Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN

Năm vừa qua, các doanh nghiệp CNTT đã góp phần quan trọng vào việc triển khai thành công các dự án, chương trình CNTT của ngành Tài chính nói chung cũng như của Cục Tin học & Thống kê Tài chính (TH&TKTC) nói riêng.


Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN

Nhằm tạo diễn đàn để các doanh nghiệp cũng như các đơn vị trong ngành tài chính cùng chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình hợp tác, phối hợp, hôm nay (20/3/2009) Cục TH&TKTC tổ chức Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 tại Huế. Tham gia Hội nghị có đại diện của hơn 40 doanh nghiệp đối tác và đại diện của các hệ thống tin học tài chính như: Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Kho bạc Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước… Nhân dịp này, eFinance (Tài chính điện tử) mở Diễn đàn Giao lưu trực tuyến với chủ đề “Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các doanh nghiệp đối tác” với bạn đọc eFinance trong cả nước.   Trân trọng  kính mời quý vị độc giả tham gia và gửi câu hỏi tại đây.

(BBT eFinance)

Bạn đọc hỏi

Xin cho biết trong năm 2008, CNTT ngành tài chính đã triển khai tất cả bao nhiêu dự án, đề án CNTT? - (Văn Minh, Hà Nội)

Ông Đặng Đức Mai, Cục trưởng Cục Tin học & Thống kê Tài chính: Năm 2008 ngành Tài chính tập trung triển khai hoạt động CNTT theo 9 mảng dự án lớn, gồm:

- Dự án TABMIS;

- Dự án Hạ tầng truyền thông;

- Dự án Trao đổi thông tin thu nộp thuế;

- Dự án Hiện đại hoá hệ thống thông tin hải quan;

- Dự án Cải cách, hiện đại hoá quản lý thuế;

- Dự án Hiện đại hóa hệ thống thông tin Kho bạc Nhà nước;

- Dự án Hiện đại hóa hệ thống thông tin dự trữ quốc gia;

- Dự án Hiện đại hóa hệ thống chứng khoán;

- Và các dự án dùng chung toàn ngành như kế toán, tài sản,…  

Các đơn vị trong ngành đã xây dựng, nâng cấp 30 phần mềm ứng dụng (PMƯD), triển khai 70 PMƯD tác nghiệp. Trong đó, tại Bộ Tài chính có 7 PMƯD gồm: nâng cấp PM QLNS phục vụ tabmis, triển khai CT QLĐT XDCB, đăng ký TS, ứng dụng phục vụ công tác thanh tra, …   Tại Tổng cục Thuế cũng có 7 PMƯD gồm ứng dụng quản lý thuế thu nhập cá nhân, triển khai thí điểm ứng dụng khai thuế qua mạng, hệ thống chỉ đạo điều hành thuế qua mạng, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung thông tin về các loại đối tượng nộp thuế và thông tin quản lý thu thuế,…   Tại Tổng cục Hải quan có 5 PMƯD gồm cơ sở dữ liệu hàng hóa xuất nhập khẩu, phần mềm quản lý ấn chỉ, hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp phục vụ sau thông quan,..   Tại Kho bạc Nhà nước có 3 dự án ứng dụng chính gồm KTKB; KT-TAB, thanh toán vốn đầu tư. Tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có 5 ứng dụng chính là cổng thông tin điện tử UBCKNN, nâng cấp PM phục vụ giao dịch, đấu giá, PM đào tạo chứng khoán, PM phục vụ quản lý cổ phiếu,…   Tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước có 3 ứng dụng chính là cổng thông tin điện tử, PM quản lý kho, tổng hợp thông tin báo cáo; triển khai chương trình quản lý cán bộ, quản lý công văn...  

Điểm qua như vậy cũng có thể thấy rằng khối lượng công việc phải làm trong năm vừa qua của CNTT ngành tài chính là rất lớn. Với sự nỗ lực của toàn ngành, chúng tôi cũng đã thu được những thành công đáng khích lệ.

Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN ảnh 1


Dấu ấn của mảng thống kê ngành tài chính nhiều năm qua có vẻ hơi “mờ nhạt”, liệu trong năm 2009 có khởi sắc không? - (Hoàng Tứ, Hải Phòng)

Trả lời: Thời gian qua, công tác thống kê phân tích dự báo và cơ sở dữ liệu cũng đã có khá nhiều hoạt động nổi bật. Chúng tôi đã thực hiện triển khai khá nhiều dự án, trong đó có thể kể đến các dự án như: xây dựng hệ thống thông tin thống kê quốc gia; xây dựng hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo Bộ Tài chính; xây dựng mô hình dự báo kinh tế tài chính… Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã có đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) giá đất, CSDL về đầu tư, nâng cấp CSDL công sản,… Chắc chắn trong thời gian tới, mảng thống kê của ngành tài chính sẽ có nhiều thành tựu mới.

Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN ảnh 2

Được biết vừa qua, kho bạc là đơn vị phải triển khai nhiều dự án ứng dụng CNTT quan trọng, đồng thời lại liên quan nhiều tới hệ thống tin học của ngành tài chính như thuế, hải quan… Các doanh nghiệp đối tác cung cấp công nghệ, dịch vụ cho Kho bạc đã đáp ứng nhu cầu kỹ thuật và nghiệp vụ của ngành chưa?

Trả lời: Cuối năm 2007 đã từng xảy ra sự cố tê liệt đường truyền ở Đà Nẵng và chúng tôi đã yêu cầu đơn vị cung cấp phải kịp thời khắc phục và năm 2008 vừa qua đã không còn xảy ra sự việc tương tự nữa. Trên thực tế thì do yêu cầu nghiệp vụ ngày càng phát triển, công việc phát sinh, nên chúng tôi luôn yêu cầu ngày càng cao hơn đối với các doanh nghiệp đối tác.

Năm 2008, KBNN phải triển khai rất nhiều dự án ứng dụng CNTT quan trọng, trong đó có dự án Tabmis là dự án liên quan tới các hệ thống tin học của ngành tài chính và Kho bạc là đơn vị chịu tác động nhiều nhất. Ngoài ra còn triển khai phần mềm Kế toán và Thanh toán điện tử  và đã đưa vào vận hành 1 cách ổn định. Một “sự kiện” nữa mà đội ngũ CNTT của Kho bạc phải cùng phối hợp với đối tác FPT tập trung mọi nguồn lực để hoàn tất việc di dời toàn bộ hệ thống CNTT sang trụ sở mới. Chỉ trong 2 ngày nghỉ cuối tuần, chúng tôi đã hoàn thành được công việc khó khăn phức tạp này để có thể vận hành tốt hệ thống ngay trong ngày làm việc đầu tuần tiếp theo đó.

