Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào?

Cùng với sự kiện Hội thảo - triển lãm "Ứng dụng CNTT trong lĩnh vực Tài chính - Vietnam ICT in Finance 2008" lần thứ 5 được Bộ Tài chính - Cục Tin học & Thống kê tài chính phối hợp với Tập đoàn Dữ liệu quốc tế IDG Việt Nam tổ chức tại khách sạn Melia, Hà Nội trong các ngày 18-19/9/2008.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào?

Tạp chí Tin học tài chính mời bạn đọc tham gia đặt câu hỏi cho các quan chức cấp cao từ Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới, các giám đốc tập đoàn CNTT-TT về các chủ đề:

- Hướng tới xây dựng CPĐT trong ngành tài chính

- Giám sát và quản lý thị trường tài chính

- Ngăn chặn thất thoát dữ liệu và quản trị thông tin trong ngành tài chính

- Giải pháp công nghệ thông tin cho lĩnh vực công

- Xây dựng hệ thống tương tác khách hàng và hiệu quả tùy biến

- Chứng thực điện tử và chữ ký điện tử trong ngành tài chính

- Giám sát và công bố thông tin trong chứng khoán

- Cơ chế hải quan một cửa

Trân trọng  kính mời quý vị độc giả tham gia cuộc Giao lưu trực tuyến của chúng tôi vào  9h00 sáng ngày 19/9/2008, câu hỏi gửi về cho chúng tôi tại đây. 

Trong mấy năm liên tiếp, Bộ Tài Chính luôn là một trong những cơ quan đi đầu trong việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động nghiệp vụ. Xin cho biết cụ thể hơn về hệ thống CNTT cũng như những ứng dụng mà ngành tài chính đã đầu tư và đã mang lại hiệu quả thiết thực? - (Nguyên Lưu, 35 tuổi, Nam, Hà Nội)

Ông Đặng Đức Mai - Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính, Bộ Tài chính trả lời: Cho tới thời điểm này, có thể nói Bộ Tài chính đã xây dựng được một hạ tầng kỹ thuật đáp ứng việc triển khai các ứng dụng nghiệp vụ như:

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 1

- Hình thành hạ tầng truyền thông thống nhất cho các đơn vị trong ngành tài chính với 2 Trung tâm miền (TTM) và 62 Trung tâm tỉnh (TTT). Kết nối mạng diện rộng WAN đến 64 tỉnh (tốc độ 2Mbps) và đến 100% cấp huyện của các tỉnh, thành phố (trừ hệ thống phòng tài chính). Tại các TTM và TTT đều có hệ thống thiết bị, đường truyền dự phòng mức cao. Đến nay, tất cả các ứng dụng lớn trong ngành đều chạy trên hạ tầng truyền thông.

- Tại cơ quan Bộ Tài chính và các đơn vị trực thuộc đều có đường kết nối Internet

- Hệ thống trang thiết bị và mạng cục bộ được thiết lập có cấu trúc đảm bảo tốt các dịch vụ nền tảng như hệ thống người dùng, hệ thống thư mục chuẩn đảm bảo hoạt động thường xuyên tại các đơn vị và trao đổi chung toàn ngành.

- Toàn ngành đã có 3.894 Máy chủ; 1.778 mạng LAN đáp ứng yêu cầu 100% đơn vị cấp tỉnh, huyện (Kho bạc, Hải quan, Thuế); Trang bị 54.975 máy PC đạt tỷ lệ trang bị máy PC/cán bộ trung bình là 0,86; 

- 100% hệ thống mạng đều có hệ thống kiểm soát, giám sát an ninh (firewall- bằng thiết bị phần cứng và phần mềm), hệ thống virus đảm bảo hoạt động ổn định cho hệ thống mạng tại các đơn vị trong toàn ngành.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã tiến hành xây dựng và ban hành, thống nhất sử dụng các hệ thống mã số, danh mục nhằm chuẩn hóa công tác quản lý, chuẩn hóa các dữ liệu phục vụ cho việc tập trung dữ liệu toàn ngành: mã số đối tượng nộp thuế; đơn vị sử dụng ngân sách; mục lục ngân sách nhà nước; danh mục địa bàn hành chính... Xây dựng, thu thập dữ liệu, tổ chức khai thác 5 cơ sở dữ liệu gồm:

1/ Kho cơ sở dữ liệu đối tượng nộp thuế: Lưu trữ tập trung trên 2.5 triệu đối tượng nộp thuế, với trên 100 chỉ tiêu quản lý, được cập nhật hàng ngày.

2/ Kho cơ sở dữ liệu đối tượng sử dụng ngân sách: Lưu trữ tập trung trên 77.000 đối tượng, được cập nhật hàng ngày theo yêu cầu.

3/ Kho cơ sở dữ liệu thu chi ngân sách: Số liệu Tổng quyết toán chi tiết của NSNN từ năm 1981 đến 2003 chi tiết theo Mục lục ngân sách nhà nước, số liệu Tổng quyết toán theo chỉ tiêu tổng hợp từ 1945 đến 2003.

4/ Kho cơ sở dữ liệu công sản: Số liệu tài sản hành chính sự nghiệp năm 1998; Số liệu tài sản hành chính sự nghiệp các năm 1999 và 2000 đến nay.

5/ Cơ sở dữ liệu văn bản pháp quy: Cập nhật lưu trữ trên 17.000 văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, các Bộ ngành khác. CSDL này sử dụng thường xuyên với hàng triệu lượt truy cập. 

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 2

Để phục vụ hoạt động chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Bộ, có 3 ứng dụng phục vụ cải cách hành chính đã được đưa vào áp dụng là chương trình quản lý công văn-hồ sơ công việc, quản lý cán bộ-công chức, Trang thông tin điều hành nội bộ. Thiết lập hệ thống Email toàn ngành phục vụ trao đổi thông tin nghiệp vụ. 

