả các dự án.

Bản thân Bộ Tài chính cũng đang gặp những vướng mắc trong việc hướng dẫn thực hiện theo Nghị định 102/2009/NĐ-CP, chúng tôi cũng đang tiến phản ánh những vướng mắc này lên lãnh đạo Bộ Tài chính, Bộ TT&TT để sớm tháo gỡ.

Còn hiện nay, đối với các nội dung ứng dụng CNTT được phê duyệt thực hiện năm 2011, Cục TH&TKTC và các Tổng cục thực hiện theo đúng quy định của nhà nước về quản lý đầu tư tại Nghị định số 102/2009/NĐ-CP. 

Quá trình đầu tư dự án ứng dụng CNTT được thực hiện theo 03 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư. Theo đó từ lúc chuẩn bị đầu tư đến khi đấu thầu sẽ mất nhiều thời gian, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân kinh phí của năm 2011. 

“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“ ảnh 8
Đại diệnViện CNTTtham gia đặt câu hỏi tại Hội nghị.Ảnh: Nhật Trung.

Được biết ngành Thuế đang triển khai diện rộng những ứng dụng CNTT và đã có cơ chếhành nghề đại lý, tư vấn thuế cho các cá nhân. Vậy cho được biết thêm về các đại lý này?  

Trong nội dung triển khai dự án CNTT của ngành Thuế năm nay có nội dung Xây dựng và triển khai ứng dụng Quản lý đại lý thuế: Tổng cục Thuế sẽ tổ chức thi và cấp chứng chỉ hành nghề đại lý, tư vấn thuế cho các cá nhân có đủ điều kiện thi lấy chứng chỉ trong phạm vi cả nước.

Tuy nhiên, các cơ quan thuế địa phương mới là cơ quan quản lý thuế các tổ chức hành nghề đại lý thuế cùng các cá nhân có chứng chỉ hành nghề, theo dõi sự biến động, thu hồi và cấp lại chứng chỉ theo quy định tại Thông tư về đại lý thuế.

Hiện tại việc theo dõi thi, cấp, thu hồi và quản lý chứng chỉ hành nghề của cá nhân đang được Tổng cục Thuế và cơ quan Thuế các cấp theo dõi thủ công.

Trong năm nay, Tổng cục Thuế sẽ thực hiện những nội dung cụ thể sau:

- Xây dựng ứng dụng quản lý đại lý thuế và các cá nhân có chứng chỉ hành nghề đại lý, tư vấn thuế theo thông tư và quy trình quản lý của Tổng cục Thuế.

- Cài đặt ứng dụng và CSDL tập trung tại Tổng cục Thuế.

- Triển khai, hỗ trợ Tổng cục Thuế và các cơ quan Thuế sử dụng ứng dụng. 

“Doanh nghiệp góp sức ứng dụng CNTT hiệu quả trong ngành Tài chính“ ảnh 9
Bà Trương Thị Hải Đường - Cục trưởng Cục CNTT Tổng cục Thuế trả lời câu hỏi của bạn đọc.Ảnh: Chí Thanh.

Do thời gian có hạn, chúng tôi xin phép được tạm dừng cuộc giao lưu tại đây. Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo CNTT hệ thống tin học ngành Tài chính đã dành thời gian tham gia buổi giao lưu và có những câu trả lời cụ thể, chi tiết, xác đáng dành cho độc giả, doanh nghiệp. Đồng thời, cũng xin trân trọng cảm ơn quý vị độc giả và quý doanh nghiệp đã quan tâm tham gia diễn đàn giao lưu trực tuyến.

Quý vị nào còn có câu hỏi liên quan tới chủ đề này có thể chuyển tới Tòa soạn eFinance - Tạp chí Tài chính Điện tử, địa chỉ: phòng 2.19 Tòa nhà Bộ Tài chính 28 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. hoặc gửi theo địa chỉ email: efinance@mof.gov.vn.

Chúng tôi sẵn sàng chuyển câu hỏi của quý vị tới cơ quan chức năng để trả lời.

Một lần nữa, trân trọng cảm ơn và hẹn gặp lại trong những buổi giao lưu trực tuyến tới đây.

(BBT eFinance)