Chúng tôi cũng đã triển khai đồng bộ phần mềm quản lý nội bộ, mua sắm trang thiết bị…

Tuy nhiên, thực tế những năm qua cho thấy phía các công ty đối tác vẫn chưa đáp ứng về mặt tư vấn, ở đây chúng tôi cần một giải pháp tư vấn mang tính dài hạn, chứ không phải giải pháp mang tính tình thế, dẫn tới việc sau một thời gian lại tư vấn lại theo chiều hướng khác đi, gây khó khăn cho việc thực hiện.  

Kho bạc Nhà nước đã đầu tư cho việc ứng dụng CNTT như thế nào? Hiệu quả thu được ra sao? - (Minh Châu, TP.HCM)

Trả lời: Trong thực tế, hệ thống của KBNN rất lớn với 14.000 người. Chúng tôi ước tính cứ trung bình 2 nhân viên thì có 1 máy tính để bàn (PC) thì số PC của KBNN cũng đã là 7.000 chiếc. Bên cạnh đó, KBNN còn trang bị khoảng 1.000 máy chủ. Như vậy, chỉ riêng việc đảm bảo cho cho hệ thống máy móc này được thay thế thường xuyên, định kỳ cũng đã "ngốn" một khoản kinh phí lớn.  Ngoài ra, về phần mềm ứng dụng, hiện nay có thể nói rằng hầu hết các nghiệp vụ của KBNN đã có ứng dụng và các phần mềm ứng dụng thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong hoạt động của các cán bộ, nhân viên KBNN. Để làm được việc này, rõ ràng kinh phí đầu tư cho CNTT của KBNN không hề nhỏ chút nào. Đặc biệt, hàng năm đầu tư cho CNTT ở KBNN đều tăng khoảng 10-15%. Hiệu quả của việc ứng dụng CNTT ở KBNN rất khác với các doanh nghiệp. Mặc dù vậy, hiệu quả mà việc ứng dụng CNTT đem lại cho hoạt động của KBNN cũng khá rõ nét. Nếu không có CNTT thì dù có tăng người gấp 5, gấp 10 lần cũng không thể giải quyết hết được khối lượng công việc rất lớn và không ngừng tăng lên của KBNN. Kể từ khi KBNN triển khai ứng dụng thanh toán chuyển tiền điện tử vào năm 2006, chất lượng thanh toán giữa các khách hàng thông qua các đơn vị KBNN đã được cải thiện đáng kể: an toàn hơn, chính xác hơn và đặc biệt là nhanh chóng, kịp thời hơn. Chẳng hạn, trước đây để khách hàng chuyển một khoản tiền thanh toán từ Hà Nội vào một tỉnh phía Nam thì phải mất 5 - 7 ngày, thậm chí cá biệt có trường hợp phải mất tới hàng chục ngày. Nhưng hiện nay, nhờ triển khai ứng dụng hệ thống thanh toán điện tử, việc thanh toán trên chỉ mất khoảng 5 - 7 phút. Hay xét trong nội bộ của KBNN, đến giờ phút này về nguyên tắc thì hàng ngày cán bộ vẫn phải đến làm việc tại trụ sở cơ quan. Nhưng nếu nguyên tắc đó được tháo bỏ, nhờ KBNN đã triển khai hệ thống Intranet với các dịch vụ cơ bản ban đầu là cổng thông tin (portal), email, chat, cán bộ vẫn có thể làm việc, điều hành công việc ở đơn vị mình dù đang ở bất cứ đâu.

Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN ảnh 3
Ông Nguyễn Đại Trí, Giám đốc Trung tâm Tin học và Thống kê KBNN


Trong quá trình triển khai ứng dụng CNTT trong KBNN, khó nhất là vấn đề gì? - (Thái Phiên, Bình Định)

Trả lời: Cách đây vài năm, cái "vướng" nhất đối với KBNN là việc xây dựng hạ tầng CNTT nhưng đến nay câu chuyện hạ tầng đã khá hơn. Cũng có thời điểm, khó khăn nhất là sự nhận thức, ủng hộ của lãnh đạo. Rất may mắn là ở KBNN điều này chỉ xảy ra trong một giai đoạn rất ngắn ban đầu. Bây giờ, lãnh đạo KBNN rất ủng hộ việc ứng dụng CNTT. Ở thời điểm hiện nay, đang có sự xáo trộn rất lớn về cơ chế, thị trường. Do đó, khó khăn về nguồn lực phát triển CNTT càng rõ rệt. Hầu như các cơ quan nhà nước đều không tuyển dụng đủ nguồn nhân lực trình độ cao mà chủ yếu là những người "nhàng nhàng bậc trung" mà thôi. KBNN cũng không ngoại lệ. Mỗi giai đoạn lại có những khó khăn nhất định.

Hoạt động giao dịch tại Kho bạc Hà Nội.


Thời gian tới, Kho bạc Nhà nước đặt ra những mục tiêu gì cho công tác ứng dụng CNTT? - (Hoàng Anh Tú, Cà Mau)

Trả lời: Mục tiêu mà KBNN đặt ra trong giai đoạn tới rất lớn. KBNN hiện đang trong giai đoạn kết thúc Dự án hiện đại hóa hệ thống thông tin, tin học KBNN đến năm 2010 và bắt tay xây dựng Chiến lược ứng dụng công nghệ thông tin của KBNN đến năm 2020 trên cơ sở Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2007. Một trong những mục tiêu cơ bản nhất và quan trọng nhất đã được khẳng định trong chiến lược này là đến năm 2020, các hoạt động của KBNN được thực hiện trên nền tảng CNTT hiện đại và hình thành "Kho bạc điện tử". Nghĩa là, phải tạo ra được một nền tảng đồng bộ từ hạ tầng kỹ thuật cho đến các giải pháp ứng dụng nhằm đảm bảo vận hành được các quy trình nghiệp vụ của KBNN, cung cấp được các dịch vụ trực tuyến cho các khách hàng. Mức độ ứng dụng CNTT ở KBNN hiện nay trong chừng mực nhất định vẫn chỉ phục vụ cho chính cán bộ, nhân viên của KBNN để giải quyết các công việc đối với các khách hàng đến giao dịch tại  kho bạc. Kho bạc điện tử xét cho cùng cũng phải phục vụ nhiệm vụ trên nhưng chất lượng phục vụ phải được nâng lên mức cao hơn.  Đó là phải tạo ra được một kênh, một giao diện để những giao dịch đó được thuận lợi hơn cho tất cả khách hàng. Một điểm nhấn quan trọng trong chiến lược ứng dụng CNTT của KBNN đến năm 2020 là xây dựng kiến trúc tổng thể hệ thống thông tin KBNN. Trong đó, hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc giữ vai trò là "xương sống" nhằm đáp ứng các yêu cầu cải cách quản lý tài chính-ngân sách; mở rộng các ứng dụng tin học trong các hoạt động nghiệp vụ của KBNN theo hướng tập trung và tích hợp với hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc (Hệ thống TABMIS).

Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN ảnh 5
Nhóm phóng viên eFinance tác nghiệp giao lưu trực tuyến
 

Chúng tôi quan tâm đến việc khi tiếp thị sản phẩm và giải pháp cho ngành tài chính thì cần lưu ý cách nào để có thể dễ được chấp nhận, điều kiện cần thêm là gì?

Trả lời: Trước hết là phải chuẩn hoá về quản lý; Thứ hai là chuẩn bị đội ngũ nhân lực: Phân tích những yêu cầu nghiệp vụ, đặc thù, điều kiện của chúng tôi để có thể triển khai đưa vào thực tế.

Có thể nói mong muốn của chúng tôi là các công ty nên phân tích kỹ yêu cầu của phía chúng tôi và cân nhắc với thực lực của công ty ngay từ khi quyết định tham gia đấu thầu các dự án của ngành tài chính . Nguồn lực không phải sau khi làm dự án mà còn hỗ trợ trong nhiều năm về sau, sau khi dự án được triển khai.  

Tôi nghe nói Tổng cục Thuế đang triển khai xây dựng Trung tâm Hỗ trợ Người nộp thuế. Xin cho biết việc hỗ trợ này sẽ thuận tiện hơn cho người nộp thuế so với hiện nay như thế nào? - (Trần Đình Quý, Hà Tĩnh)

Trả lời: Cục Ứng dụng CNTT - Tổng cục Thuế đã phối hợp với Ban Hỗ trợ Người nộp thuế triển khai dự án xây dựng Trung tâm Hỗ trợ Người nộp thuế  (IPCC). Đây là một bước chiến lược trong quá trình hiện đại hoá theo hướng ứng dụng khoa học - công nghệ của Tổng cục Thuế. Với mục tiêu trở thành một địa chỉ “đầu mối” liên lạc tin cậy, cung cấp các dịch vụ một cách toàn diện và đầy đủ cho người nộp thuế (NNT), Trung tâm IPCC đã sử dụng giải pháp công nghệ thông tin hiện đại và chuyên nghiệp có tên gọi Contact Center (trung tâm liên lạc).   IPCC sẽ tăng cường khả năng hỗ trợ NNT theo nhiều loại hình dịch vụ, nhiều cấp độ (từ tự phục vụ đến được hỗ trợ và tư vấn trực tiếp bởi các chuyên gia) và nhiều kênh thông tin khác nhau. Đại diện Tổng cục Thuế cho biết IPCC sẽ cung cấp 3 loại hình dịch vụ: Hướng dẫn (cho phép NNT tiếp cận các văn bản pháp quy, hướng dẫn, biểu mẫu cần thiết cho NNT hiểu rõ nghĩa vụ của mình); Hỗ trợ (cung cấp thông tin giúp NNT có thể thực hiện nghĩa vụ thuế một cách thuận tiện, nhanh chóng, hiệu quả, an toàn và đảm bảo tính công bằng, minh bạch cho hệ thống thuế); Tư vấn (cung cấp các tri thức, thông tin có tính chuyên môn cao từ các chuyên gia trong lĩnh vực thuế cho NNT).   Các phương thức hỗ trợ NNT cũng sẽ được đa dạng hóa như hỗ trợ qua điện thoại, qua mail, qua dịch vụ Internet,… mang lại nhiều thuận tiện hơn cho NNT khi muốn tìm hiểu về các sắc thuế, chính sách thuế, cũng như quyền và nghĩa vụ của NNT. Tuy nhiên, trong giai đoạn thí điểm, Trung tâm mới chỉ cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ cho NNT qua điện thoại Hiện dự án đang được triển khai giai đoạn cuối, dự kiến sẽ hoạt động thí điểm trong quý I/2009.

Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN ảnh 6
Bà Trương Hải Đường, Cục trưởng Cục Ứng dụng CNTT, Tổng cục Thuế


Tổng cục Thuế có ý định triển khai kê khai thuế điện tử ngay trong năm nay hay không? - (Hoàng Thái, Hà Nội)

Trả lời: Lộ trình thuế điện tử sẽ bắt đầu được triển khai từ 2009, trước mắt thực hiện kê khai thuế điện tử thí điểm cho một số doanh nghiệp trọng điểm cho một tỉnh, thành phố như Hà Nội hay TP.HCM. Trong giai đoạn này sẽ đồng thời hoàn thiện thông tư về giao dịch thuế điện tử làm cơ sở để triển khai mà mở rộng giai đoạn hai 2010. Trong năm 2010, từ kết quả triển khai thí điểm, nếu kết quả tốt sẽ triển khai mở rộng ra các tỉnh thành phố khác để các DN có thể triển khai kê khai điện tử qua mạng. Đến 2011 - giai đoạn ba, ngành thuế sẽ nghiên cứu để đem vào áp dụng việc nộp thuế qua mạng. Để có thể triển khai thi điểm kê khai thuế điện tử, ngành thuế sẽ tập trung xây dựng chuẩn giao tiếp và định dạng chuẩn giao tiếp thông tin nghiệp vụ về thuế, tích hợp ứng dụng kê khai thuế qua mạng với ứng dụng Quản lý thuế hiện tại của Cục Thuế để cho phép nhận, xử lý dữ liệu từ tờ khai điện tử. Tiếp theo, ngành thuế sẽ lựa chọn một số doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia thí điểm kê khai thuế qua mạng Internet (các doanh nghiệp này sẽ không phải sử dụng tờ khai giấy). Khi triển khai kê khai thuế điện tử, về nghiệp vụ, cơ quan thuế sẽ cho phép người nộp thuế khai báo thuế (tờ khai thuế) qua mạng Internet dưới 2 hình thức: điền thông tin trực tiếp trên mạng và gửi file dữ liệu theo định dạng chuẩn. Cơ quan thuế cũng sẽ hỗ trợ điền sẵn các thông tin chung về người nộp thuế trong tờ khai (tên người nộp thuế, mã số thuế, địa chỉ, điện thoại…) và đối chiếu một số thông tin kê khai của người nộp thuế với thông tin quản lý của cơ quan thuế, hay hỗ trợ người nộp thuế kiểm tra các ràng buộc về kê khai để đảm bảo tờ khai được gửi đến cơ quan thuế hợp lý... Về kỹ thuật, hệ thống kê khai thuế sẽ được thiết kế theo mô hình kiến trúc hướng dịch vụ, trong đó dịch vụ kê khai điện tử sẽ được kết nối với hệ thống trao đổi, tích hợp các ứng dụng khác của Tổng cục Thuế nhằm đảm bảo kết nối với các ứng dụng hiện tại và các ứng dụng tập trung trong tương lai. Hệ thống ứng dụng cũng phải được thiết kế dựa trên các chuẩn mở: XML, web services..., có khả năng kiểm soát, phân quyền truy cập các thông tin  theo từng người dùng, có khả năng lưu vết và quản lý các thông tin khai điện tử, đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin riêng của người nộp thuế…