Ngành tài chính đã tổ chức xây dựng các chương trình ứng dụng từ những năm 1990, đến nay triển khai được 59 phần mềm ứng dụng chính  phục vụ trực tiếp các hoạt động tác nghiệp tại từng đơn vị, giải quyết trên 90% các nghiệp vụ chính, trong đó có những ứng dụng lớn như:

- Quản lý ngân sách nhà nước: xây dựng và triển khai thành công hệ thống ứng dụng quản lý ngân sách tại 100% đơn vị cấp tỉnh, Huyện; 50% đơn vị cấp xã. Hệ thống ứng dụng ngân sách phục vụ tốt các nghiệp vụ từ khâu lập, phân bổ dự toán, quản lý điều hành ngân sách, thẩm định quyết toán đơn vị, tổng hợp quyết toán ngân sách nhà nước, là một trong các nguồn cung cấp số liệu cho Cơ sở dữ liệu thu chi ngân sách của Bộ Tài chính.

- Quản lý thu ngân sách nhà nước: xây dựng và triển khai, vận hành hệ thống các ứng dụng phục vụ toàn diện công tác  quản lý công tác thu, nộp thuế: đăng ký và cấp mã số thuế, quản lý thu thuế, quản lý hóa đơn ấn chỉ. Hệ thống đáp ứng được yêu cầu về xử lý thông tin thu, nộp thuế, sử dụng tại 100% các Cục thuế, chi cục thuế. Giảm 1/2 thời gian hỗ trợ đối tượng đăng ký thuế,  góp tích cực trong cải cách hành chính thuế. Về nghiệp vụ đáp ứng 50-60% yêu cầu; các mảng thanh tra, kiểm tra thuế, đôn đốc thu nợ thuế và  phục vụ đối tượng nộp thuế bước đầu đáp ứng được những yêu cầu cơ bản, quan trọng nhất của nghiệp vụ quản lý.

- Quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ dự trữ nhà nước và các quỹ tài chính khác của nhà nước: 100% các nghiệp vụ quản lý quỹ  ngân sách nhà nước đã được ứng dụng CNTT hỗ trợ, việc theo dõi tồn quỹ ngân sách đảm bảo xử lý trong ngày. Tuy nhiên mức độ hỗ trợ chủ yếu tập trung vào những khâu xử lý tính toán trực tiếp và phân nhỏ theo từng mảng nghiệp vụ.

- Quản lý về lĩnh vực Hải quan: xây dựng cơ quan Hải quan thành một cơ quan chuyên nghiệp, hiện đại, bắt kịp trình độ phát triển của hải quan khu vực, có giải pháp công nghệ phù hợp đã bảo đảm các ứng dụng cốt lõi cho hệ thống Hải quan như: Hệ thống xử lý dữ liệu tờ khai Hải quan; Hệ thống kế toán thuế; Hệ thống quản lý hàng gia công, sản xuất xuất khẩu; hệ thống quản lý vi phạm hải quan đáp ứng được nhu cầu xử lý gia tăng khi lượng tờ khai Hải quan mỗi năm tăng bình quân đến 20%. Triển khai thí điểm thông quan điện tử tạo sự thuận lợi cho thương mại, giảm được chi phí cho doanh nghiệp đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan hải quan do tập trung xử lý được các nguồn thông tin khác nhau.

- Quản lý thị trường chứng khoán: xây dựng hệ thống phần mềm ứng dụng cho việc quản lý, giám sát công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; xây dựng hệ thống quản lý hoạt động giao dịch, lưu ký chứng khoán, giám sát và công bố thông tin tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán. Hiện tại các hệ thống đang triển khai độc lập tại Sở và các Trung tâm tạo điều kiện tốt cho hoạt động giao dịch và thanh toán, lưu ký chứng khoán được an toàn và hiệu quả. Xây dựng và đưa vào hoạt động phần mềm giám sát giao dịch, quản lý thành viên, quản lý niêm yết và thông tin thị trường đã tăng tính hiệu quả công tác quản lý và giám sát hoạt động thị trường.

- Quản lý tài chính doanh nghiệp và quản lý vốn của nhà nước tại doanh nghiệp: mới được thực hiện ở mức hỗ trợ khâu tổng hợp báo cáo thông qua chương trình tổng hợp báo cáo và chương trình kế toán doanh nghiệp.

 

Trong các hoạt động nghiệp vụ của ngành tài chính thì vai trò của kho cơ sở dữ liệu ngân sách hết sức quan trọng, xin ông cho biết rõ hơn về cơ sở dữ liệu quốc gia tài chính ngân sách và hiệu quả mà nó đem lại ? - (Trần Anh Tú, 27 tuổi, Nam, Hải Phòng)

Ông Phạm Công Minh – Phó cục trưởng, Cục Tin học và Thống kê tài chính, Bộ Tài chính trả lời:  Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính - ngân sách được Bộ Tài chính bắt đầu triển khai xây dựng đề án thiết kế khả thi từ năm 1998 trên cơ sở các yêu cầu của Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin 112. Sau khi đề án “Thiết kế khả thi CSDL quốc gia Tài chính ngân sách” được phê duyệt, từ 1999 đến nay, Cục Tin học và Thông kê tài chính đã tập trung triển khai 3 nội dung chính của đề án:

- chuẩn hoá các nguồn thông tin về tài chính, ngân sách;

- xây dựng các CSDL chủ đề cần thiết theo thứ tự ưu tiên;

- xây dựng các phần mềm ứng dụng để phục vụ khai thác các CSDL. 

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 3

Có thể đánh giá chung về các hoạt động này là đã tạo dựng được một môi trường cơ bản về CSDL trong việc thu thập và cung cấp các thông tin về tài chính ngân sách và tạo đà cho các bước phát triển tiếp theo. Cụ thể là:

- Trong công tác chuẩn hoá các nguồn thông tin, đã tổ chức nghiên cứu và xây dựng được việc cấp mã số đơn vị sử dụng ngân sách thông nhất trên toàn quốc, đã xây dựng được bộ mã các đối tượng nộp thuế, mã địa bàn hành chính, mục lục ngân sách, và đang hoàn thiện bộ mã CSDL dùng chung nhằm sử dụng thống nhất toàn bộ danh mục trong các ứng dụng về CSDL của ngành tài chính.