Hệ thống thuế điện tử sẽ đem lại nhiều tiện ích cho các đối tượng nộp thuế.

 

Được biết Cục CNTT và thống kê Hải quan vừa nhận được Giải thưởng CNTT-TT Việt Nam năm 2008. Theo ông, những yếu tố nào làm nên kết quả đó trong khi còn có rất nhiều đơn vị khác (kể cả ngay trong ngành tài chính) cũng rất nỗ lực trong việc đầu tư và ứng dụng CNTT phục vụ tác nghiệp? Vai trò của các doanh nghiệp đối tác?

Trả lời: Nếu nói vắn tắt về sự phát triển CNTT Hải quan năm 2008, thì vai trò của CNTT Hải quan  đã có rất nhiều sự thay đổi:

Cục CNTT và Thống kê Hải quan không chỉ “lo” về kỹ thuật mà đã trở thành một cơ quan nghiệp vụ chủ yếu của Hải quan, là tầm nhìn và phát triển chiến lược của ngành Hải quan.

Tuy nhiên, để có những thành quả vừa qua, chúng tôi còn phải quan tâm phối hợp với các hệ thống CNTT trong và ngoài ngành nữa, và ở đây không thể không nhắc tới vai trò và sự đóng góp to lớn của các đối tác. Chúng tôi đánh giá cao các đối tác phối hợp hỗ trợ phát triển CNTT của Hải quan như: FPT, CMC, MS, SanTak, Cisco, Elinco. 

Ở đây chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh, để có được những kết quả vừa qua, chúng tôi phải có biện pháp, phải đề xuất ra được các chính sách khuyến khích và phát triển CNTT cho ngành Hải quan.

Về phía các doanh nghiệp đối tác, chúng tôi cũng mong muốn tới đây tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Hải quan, đặc biệt quan tâm kỹ càng hơn đến những thông tin hợp đồng để tránh gây nhầm lẫn khi thực hiện sau đó.

Tới đây, CNTT Hải quan tập trung phát huy tối đa nguồn lực của ngành và các giải pháp thực tế ứng dụng được; Sử dụng những phần mềm của các hãng tên tuổi trên thị trường và đặc biệt chú trọng vấn đề an ninh trong xây dựng trung tâm dữ liệu của ngành, đảm bảo an ninh, an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế.  

 

Tôi nghe nói về thông quan điện tử, rồi lại khai hải quan điện tử từ xa, vậy thông quan điện tử khác với khai hải quan từ xa ở điểm nào? - (Phan Minh Nhân, Hải Phòng)

Trả lời: Với khai báo từ xa, doanh nghiệp (DN) làm thủ tục khai tại DN, rồi gửi đến cơ quan hải quan và mang hồ sơ đến làm thủ tục như quy trình thủ công.

Còn với thông quan điện tử, DN thực hiện khai tại DN, sau đó nhận quyết định phân luồng và thực hiện theo hướng dẫn. (Nếu kết quả tờ khai của DN là luồng xanh thì DN in tờ khai thành 2 bản và mang đến Chi cục Hải quan điện tử xác nhận rồi đi lấy hàng; Nếu kết quả tờ khai của DN là luồng vàng thì DN mang hồ sơ tờ khai đến Chi cục Hải quan điện tử để kiểm tra hồ sơ; Nếu kết quả tờ khai của DN là luồng đỏ thì DN mang hồ sơ tờ khai đến Chi cục Hải quan điện tử để kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa).

Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN ảnh 8
Ông Nguyễn Công Bình, Cục trưởng Cục CNTT và Thống kê Hải quan


Hải quan điện tử sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Hải quan thì rõ rồi, nhưng phía doanh nghiệp khi tham gia hải quan điện tử thì có lợi ích gì? - (Trịnh Minh Nhân, Lạng Sơn)

Trả lời: Hải quan điện tử rõ ràng không phải là vấn đề của riêng ngành Hải quan, mà là mối quan hệ giữa Hải quan và doanh nghiệp (DN). Cơ quan hải quan cần hiện đại hóa ngành và cải cách thủ tục hải quan để trở thành một lực lượng chuyên nghiệp, hiện đại nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình.

DN chịu sự quản lý Nhà nước về hải quan nhưng trong quá trình hiện đại hóa của cơ quan Hải quan, DN cũng được hưởng lợi ích, đó là tiến hành các thủ tục hải quan đúng pháp luật, thuận lợi, nhanh chóng và chính xác. Khi tham gia hải quan điện tử, DN được pháp luật về hải quan bảo hộ. Ngoài những quyền đối với người khai hải quan như truyền thống, người khai hải quan điện tử sẽ nộp hàng tháng các lệ phí hải quan thay vì nộp lệ phí sau mỗi lần khai như hiện nay. DN còn được yêu cầu cơ quan hải quan ban hành Quyết định trước đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở các thông tin do DN cung cấp. Quyết định trước là văn bản của cơ quan hải quan quyết định về phân loại, phương pháp xác định trị giá hải quan, xuất xứ đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu nhập khẩu dựa trên đề nghị của DN. DN cũng có quyền yêu cầu cơ quan hải quan cung cấp thông tin về quá trình xử lý hồ sơ điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan. Ngoài ra, tham gia thủ tục hải quan điện tử sẽ làm giảm sự tiếp xúc giữa cán bộ hải quan và DN, tránh phiền hà, giảm chi phí đi lại và các chi phí phát sinh khác cho DN. Trên cơ sở ứng dụng CNTT, thông quan điện tử cũng sẽ giúp thủ tục nhanh chóng và thông suốt hơn.

Doanh nghiệp cũng được hưởng nhiều lợi ích từ hải quan điện tử.


Xin cho biết kế hoạch triển khai hải quan điện tử trong năm 2009? - (Ngô Ngọc Ngân Nhi, Bình Dương)

Trả lời: Năm 2009, mở rộng hải quan điện tử tại 5 tỉnh, thành phố gồm các tỉnh, thành phố: Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Lạng Sơn và Đà Nẵng, trước đó hải quan điện tử đã được triển khai tại Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, ngành Hải quan cũng đề ra mục tiêu phấn đấu đạt 80% tổng số lượng tờ khai hải quan hàng hóa xuất nhập khẩu khai báo từ xa trong năm 2009.

Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN ảnh 10


Được biết dự án TABMIS chuẩn bị được triển khai trong năm nay? Xin cho biết một số thông tin xung quanh dự án này. - (Hải Hà, Quảng Nam)

Trả lời: Nhằm thực hiện mục tiêu cải cách của Việt Nam trong lĩnh vực tài chính công, nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường khả năng hội nhập của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, từ 2006 Bộ Tài chính đã triển khai dự án TABMIS - một cấu phần quan trọng nhất trong Dự án Cải cách quản lý tài chính công và dự kiến hoàn thành vào năm 2011.

Trong năm nay, Bộ Tài chính sẽ khẩn trương triển khai các hoạt động như: Kết thúc kiểm thử người sử dụng, các kiểm tra kỹ thuật khác và rà soát các yêu cầu hợp đồng, thống nhất phương án và tiêu chí chấp thuận nghiệm thu hệ thống, chuẩn bị cho nghiệm thu chấp thuận hệ thống. Tiếp tục triển khai các công việc khác của dự án chuẩn bị cho thí điểm và triển khai rộng: chuẩn bị chuyển đổi dữ liệu, các hoạt động giới thiệu TABMIS và truyền thông khác, hoàn thành kế hoạch đào tạo chi tiết, tài liệu đào tạo và tiến hành tổ chức các khóa đào tạo theo kế hoạch, cập nhật kế hoạch dự án. Tập huấn cơ chế, triển khai các chương trình ứng dụng giao diện với TABMIS (KTKB nâng cấp, ĐTKB, TCS, DMFAS…) theo kế toán đồ mới và đáp ứng các yêu cầu trao đổi dữ liệu với TABMIS từ đầu năm 2009, xác định các đối tượng tham gia tiếp nhận, vận hành hệ thống tại TW và các địa phương, phối hợp rà soát lại tổ chức bộ máy và phân công nhiệm vụ trong từng đơn vị và giữa các cơ quan, rà soát sắp xếp lại đội ngũ cán bộ và triển khai đề án đào tạo nội bộ, bao gồm cả đào tạo trình độ tin học cơ bản cho cán bộ địa phương (đến cấp huyện) tham gia hệ thống; khảo sát về mức độ đáp ứng của hạ tầng truyền thông. Đánh giá chi tiết tính sẵn sàng tại từng địa phương, để có thể triển khai thí điểm và triển khai rộng hệ thống trên toàn quốc.  

Theo kế hoạch dự kiến, TABMIS sẽ được triển khai thí điểm từ đầu năm 2009 tại ba KBNN tỉnh, thành phố (chạy song song 2 hệ thống KTKB và TABMIS), dự kiến tại KBNN (Sở Giao dịch) và các đơn vị kho bạc và cơ quan tài chính ở Hải Phòng và Hà Nam. Sau đó TABMIS sẽ triển khai diện rộng theo tiến độ 3 tháng triển khai tại 10 tỉnh - thành phố, kết thúc vào cuối năm 2010, đầu năm 2011. TABMIS cũng sẽ được triển khai đến 40 Bộ/cơ quan ngang Bộ/Sở ban ngành trên địa bàn Hà Nội.


Xin cho biết thời điểm chính thức thí điểm TABMIS, sẽ thí điểm ở cơ quan nào? - (Đinh Hoài Nam, Hà Nội)

Trả lời: Bộ Tài chính đang cùng với nhà thầu IBM Singapore triển khai dự án "Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc" (TABMIS). Theo kế hoạch, sẽ thí điểm từ ngày 7/4/2009 tại các cơ quan tài chính và các đơn vị Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại 3 địa bàn: Hải Phòng (đầu tháng 4/2009), Hà Nam và KBNN trung ương (đầu tháng 5/2009).


Ngoài những đơn vị thí điểm TABMIS, còn lại những đơn vị chưa tham gia thí điểm sẽ thực hiện chế độ kế toán như thế nào? - (Huỳnh Thúy Phi, Thanh Hoá)

Trả lời: Trong hai năm 2009 - 2010, sẽ thực hiện song song 2 chế độ kế toán là chế độ kế toán áp dụng cho Hệ thống thông tin Quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) đối với các tỉnh đã tham gia dự án TABMIS, và chế độ kế toán ngân sách Nhà nước (NSNN), hoạt động nghiệp vụ KBNN cho các tỉnh chưa tham gia dự án TABMIS.