- Đến nay đã xây dựng được 5 CSDL chủ đề là:  CSDL thu chi ngân sách, trong đó bao gồm số liệu Tổng quyết toán chi tiết của NSNN từ 1981 đến 2003, số tổng hợp quyết toán NSNN từ 1945 đễn 2003; CSDL đối tượng nộp thuế với 1,9 triệu danh sách theo các chỉ tiêu của tờ khai thuế; CSDL đơn vị sử dụng ngân sách của trên 70.000 đơn vị và thường xuyên được cập nhật theo yêu cầu; CSDL Công sản lưu trữ số liệu kiểm kê tài sản của các đơn vị hành chính sự nghiệp năm 1998 và cập nhật đến nay; và CSDL Văn bản pháp quy lưu trữ trên 20.000 văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính và các văn bản của các Bộ ngành liên quan về lĩnh vực tài chính.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 4

Nói tóm lại, hiện nay hệ thống các cơ sở dữ liệu này đã và đang được tổ chức khai thác rộng rãi, phần nào đáp ứng được các nhu cầu về nghiên cứu của ngành.

 

Bộ Tài chính là một bộ đa ngành, vậy thì việc xây dựng kho CSDL sẽ phải có cách thức gì để vừa là kho chung, kho riêng, kho để có thể cho mọi người cùng có thể khai thác? - (Phan Minh Châu, 31 tuổi, Nữ , Hai Bà Trưng - Hà Nội)

Trả lời: Nếu hiểu một cách đơn thuần thì CSDL như một “cái kho” để tập hợp mọi dữ liệu vào đó, nhưng trên thực tế kho CSDL là tập hợp các dữ liệu được sắp xếp lại theo một trật tự được quy định riêng cho bộ dữ liệu đó, để phục vụ theo các nhu cầu nghiên cứu, phân tích hệ thống các thông tin dữ liệu trong kho một cách đa dạng. Như vậy, các cơ sở dữ liệu được hình thành trên cơ sở các ứng dụng sẽ chưa được gọi là kho dữ liệu.

Hệ thống các kho dữ liệu bao gồm 2 loại: Kho tập trung/Tổng kho (common datawarehouse) là cơ sở dữ liệu quốc gia, phục vụ cho các nhu cầu khai thác rộng rãi theo yêu cầu chung của Chính phủ; Kho chuyên ngành (profesional database/datawarehousses) là kho như: KBNN, Thuế, Hải quan, Chứng khoán Nhà nước, Dự trữ quốc gia,…

Các địa phương cũng có thể lập các kho riêng phục vụ các nhu cầu riêng của địa phương. Nhưng cần được tổ chức và quản lý theo các nguyên tắc và quy định như đối với kho chuyên ngành.  

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 5

Việc xây dựng, duy trì, cũng như khai thác các kho CSDL của ngành tài chính cũng phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định.

Nguyên tắc xây dựng các kho:

+ Các kho/cơ sở dữ liệu chuyên ngành do các đơn vị chuyên ngành chủ động xây dựng. Các đơn vị chuyên ngành nếu thấy không nhất thiết và không đủ khả năng tự xây dựng và quản lý riêng kho cho mình, thì các nhu cầu lưu trữ dữ liệu sẽ được lập theo đề án tổng thể và sắp xếp chung thành kho chủ đề của Tổng kho.

+ Kho tập trung/tổng kho được xây dựng tập trung, bao gồm hệ thống các kho chủ đề và môi trường trung gian phục vụ khai thác thông tin. Các  kho chủ đề của  tổng  kho chỉ  bao gồm các thông tin có tính chất chung mà thông thường người khai thác hay dùng và sẽ được sắp xếp lại sao cho thuận tiện cho người khai thác. Nguồn thông tin sẽ tự động lấy từ tất cả hệ thống các kho/ cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Các kho/cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã có các đơn vị chuyên ngành xây dựng thì ở Tổng kho chỉ là “bản báo cáo tổng hợp” nhằm phục vụ chung. 

Nguyên tắc lưu trữ thông tin:

+ Kho chuyên ngành: Lưu trữ các thông tin, dữ liệu phục vụ cho công tác điều hành, quản lý thường xuyên theo nghiệp vụ ngành. Nguồn thông tin: từ các chế độ báo cáo thống kê kế toán và từ các cơ sở dữ liệu tạo bởi các ứng dụng CNTT vào nghiêph vụ; từ các yêu cầu nghiệp vụ thu thập thông tin khác (mua, điều tra, …)

+ Kho chung/Tổng kho: Lưu trữ toàn bộ các thông tin mang tính tổng hợp và phổ cập trong sử dụng của các kho chuyên ngành/chủ đề cũng các cơ sở dùng chung để phục vụ cho toàn bộ các nhu cầu của mọi loại đối tượng. Nguồn thông tin: từ các chế độ báo cáo thống kê kế toán; từ các cơ sở dữ liệu tạo thành bởi các ứng dụng, cùng với thông tin tự động cập nhật từ các kho chuyên ngành và từ các yêu cầu nghiệp vụ thu thập thông tin khác (mua, điều tra, …). Có môi trường khai thác riêng phục vụ khai thác thông tin, vì thế có thể tạo các kho giả để lưu trữ các thông tin đã khai thác, nhằm phục vụ cho các đối tượng có các nhu cầu tương tự nhau.

+ Việc back up dữ liệu của tất các các loại kho sẽ được trực tiếp đối với Trung tâm dự phòng thảm hoạ chung của toàn ngành. Trước mắt trong 5  -7 năm tới khi Trung tâm này chưa hoàn thành, Bộ sẽ lập Trung tâm Dự phòng chung cùng với tổng kho dữ liệu toàn ngành. Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành sẽ back up vào Trung tâm Dự phòng này để giảm bớt mỗi nơi đều cần back up, lãng phí. 

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 6

Nguyên tắc quan hệ giữa các kho:

Các kho chuyên ngành thường xuyên cập nhật, back up thông tin tự động về Trung tâm Dự phòng thuộc Tổng kho. Việc xử lý thông tin đưa vào các kho chủ đề của Tổng kho sẽ được thực hiện tự động từ Trung tâm Dự phòng.

Tổng kho là tụ điểm giao dịch với các cơ sở dữ liệu thuộc các ngành khác và các kho quốc gia khác.  

Cơ chế tổ chức khai thác:

- Người khai thác chung sẽ được chia thành 2 loại: Đối tượng chung: chủ yếu chỉ được khai thác thông qua môi trường trung gian (middleware, web,…) của Tổng kho. Hạn chế tối đa việc cấp quyền khai thác trực tiếp trên các kho chuyên đề chứa dữ liệu gốc. Đối tượng thuộc chuyên ngành muốn khai thác theo chuyên ngành: được quyền khai thác từ các cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo nguyên tắc khai thác tổng kho nêu trên.

- Khi cần phục vụ theo chuyên đề/đề tài nghiên cứu sâu: chủ yếu sử dụng cơ chế dịch vụ hỗ trợ cung cấp thông tin.

- Phục vụ Lãnh đạo: thực hiện xây dựng chế độ các báo cáo theo yêu cầu.

Vấn đề đặt ra ở đây là: tạo môi trường hỗ trợ và phục vụ khai thác như thế nào cho đáp ứng được các yêu cầu của người khai thác, mà trước mắt là hạn chế tối đa những yếu điểm như đã chỉ ra ở phần đầu của báo cáo. Cụ thể là:

- Xác định một cách chính xác, chính thức các chủ đề tối thiểu cần thiết để xây dựng đủ hệ thống các cơ sở dữ liệu chuyên đề. Mấy năm trước đã có một dự án nghiên cứu. Tuy nhiên, nghiên cứu đó còn chưa tích hợp đầy đủ tất cả các dự án hiện đại hoá toàn ngành. Đề xuất của dự án IFMIS (Hệ thống thông tin quản lý tài chính tích hợp) cũng mới là ý tưởng chung chưa đi vào cụ thể ai sẽ/cần làm gì.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 7

- Ngay các CSDL hiện có cũng còn rất nghèo nàn về cả nội dung cũng như khối lượng dữ liệu. Chủ yếu các dữ liệu hiện có chỉ phục vụ đơn thuần cho công tác quản lý và điều hành của ngành hẹp. Vấn đề đặt ra ở đây là không chỉ từ trách nhiệm và sự quan tâm của người được gắn trách nhiệm cung cấp thông tin, mà cả từ phía những người có nhu cầu thông tin.

- Ở các địa phương đều có các nhu cầu lưu trữ thông tin riêng của mình. Vậy, có nên xây dựng cơ sở dữ liệu ở địa phương không? Nếu cần thì  nên như thế nào, hay chỉ cần khai thác qua mạng đối với CSDL chung của quốc gia/... cũng đang là vấn đề chưa có những hướng dẫn và lời giải.

- Môi trường phục vụ khai thác chưa phong phú: vừa thiếu các công cụ hỗ trợ cần thiết cho người khai thác, lại ít cả về các hình thức phục vụ. Cho đến nay lượng các công cụ phục vụ cho các hoạt động khai thác còn rất khiêm tốn. Rất ít các mô hình phục vụ công tác phân tích, nhất là phục vụ cho hoạch định và điều chỉnh chính sách. Một số đơn vị trong Bộ có đang thử nghiệm và sưu tầm các loại công cụ này, nhưng số lượng và quy mô triển khai còn rất hạn hẹp, chưa tính đến vấn đề chất lượng của các dữ liệu đầu vào ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đầu ra của các mô hình ấy.

- Về giải pháp tổ chức khai thác cơ bản hiện nay vẫn là cách truy cập trực tiếp, và lại phải có điều kiện. Truy cập trực tiếp lúc cao điểm thường dẫn đến ách tắc. Dung lượng máy chủ sau một thời gian ngắn khai thác sẽ bị đầy. Việc dọn dẹp sẽ làm mất dẫn xuất cho khai thác lần sau của người khai thác.

- Cơ chế phân quyền truy cập còn những bất cập. Tất nhiên số liệu về tài chính có những dữ liệu thuộc loại tuyệt mật của quốc gia, song lượng số đó không nhiều, còn lại số lượng lớn đều có thể cho phép khai thác rộng rãi. Vì thế, hiện tại số người có thể tham gia khai thác các CSDL Tài chính ngân sách còn rất hạn chế, nhất là các cấp lãnh đạo khi không có nhiều thời gian nghiên cứu khai thác, thì lại có quyền nhiều, trong khi đó, nhiều chuyên gia nghiên cứu lại có ít quyền truy cập. Trong xu thế công khai và minh bạch hoá, cần có cơ chế và giải pháp để phân định các dữ liệu mật thật sư, từ đó có điều kiện đem số lượng lớn có thể khai thác ấy ra phục vụ chung. 

- Các vấn đề về hỗ trợ và đảm bảo kỹ thuật cho vận hành cũng đang có những trở ngại đến các hoạt động phát triển của các CSDL. Chẳng hạn, cùng một nội dung về một chủ đề của CSDL, nhưng có nhiều đầu mối quản lý (nơi cung cấp thông tin, nơi chuyển thông tin vào CSDL, nơi quản lý máy chủ, nơi quản lý mạng,...) lại không thống nhất. Yếu tố phân tán của các dữ liệu đã lưu cũng góp phần gây chậm cho khai thác. Vấn đề dự phòng tránh rủi ro và sự cố gây mất dữ liệu, vấn đề an toàn bảo mật đối với các CSDL,…

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 8

 

Tôi nghe nói ở các nước phát triển như Mỹ chẳng hạn, người dân tự nộp các loại thuế qua mạng và nhờ có những quy định chặt chẽ và ràng buộc nên hạn chế được tình trạng chốn lậu thuế. Vậy ở nước ta hiện nay việc thực hiện kê khai thuế điện tử đã đạt được đến mức độ nào? - (Trần Ngọc Bảo Linh, 28 tuổi, Nữ, TP. Hồ Chí Minh)