Cần lưu ý là sau hai năm triển khai, chế độ kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN ban hành theo Quyết định số 24/2006/QĐ-BTC ngày 6/4/2006 của Bộ Tài chính cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu quản lý theo Luật NSNN và Luật Kế toán, phục vụ tương đối đầy đủ các yêu cầu quản lý điều hành ngân sách Nhà nước. Thực hiện kế hoạch bổ sung, sửa đổi chế độ kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN đã được lãnh đạo Bộ Tài chính phê duyệt, KBNN đã trình Bộ Tài chính ký quyết định ban hành chế độ kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN thay thế Quyết định 24/2006/QĐ-BTC ngày 6/4/2006. Chế độ kế toán lần này tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung sau: Sửa đổi, bổ sung các vấn đề thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ Tài chính; Hệ thống hoá, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các nội dung thuộc thẩm quyền ban hành của KBNN; Sửa đổi, bổ sung quy trình nghiệp vụ thanh toán điện tử, đồng thời nâng cấp chương trình thanh toán điện tử hiện hành; Riêng phần hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị phải thống nhất mẫu biểu báo cáo với chương trình TABMIS, đảm bảo nguyên tắc tổng hợp báo cáo toàn quốc theo hình thức cộng báo cáo từ 2 chương trình trong thời gian triển khai TABMIS. Hệ thống thanh toán điện tử nâng cấp được sử dụng từ 1/1/2009 làm hệ thống thanh toán cho cả các đơn vị kho bạc đã và chưa áp dụng TABMIS (sau khi triển khai TABMIS xong, vẫn có thể sử dụng hệ thống này). Kể từ đầu năm 2009, Bộ Tài chính triển khai dự án TABMIS theo hướng triển khai dần từng đợt (mỗi đợt triển khai ở một số địa phương). Hai chế độ kế toán là chế độ kế toán áp dụng cho TABMIS đối với các tỉnh đã tham gia dự án TABMIS và chế độ kế toán NSNN, hoạt động nghiệp vụ KBNN cho các tỉnh chưa tham gia dự án TABMIS sẽ được thực hiện song song trong năm 2009 - 2010, đảm bảo cho hoạt động kho bạc được vận hành thông suốt, hiệu quả theo hướng hiện đại hoá.

Hội nghị đối tác thường niên lần thứ 9 - Sẽ có nhiều cơ hội dành cho các DN ảnh 12


Được biết Kho bạc Nhà nước là đơn vị đi đầu trong việc ứng dụng chữ ký số, nhưng tôi chưa biết quy trình sử dụng chữ ký số trong ngành kho bạc diễn ra như thế nào, xin giải thích cụ thể hơn được không? - (Thúy Ngân, Vĩnh Phúc)

Trả lời: KBNN chính thức triển khai chữ ký số từ tháng 5/2006, áp dụng đầu tiên trong hệ thống thanh toán điện tử liên kho bạc ngoại tỉnh, sử dụng giải pháp Microsoft Certificate Authentication và lưu trữ khoá bảo mật bằng PKI Smart Card. Trước đó, từ năm 2003, KBNN đã từng tự xây dựng giải pháp mã hoá và ký chữ ký điện tử trên lệnh thanh toán cho hệ thống thanh toán điện tử liên kho bạc nội tỉnh trên mạng diện rộng bằng thuật toán RSA trên nền tảng công nghệ Oracle PL/SQL với khoá bảo mật được lưu trữ trên đĩa mềm. Quy trình sử dụng chữ ký số trong các hệ thống giao dịch điện tử: Người sử dụng được cấp chữ ký số ký trên chứng từ điện tử tại đơn vị gửi; Chương trình ứng dụng giao dịch điện tử tại đơn vị nhận thực hiện kiểm tra chữ ký số đính kèm chứng từ điện tử, nếu đúng chấp nhận vào hệ thống, nếu sai thực hiện chuyển trả cho đơn vị gửi. Trong năm 2008, KBNN triển khai sử dụng chữ ký số cho chương trình ứng dụng Quản lý, kiểm soát thanh toán vốn chương trình mục tiêu, vốn chương trình mục tiêu và vốn sự nghiệp (ĐTKB-WAN). Đây là chương trình được xây dựng theo mô hình 3 lớp, lớp giữa sử dụng công nghệ EJB, cơ sở dữ liệu Oracle 10g. Chương trình ĐTKB/WAN được triển khai theo mô hình bán tập trung gồm 2 cấp: trung ương và tỉnh, sử dụng công nghệ truyền tin Oracle Advanced Queue để truyền nhận chứng từ điện tử giữa trung ương và địa phương, được ký chữ ký số do hệ thống CA KBNN cấp phát (hiện đang sử dụng cho chương trình thanh toán điện tử KBNN).


Hệ thống trao đổi thông tin thu nộp thuế giữa 4 cơ quan Thuế - Kho bạc Nhà nước - Hải quan - Tài chính đã vận hành chính thức từ ngày 16/2/2009. Nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan được quy định như thế nào để người nộp thuế có thể yên tâm không phải chạy nhiều cửa để khẳng định về việc mình đã nộp đúng, nộp đủ? - (Nguyễn Thị Loan, TP.HCM)

Trả lời: Về điều bạn hỏi, công văn của Tổng cục Thuế đã có những hướng dẫn cụ thể đối với các cơ quan như sau:

Với Kho bạc Nhà nước: In 2 liên chứng từ theo Thông tư số 128/2008/TT-BTC; Cần đảm bảo nhập đầy đủ vào hệ thống toàn bộ các chứng từ thu NSNN chi tiết (không nhập chứng từ kiểu gom theo phiếu kế toán, trừ trường hợp các chứng từ bằng chuyển khoản đối tượng nộp gộp mà KBNN không tách được như tờ khai hải quan, chứng từ thu thuế chuyển khoản do ngân hàng chuyển đến) phát sinh từ ngày 1/1/2009 đến thời điểm hệ thống vận hành chính thức. Kho bạc Nhà nước thực hiện kết xuất toàn bộ chứng từ thu NSNN phát sinh từ ngày 1/1/2009 đến ngày hệ thống bắt đầu vận hành và truyền dữ liệu chứng từ thu NSNN cho các cơ quan thu.

 Với cơ quan Tài chính: trường hợp cơ quan Tài chính chưa kịp nâng cấp ứng dụng theo Mục lục ngân sách (MLNS) mới thì tạm thời dừng việc nhận dữ liệu thu NSNN qua kênh truyền dữ liệu của dự án trao đổi thông tin thu nộp thuế giữa 4 cơ quan nêu trên. Cán bộ nghiệp vụ thu NSNN đến KBNN để nhận bảng kê chứng từ thu NSNN để theo dõi và tổng hợp số thu bằng Excel, không được nhập vào ứng dụng quản lý ngân sách Nhà nước do ứng dụng chưa được nâng cấp MLNS mới. Khi ứng dụng liên quan tới MLNS được nâng cấp thì cơ quan Tài chính nhận chứng từ thu NSNN từ KBNN truyền sang theo đường điện tử theo quy định. Thời gian và kế hoạch nâng cấp ứng dụng liên quan tới MLNS sẽ được Bộ Tài chính thông báo sau.