Ông Nguyễn Minh Ngọc, Phó cục trưởng Cục Ứng dụng CNTT - Tổng cục Thuế trả lời: Đến nay về môi trường pháp lý, nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan như Luật Giao dịch điện tử, các Nghị định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng… và đã tương đối đầy đủ về mặt lý thuyết để thực hiện kê khai thuế điện tử ở Việt Nam. Tuy nhiên, đi sâu vào các vấn đề thì chúng ta thấy vẫn còn thiếu các quy định cụ thể, ví dụ như quy định tờ khai thuế điện tử là như thế nào (phải có mẫu để người dân nhìn thấy được), tờ khai thuế điện tử được lưu trữ và quản lý như thế nào tại cơ quan Thuế và tại Người Nộp Thuế để có thể sử dụng và đối chiếu khi cần; thủ tục để Người Nộp Thuế sử dụng phương thức kê khai thuế điện tử và việc sử dụng các giải pháp an toàn bảo mật (mật khẩu, chữ ký điện tử,…) phải được cụ thể hoá.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 9

Về Quy trình nghiệp vụ cũng cần bổ sung, sửa đổi hoặc thay thế các quy trình nghiệp vụ hiện có vì khi giao dịch điện tử sẽ có nhiều bước thực hiện sẽ không nhìn thấy được như hiện nay

Về Cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì cần xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu hoạt động liên tục 24x7tại Tổng cục Thuế và có các giải pháp đảm bảo an toàn dữ liệu, giải pháp dự phòng khắc phục sự cố để đảm bảo tính sẵn sàng cao

Cần có các tổ chức trung gian với điều kiện đảm bảo về môi trường kỹ thuật để tiếp nhận các giao dịch điện tử, chuyển đổi theo chuẩn quy định và chuyển đến cơ quan quản lý nhà nước và ngược lại. 

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 10

 

Qua xem báo, đài, tôi thấy nói nhiều đến việc doanh nghiệp kê khai thuế điện tử, nhưng chưa được rõ về mô hình này như thế nào, hơn nữa phạm vi áp dụng đến đâu? Chỉ áp dụng cho doanh nghiệp hay có liên quan đến người dân không? - (Phạm Đức Long, 41 tuổi, Nam, TP. Hồ Chí Minh)

Trả lời: Lộ trình kê khai thuế điện tử của Việt Nam dự kiến được chia thành 3 giai đoạn

Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản cho việc kê khai, tiếp nhận tờ khai thuế điện tử, xây dựng thông tư hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế, xác định điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật của cơ quan Thuế để có thể ứng dụng giao dịch thuế điện tử cả trong nội bộ ngành Thuế và các bên liên quan (Người Nộp Thuế và các có quan quản lý nhà nước, ngân hàng,…). Phạm vi thực hiện giai đoạn này dự kiến triển khai thí điểm kê khai và nhận tờ khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế môn bài và áp dụng tại 01 Cục Thuế. Thời gian dự kiến thực hiện trong 12 tháng

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 11

Giai đoạn 2: Mở rộng ra các sắc thuế khác nếu điều kiện áp dụng cho phép, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân; đồng thời xem xét khả năng triển khai giao dịch điện tử các dạng hồ sơ liên quan đến thuế. Thời gian dự kiến thực hiện trong 8 tháng

Giai đoạn 3: Nâng cấp và tích hợp và kết nối với hệ thống các Ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước để triển khai dịch vụ thanh toán điện tử cho hoạt động nộp thuế (nộp thuế điện tử) với điều kiện hệ thống Kho bạc, ngân hàng, kết nối tài chính cùng thống nhất tham gia thực hiện. 

Trong thời gian từ nay đến cuối năm 2008, Tổng cục Thuế triển khai giai đoạn 1 với phạm vi dự kiến gồm:

- Áp dụng cho tất cả các tờ khai theo Thông tư hiện hành của các sắc thuế: Thuế Giá trị gia tăng; Thuế Thu nhập doanh nghiệp; Thuế Tiêu thụ đặc biệt; Thuế Tài nguyên; Thuế Môn bài

- Áp dụng thí điểm cho các doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện kê khai thuế điện tử trên địa bàn Cục Thuế thí điểm (doanh nghiệp chỉ kê khai thuế điện tử, không nộp tờ khai giấy), sau đó sẽ mở rộng phạm vi tuỳ thuộc vào điều kiện cơ sở hạ tầng

- Xây dựng hệ thống ứng dụng CNTT tập trung tại Tổng cục Thuế (phần cứng, phần mềm, an toàn bảo mật,...) để kê khai và tiếp nhận tờ khai thuế

- Xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin xử lý dữ liệu tờ khai thuế điện tử được triển khai tại Tổng cục để chuyển/trao đổi dữ liệu với Cục Thuế thông qua hạ tầng truyền thông ngành Tài chính. 

Như vậy có thể nói, trước mắt việc kê khai thuế điện tử mới chỉ thí điểm đối với doanh nghiệp.

 

Xin cho biết công việc chuẩn bị cho kê khai thuế điện tử thì công việc cụ thể là gì? Hệ thống ứng dụng CNTT phục vụ kê khai thuế điện tử của ta đã đáp ứng yêu cầu chưa? - (Hứa Quang Bình, 35 tuổi, Nam, TP.Đà Nẵng)

Trả lời: Các hoạt động chính để chuẩn bị thí điểm kê khai thuế điện tử không chỉ bó gọn trong việc chuẩn bị hệ thống công nghệ mà còn bao gồm rất nhiều phần việc:

Xây dựng kế hoạch và phân tích thiết kế: Khảo sát, phân tích yêu cầu nghiệp vụ; Thiết kế tổng thể hệ thống kê khai thuế qua mạng; Thiết kế và xây dựng ứng dụng tiếp nhận, lưu trữ tờ khai thuế điện tử; Đề xuất hệ thống thiết bị phần cứng, an ninh hệ thống phù hợp với thực tế

Tư vấn xây dựng căn cứ pháp lý: Thuê tư vấn xây dựng các căn cứ pháp lý để triển khai thành công các giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế

Xây dựng ứng dụng và tổ chức triển khai: Xây dựng chuẩn giao tiếp và định dạng chuẩn giao tiếp thông tin nghiệp vụ về thuế; Xây dựng hệ thống quản lý người dùng tập trung; Xây dựng ứng dụng kê khai thuế điện tử; Cung cấp định dạng để ứng dụng Quản lý thuế Cục Thuế có thể nâng cấp để nhận dữ liệu từ tờ khai điện tử; Lựa chọn doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia thí điểm kê khai thuế qua mạng Internet. 

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 12

Hệ thống ứng dụng phải được thiết kế theo mô hình kiến trúc hướng dịch vụ (SOA), có hệ thống trao đổi dữ liệu trong phạm vi ngành Thuế; Tích hợp dữ liệu về đăng ký thuế, kê khai nộp thuế và cung cấp dữ liệu tờ khai thuế điện tử cho ứng dụng quản lý thuế có thể nâng cấp để nhận và xử lý

Hệ thống cũng phải đảm bảo an toàn, bảo mật tờ khai thuế điện tử, dữ liệu kê khai thuế để phân xử được khi có tranh chấp xảy ra.

 

Doanh nghiệp chúng tôi đang có hướng mở rộng thị trường ra nước ngoài, xin cho biết rõ hơn về khái niệm cơ chế một cửa (Single Windows - SW)? Việt Nam đã có SW chưa? - (Đinh Trần Anh Tuấn, 39 tuổi, Nam, TP. Hồ Chí Minh)

Ông Phạm Duyên Phương, Ban Cải cách - Hiện đại hóa Hải quan, Tổng cục Hải quan trả lời:

SW được định nghĩa là một công cụ tạo thuận lợi (facility) cho phép các Bên tham gia vào hoạt động thương mại và vận tải gửi chứng từ và thông tin đã được chuẩn hóa tới một điểm tiếp nhận duy nhất (single entry point) để đáp ứng tất cả các quy định dành cho các hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh. Nếu thông tin được nộp dưới dạng điện tử thì mỗi tiêu chí thông tin chỉ nên được nộp/gửi một lần.

Nhằm hiện thực hóa việc xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN, tháng 10/2003, tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 9 các quốc gia ASEAN tổ chức tại Bali, Indonesia, các nước thành viên đã nhất trí thiết lập cơ chế một cửa ASEAN để thúc đẩy việc thông quan hàng hóa xuất khẩu/nhập khẩu với mục đích giảm thời gian thông quan trung bình cho các lô hàng xuất khẩu/nhập khẩu trong các nước ASEAN xuống còn 30 phút.

Ngày 9/12/2005, tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 11 các quốc gia ASEAN tổ chức tại Kuala Lumpur, Malaysia, Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN đã thay mặt  Chính phủ các nước thành viên ký kết Hiệp định về xây dựng và triển khai cơ chế một cửa ASEAN. Theo cam kết tại Hiệp định, 6 nước thành viên ASEAN bao gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan sẽ triển khai cơ chế một cửa quốc gia vào năm 2008; bốn nước thành viên còn lại bao gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam sẽ triển khai cơ chế một cửa quốc gia vào năm 2012; cơ chế một cửa của mười nước thành viên sẽ kết nối với nhau để tạo nên môi trường một cửa ASEAN vào năm 2012.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 13

Ngày 30/10/2007, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã ký văn bản số 1621/TTg-QHQT thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Hiệp định và Nghị định thư về xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN và "giao Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) là cơ quan đầu mối quốc gia, chủ trì và phối hợp với các Bộ., cơ quan liên quan để triển khai thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN theo yêu cầu của Hiệp định và Nghị định thư".

 

Xin ông cho biết, để triển khai SW, Việt Nam đã hội đủ những yếu tố cần thiết chưa? - (Đặng Minh Ngọc, 29 tuổi, Nữ, Quảng Ninh)

Trả lời: Từ kinh nghiệm của các nước đã và đang triển khai cơ chế một cửa, đối chiếu với thực tiễn của Việt Nam, có thể đưa ra một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành công của việc triển khai cơ chế một cửa, bao gồm:

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 14

- Ý chí và sự quyết tâm về mặt chính trị.

- Cơ quan đầu mối có đủ tiềm lực.

- Mối liên hệ chặt chẽ giữa cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ.

- Xác định đầy đủ và rõ ràng phạm vi và mục tiêu khi triển khai cơ chế một cửa.

- Môi trường pháp lý đủ điều kiện để triển khai cơ chế một cửa.

- Áp dụng các chuẩn mực và khuyến nghị quốc tế.

- Xác định rõ các trở ngại có thể xuất hiện và cần phải giải quyết khi triển khai cơ chế một cửa.

- Hệ thống tài chính, ngân hàng vận hành trên một mô hình tốt (hệ thống thanh toán và luân chuyển tiền tệ liên quan đến thông quan hàng hóa và các dịch vụ thanh toán khác trong chuỗi cung ứng).

- Nguồn lực tài chính đủ mạnh để triển khai.

- Chiến lược tuyên truyền.

- Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông. 

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 15

Để đảm bảo thành công cho triển khai cơ chế một cửa, có thể thấy những vấn đề mang tính cơ bản mà chúng ta cần phải giải quyết, đó là:

- Xây dựng và hoàn thiện bộ máy chỉ đạo quốc gia để triển khai cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN.

- Xây dựng kế hoạch triển khai SW quốc gia với tầm nhìn, mục tiêu và các hoạt động với các mốc thời gian cụ thể cho từng năm từ nay đến 2012 (có thể đến 2015).

- Tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa hệ thống hồ sơ, chứng từ phục vụ thông quan hàng hóa hướng tới xây dựng bộ hồ sơ hành chính duy nhất phục vụ thông quan hàng hóa.

- Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin giữa các cơ quan chính phủ tham gia SW.