Với cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan: Cơ quan Thuế thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu với bảng kê chứng từ của Kho bạc đã nhận trước đó để cập nhật chứng từ vào ứng dụng tin học của mỗi hệ thống. Cơ quan Hải quan thực hiện nhận dữ liệu chứng từ và kiểm tra, đối chiếu dữ liệu điện tử với dữ liệu trên bảng kê của Kho bạc. Các cơ quan thu chuẩn hóa lại danh bạ người nộp thuế (NNT), sổ thuế, tờ khai Hải quan và tiếp tục thực hiện việc truyền thông tin (danh bạ NNT, sổ thuế, tờ khai Hải quan…) sang Kho bạc theo quy định từ ngày 16/2/2009. Trường hợp cơ quan thu truyền sang KBNN sai tên NNT, địa chỉ NNT thì KBNN đề nghị cơ quan thu căn cứ vào mã số NNT đối chiếu và điều chỉnh rồi gửi lại KBNN (không yêu cầu NNT sang KBNN để sửa).Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các đơn vị có thể liên hệ với Tổ Hỗ trợ Trung ương theo điện thoại 04.22202828, số máy lẻ 1028 và 1029; hoặc email tdtt@mof.gov.vn để được hỗ trợ khắc phục.


Nhiều người cho rằng một trong những thành công nổi bật nhất của ngành tài chính so với các Bộ, ngành khác ở Việt Nam là có được một hạ tầng truyền thông thống nhất từ trung ương tới địa phương. Với hạ tầng truyền thông này đã giúp ích được gì cho ngành trên thực tế? - (Phan Hoàng Anh, TP.HCM)

Trả lời: Dự án hạ tầng truyền thông (HTTT) thống nhất ngành tài chính được khởi động từ những năm 1999 - 2000 và đến năm 2005 đã hình thành được hệ thống mạng trục Bắc - Nam, kết nối đến toàn bộ các tỉnh thành.

Từ 2006 đến nay, HTTT này tiếp tục được nâng cấp, mở rộng kết nối đến toàn bộ đơn vị tài chính cấp quận, huyện trên toàn quốc. Dự án HTTT sử dụng các công nghệ hiện đại nhất hiện nay như cáp quang, leasedline/truyền dẫn quang, MPLS VPN (dịch vụ MegaWan) và viba, vệ tinh (VSAT-IP) đã chính thức “xóa sổ” tình trạng đường truyền thường xuyên tắc nghẽn, trục trặc khi phải sử dụng công nghệ truyền dẫn qua đường điện thoại (dial up) với dung lượng và chất lượng rất hạn chế trước đây. Đến nay, với đường truyền băng thông Bắc - Nam đã được nâng lên gấp 16 lần, đường liên tỉnh gấp 12 lần, kết nối của khối trung ương lên 50 lần, việc triển khai kết nối cho tất cả các đơn vị cấp quận huyện/chi cục của 3 phân hệ lớn là Thuế, Hải quan, KBNN đã nâng tổng số lên trên 1.700 điểm được kết nối vào HTTT.

Tổng số kênh truyền đã triển khai mở rộng bao gồm: 16 kênh cáp quang 100/1000Mbps, 2 kênh leasedline 16Mbps, 62 kênh leasedline 2Mbps, 66 kênh MPLS 1Mbps, 3487 kênh 128/256kbps. Nhờ có HTTT với băng thông rộng, kết nối thông suốt đến cấp đơn vị tài chính cấp huyện - nơi phát sinh đầu vào dữ liệu lớn nhất, các ứng dụng CNTT đã được vận hành hiệu quả rõ rệt hơn trước nhiều, nhất là các chương trình thanh toán điện tử, kế toán kho bạc, thanh toán tín trái phiếu của Kho bạc...; các chương trình cấp mã đối tượng nộp thuế, quản lý ấn chỉ, chương trình quản lý thuế của ngành Thuế... (nhiều ứng dụng đã chuyển từ mô hình phân tán sang mô hình xử lý dữ liệu tập trung hiệu quả hơn); thông quan hải quan điện tử, khai báo hải quan từ xa hay quản lý hải quan dựa trên mô hình quản lý rủi ro... HTTT sau nâng cấp, mở rộng đồng thời tạo môi trường thuận tiện cho công tác hỗ trợ kỹ thuật và triển khai ứng dụng: các đơn vị trong ngành tài chính có thể truy cập các thông tin chỉ đạo của Bộ kịp thời hơn; các hệ thống sử dụng đường truyền để hỗ trợ kỹ thuật trực tuyến, nâng cấp và cài đặt các chương trình từ xa, tiết kiệm rất nhiều chi phí hỗ trợ kỹ thuật và triển khai ứng dụng cho địa phương.


Chậm tiến độ dự án CNTT là tình trạng chung đang tồn tại ở nhiều Bộ, ngành ở nước ta hiện nay. Ngành tài chính đã có giải pháp nào để khắc phục vấn đề này? - (Hứa Thu Hằng, Nghệ An)

Trả lời: Quả thực, chậm tiến độ vẫn đang là vấn đề tồn tại trong hoạt động triển khai các dự án CNTT của ngành tài chính. Sự chậm trễ hiện nay chủ yếu do khâu thủ tục hành chính trước khi chọn lựa đối tác (sau khi chọn lựa được đối tác rồi thì đã có quy trình chuẩn, sẽ vận hành tương đối nhanh). Chẳng hạn, vướng mắc về thủ tục thầu chưa được cải thiện . Hoặc chính sách về định giá phần mềm rất phức tạp, hiện chưa thể áp dụng vào thực tiễn, gây ách tắc cho quá trình xây dựng kế hoạch kinh phí, phê duyệt dự án. Vướng mắc này khó có thể tháo gỡ ngay trong một sớm một chiều.


Được biết, một trong những yêu cầu đặt ra với các doanh nghiệp muốn trở thành đối tác của ngành tài chính là phải nắm vững Quy trình quản lý chất lượng hợp đồng. Xin hỏi doanh nghiệp chúng tôi có thể tìm hiểu Quy trình này bằng cách nào? - (Quang Hải, Hà Nội)

Trả lời:  Một yếu tố rất quan trọng tạo dựng nên sự suôn sẻ trong mối quan hệ phối hợp, hợp tác giữa các doanh nghiệp CNTT với Cục TH&TKTC chính là Quy trình quản lý chất lượng hợp đồng do Cục xây dựng từ năm 2007 theo tiêu chuẩn ISO, năm vừa qua Quy trình này đã tiếp tục được cập nhật và nâng cấp thêm.  