- Tái thiết kế quy trình tiếp nhận, xử lý và ra quyết định của các cơ quan chính phủ tham gia SW hướng tới xây dựng hệ thống các quy trình mẫu duy nhất dành cho các cơ quan chính phủ.

- Xây dựng hành lang pháp lý cho SW.

- Chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật và xây dựng hệ thống thông tin cho SW.

 

Xin cho biết vai trò của công nghệ thông tin trong triển khai SW? - (Phan Minh Vương, 31 tuổi, Nam, Minh Khai, Hà Nội)

Trả lời: Có thể xác định công nghệ thông tin và truyền thông là một trong những trụ cột để triển khai thành công cơ chế một cửa. Những thách thức mà các cơ quan chính phủ phải đối mặt trong lĩnh vực này bao gồm:

- Xây dựng hạ tầng CNTT và truyền thông (bao gồm: mạng; hệ thống phần cứng, các công cụ đảm bảo an ninh, an toàn; chữ ký số và chứng thực điện tử; các công cụ cho phép tìm vết, xác minh chứng cứ điện tử, xuất trình chứng cứ điện tử ...): Một số giải pháp đã được triển khai và ngày càng hoàn thiện (VD: hạ tầng truyền thông, các hệ thống phần cứng ngày càng mạnh, các hệ thống lưu trữ....), tuy nhiên một số vấn đề mới chỉ được giải quyết về mặt pháp lý và trên lý thuyết nhưng chưa được triển khai trên thực tế hoặc mới chỉ dừng ở mức thí điểm (VD: chữ ký số, chứng thực điện tử,...).

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 16

- Điện tử hóa hệ thống chứng từ, hồ sơ: công việc này đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều nội dung bao gồm (i) tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa các chỉ tiêu thông tin trên hệ thống chứng từ, hồ sơ; (ii) nghiên cứu các chuẩn mực về xây dựng các thông điệp dữ liệu đang được sử dụng trong cộng đồng doanh nghiệp cũng như trong các cơ quan chính phủ (VD: UN/EDIFACT, UNeDocs, RosettaNet, ebXML....); (iii) nghiên cứu các bộ mã chuẩn được khuyến nghị sử dụng trong thương mại quốc tế... Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, sự hiểu biết của các cơ quan chính phủ về hệ thống các chuẩn mực này vẫn còn hết sức hạn chế.

- Xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kỹ thuật: hiện tại vẫn chưa có hệ thống các chuẩn mực kỹ thuật cho hệ thống thông tin để triển khai cơ chế một cửa nói riêng và hệ thống chuẩn mực kỹ thuật cho hệ thống thông tin của các cơ quan chính phủ nói chung.

- Phát triển các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến trao đổi dữ liệu, chứng thực điện tử, chuyển đổi dữ liệu...: việc phát triển các tổ chức cung cấp dịch vụ là hết sức cần thiết để hỗ trợ các cơ quan chính phủ trong việc đảm bảo sự thông suốt của việc thực hiện các thủ tục hành chính trong bối cảnh các cơ quan chính phủ không thể đầu tư đủ nguồn lực để đảm bảo tất cả các công đoạn của thủ tục hành chính.

- Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cho triển khai cơ chế một cửa: hệ thống thông tin này không những chỉ phục vụ cho triển khai cơ chế một cửa quốc gia mà còn phải đáp ứng các chuẩn mực khu vực để tham gia cơ chế một cửa ASEAN.


 

Trong thời gian qua, hoạt động TTCK có nhiều vẫn đề phải bàn, thậm chí còn để xảy ra những vụ việc nghiêm trọng như giao dịch nội gián, thao túng thị trường… vậy khả năng giám sát của chúng ta đến đâu? Xin cho biết mô hình hệ thống giám sát thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay? Hệ thống giám sát này hiện hoạt động như thế nào? - (Trương Minh Cường, 35 tuổi, Nam, Ngọc Khánh, Hà Nội)

Trả lời (ông Trần Đình Quốc, Phó giám đốc Trung tâm Tin học - UBCK Nhà nước): Hiện nay mô hình hệ thống giám sát TTCK gồm 2 cấp:

Cấp thứ nhất: Giám sát tại Sở GDCK/Trung tâm GDCK (giám sát giao dịch; giám sát các CTCK thành viên, công ty niêm yết tuân thủ các quy định do SGDCK và TTGDCK ban hành).

Cấp thứ hai là giám sát tại UBCKNN: giám sát sự tuân thủ của mọi thành viên thị trường đối với Luật Chứng khoán và các văn bản dưới luật. 

Công tác báo cáo của UBCKNN hiện nay chủ yếu dựa trên trao đổi công văn và các cách thức làm việc bán thủ công để báo cáo thông tin. Các báo cáo từ các tổ chức chịu giám sát được gửi đến UBCKNN bằng văn bản hoặc E-mail, được sao chép vào hệ thống cơ sở dữ liệu dạng Excel.

Hiệu lực và hiệu quả giám sát của cả 2 cấp này còn chưa cao vì giữa 2 cấp giám sát chưa hình thành một quy trình giám sát đồng bộ, chưa có sự phân định rõ ràng về phạm vi, trách nhiệm và thẩm quyền của từng cấp.

- Hệ thống giám sát tại SGDCK/ TTGDCK chưa đủ mạnh. Công tác giám sát thị trường còn thủ công hoặc bán tự động.

- Giám sát của UBCK chủ yếu dựa trên những báo cáo định kỳ và bất thường của SGDCK, TTGDCK. Việc theo dõi, phân tích và điều tra về những diễn biến giao dịch bất thường còn hạn chế. Việc thanh tra và xử lý những vụ việc nghiêm trọng như giao dịch nội gián, thao túng thị trường chủ yếu xuất phát từ các khiếu nại, tố cáo.

- Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện còn dàn trải, chưa mang tính tổng thể, nhiều khi có tình trạng quá tải khiến chất lượng, hiệu quả giám sát không đạt được kết quả mong muốn.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 17

Có thể nói chúng ta chưa có hệ thống công bố thông tin và giám sát thị trường đủ mạnh và hiệu quả tại UBCKNN.