Trước kia, khi chưa có quy trình, sự phối hợp dựa trên kinh nghiệm là chủ yếu, mỗi đối tác có một cách tiếp cận, làm việc khác nhau. Nay có quy trình, có đội kiểm soát hợp đồng, các đối tác làm việc với Cục theo một chuẩn chung và công tác quản lý dự án được cải thiện hơn rất nhiều. Giữa Cục với các đối tác thường duy trì các cuộc họp hàng tuần, có báo cáo tuần, báo cáo tháng theo một mẫu thống nhất. Người quản lý dự án của bên đối tác hàng tuần phải có báo cáo cho Cục, mỗi tháng phải có một báo cáo tổng hợp các tuần. Qua đó, Cục nắm chắc tiến độ của các dự án cũng như những vấn đề khó khăn phát sinh, kịp thời bàn cách giải quyết.  

Các đối tác đều rất hoan nghênh Quy trình này của Cục. Chúng tôi luôn sẵn sàng cung cấp thông tin về Quy trình này cho các doanh nghiệp có nhu cầu tìm hiểu.


Tôi là đại diện một doanh nghiệp CNTT ở Việt Nam. Chúng tôi muốn được hỏi làm thế nào để có thể trở thành một đối tác triển khai các dự án CNTT của Bộ Tài chính. Xin hỏi trong năm nay, Bộ Tài chính sẽ triển khai những dự án nào? - (T.H.A, Hà Nội)

Trả lời: Trong năm nay, chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai khá nhiều dự án, trong đó có thể kế đến những dự án sau:

- Dự án an toàn bảo mật

- Hệ thống cấp, sinh khóa phục vụ triển khai dịch vụ xác thực điện tử (thí điểm).

- Hệ thống giám sát mạng.

- Hệ thống giám sát an ninh.

- Bản quyền phần mềm: Windows Server 2008, SQL 2005, Exchange 2007, OCS 2007,  Terminal Services,…

- Dịch vụ triển khai nâng cấp Intranet, đào tạo người sử dụng.

- Đào tạo quản lý giám sát dịch vụ (MO).

- Đào tạo tin học nâng cao cho cán bộ Bộ Tài chính.

- Triển khai thí điểm đầu tư ứng dụng CNTT cho cơ quan tài chính địa phương.

- Triển khai kết nối kênh truyền các phòng tài chính.

- Lắp đặt kênh truyền MPLS tại Trung tâm tỉnh phục vụ kết nối cho Cục Thuế và Cục Hải quan thay thế cáp đồng.

- Xây dựng Kho dữ liệu thu chi ngân sách sửa đổi theo COA mới và tích hợp dữ liệu từ hệ thống TABMIS.

- Xây dựng phần mềm tổng hợp dự toán, quyết toán Bộ, ngành.

- Nâng cấp hệ thống TCS theo COA mới và triển khai  giai đoạn 2 dự án hiện đại hóa thu nộp thuế.

- Tập huấn tập trung ứng dụng báo cáo thanh tra cho các Tổng cục, 64 STC. Tổ chức hỗ trợ sử dụng.

- Mở rộng Cơ sở dữ liệu danh mục dùng chung (theo yêu cầu của Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thuế, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước).

- Phần mềm Văn thư - Lưu trữ: Cấu hình tối ưu, triển khai, hỗ trợ, đào tạo sử dụng cho các đơn vị thuộc Bộ Tài chính (22 Vụ, Cục, đơn vị), số hóa tài liệu.

- Quản lý thư viện điện tử.

- Bảo trì hệ thống ứng dụng tài chính, ngân sách (Trung ương, địa phương): Cơ sở dữ liệu đối tượng nộp thuế; Văn bản pháp quy; Ứng dụng quản lý tài sản nội ngành; Ứng dụng cấp mã số đơn vị quan hệ ngân sách; Ứng dụng Quản lý đăng ký tài sản; Ứng dụng Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Sở Tài chính.

- Triển khai phần mềm Quản lý thi đua khen thưởng, cập nhật dữ liệu ban đầu.

- Phần mềm kế toán hành chính sự nghiệp sử dụng trong Bộ Tài chính trên Oracle.

- Thiết bị phục vụ triển khai nâng cấp Intranet cho Văn phòng Bộ Tài chính: SMTP gateway, thiết bị kết nối tổng đài…

- Triển khai thực hiện đề án Hệ thống thông tin thống kê tài chính Việt Nam.

- Xây dựng hệ thống thông tin thống kê kinh tế, xã hội, tài chính, ngân sách tổng hợp của các tỉnh thành phố.

- Xây dựng và triển khai hệ thống giao ban điện tử.

Trong số các dự án đó, có nhiều dự án đã có đối tác triển khai, song cũng vẫn còn rất nhiều cơ hội dành cho các đối tác mới. Anh/chị có thể liên hệ với chúng tôi để tìm hiểu cụ thể. Chúng tôi luôn mong muốn tạo được thuận lợi cao nhất cho các đối tác trong quá trình phối hợp. Nếu đối tác có nhu cầu tìm hiểu trước nghiệp vụ của ngành tài chính thì chúng tôi sẵn sàng phối hợp, cho phép đối tác tìm hiểu, ngay cả khi chưa ký kết hợp đồng. 

Do thời gian có hạn nên chúng tôi xin phép được tạm dừng tại đây. Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Cục Tin học và Thống kê tài chính đã dành thời gian tham gia buổi giao lưu và có những câu trả lời cụ thể, chi tiết, hấp dẫn. Đồng thời, cũng xin trân trọng cảm ơn quý vị độc giả và quý doanh nghiệp đã quan tâm tham gia diễn đàn giao lưu trực tuyến .

Quý vị nào còn có câu hỏi liên quan tới chủ đề này có thể liên hệ với Tòa soạn eFinance - Tạp chí Tài chính điện tử, 28 Trần Hưng Đạo, Điện thoại: 2220 2828 (ext: 2071); hoặc gửi email: tinhoctaichinh@mof.gov.vn , hoặc efinance@mof.gov.vn

Chúng tôi sẵn sàng chuyển câu hỏi của quý vị tới cơ quan chức năng để trả lời.

Một lần nữa, trân trọng cảm ơn và hẹn gặp lại trong những buổi giao lưu trực tuyến tới đây.

(BBT eFinance)