 

Vậy liệu có cách gì để sớm khắc phục những hạn chế mà ông vừa đề cập? - (Trương Minh Cường, 35 tuổi, Nam, Ngọc Khánh, Hà Nội)

Trả lời: Thứ nhất, chúng tôi sẽ hoàn thiện khung pháp lý. Cụ thể sẽ hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy như xây dựng các Quy chế giám sát giao dịch, giám sát tuân thủ của SGDCK, TTGDCK, TTLKCK và Quy chế phân định chức năng giám sát giữa các đơn vị thuộc UBCKNN nhằm tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh về giám sát; là cơ sở để công tác giám sát thị trường đạt được hiệu quả cao...

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 18

Thứ 2 là sẽ hoàn thiện mô hình hệ thống giám sát TTCK Việt Nam:

- Xây dựng quy trình giám sát đồng bộ, nhất quán.

- Phân định cụ thể chức năng giám sát giữa các đơn vị trong UBCKNN, đề ra cơ chế phối hợp hiệu quả...

Thứ 3 là hiện đại hóa hệ thống công bố thông tin và giám sát TTCK.

Hệ thống công bố thông tin và giám sát thị trường cần được trang bị với hạ tầng kỹ thuật, công nghệ hiện đại, bảo mật tốt, đảm bảo các định dạng báo cáo phù hợp; có khả năng hỗ trợ người lập báo cáo và nộp báo cáo vào hệ thống; hỗ trợ công tác kiểm tra và phân tích, tìm kiếm dữ liệu nhanh chóng và chính xác;

Hệ thống công bố thông tin và giám sát thị trường tại UBCKNN, hệ thống giám sát tại SGDCK, TTGDCK cần được tích hợp với hệ thống giao dịch điện tử. Việc giám sát cần được thực hiện theo cả 2 cách trực tuyến và không trực tuyến.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 19

Hệ thống giao dịch và lưu ký chứng khoán phải thống nhất, đồng bộ, đảm bảo tính hiện đại, tự động, thông suốt, kết nối các chủ thể có liên quan nhằm phục vụ cho mục tiêu quản lý, giám sát.

 

Xin được hỏi thêm về Hải quan một cửa Single Windows (SW), đối với Việt Nam, chúng ta phải đối mặt với thách thức và khó khăn gì? - (Hồng Hà, 32 tuổi, Nữ, Hà Nội)

Ông Nguyễn Mạnh Tùng – Phó trưởng ban cải cách và hiện đại hóa Hải quan - Tổng cục Hải quan trả lời: Các bộ ngành có hệ thống thông tin mạnh yếu khác nhau, cơ chế chia sẻ thông tin giữa các bộ ngành không liên thông, thêm vào đó là sự thiếu nghiêm trọng nguồn nhân lực có chất lượng cao, đó chính là những khó khăn lớn nhất khi chúng ta triển khai SW. Đó cũng chính là lý do vì sao phải triển khai SW thí điểm trước, sau đó mới nhân rộng.

 

Hải quan điện tử có vai trò gì trong SW? Hiện nay, thủ tục hải quan thủ công vẫn là chủ yếu, vẫn còn tình trạng cán bộ hải quan sách nhiễu doanh nghiệp, cán bộ hải quan “ngại” đổi mới … Vậy liệu việc triển khai sw có khắc phục được những tình trạng đó không? - (Nguyễn Thanh Thảo, 30 tuổi, Nam, Kim Mã, Hà Nội)

Trả lời: Hải quan điện tử chỉ là nền tảng của SW, là điều kiện cần nhưng chưa đủ vì triển khai SW liên quan đến nhiều bộ ngành tham gia cải cách trong việc cấp phép. Ở các nước, giai đoạn 1 triển khai hải quan điện tử mới chỉ là kết nối trong ngành hải quan mà chưa kết nối với SW.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 20

Như chúng ta đã biết, khi triển khai thủ tục hải quan thủ công thì sẽ thiếu nhất quán và minh bạch bởi nó chủ yếu dựa vào quyết định cá nhân. Còn khi triển khai SW, mọi vấn đề đều được xử lý hoàn toàn trên hệ thống điện tử và tự động hóa nên không phụ thuộc vào cá nhân ai. Như vậy sẽ khắc phục được những tiêu cực do con người gây nên. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một phần, việc triển khai SW có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa.

 

Hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam đang gặp khó khăn, xin hỏi Ủy ban Chứng khoán, điều này có ảnh hưởng đến kế hoạc đầu tư cho CNTT không? - (Thu Hiền, 35 tuổi, Nữ, Hải Phòng)

Ông Trần Đình Quốc (Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước) trả lời: Đúng là hiện nay TTCK nước ta đang khó khăn nhưng tôi tin rằng đây chỉ là tạm thời và ngắn hạn, trong thời gian tới TTCK VN sẽ vượt qua khó khăn và phát triển.  UBCK sẽ tiếp tục đầu tư mạnh vào CNTT, nó thể hiện rõ trong kế hoạch ứng dụng CNTT 2008 – 2010 đã báo cáo Bộ Tài chính. Lĩnh vực mà chúng tôi tiếp tục đầu tư là cơ sở hạ tầng, phần mềm hệ thống có bản quyền, về an toàn bảo mật. Hiện nay Sở GDCK HCM là chủ đầu tư xây dựng hệ thống CNTT hiện đại nhằm áp dụng cho cả hai sàn tại Hà nội và T.p HCM. Đối với hệ thống giám sát tại tại sàn giao dịch chúng tôi dự kiến đấu thầu quốc tế. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ xây dựng một trung tâm dự phòng thảm họa.

 

Tình trạng chung hiện nay là rất thiếu nhân lực CNTT. Xin cho biết ngành Tài chính có đối sách gì cho vấn đề này? - (Vũ Hưng, 29 tuổi, Nam, Mai Động, Hà Nội)

ông Đặng Đức Mai - Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính trả lời: trong bối cảnh khó khăn chung về nguồn nhân lực CNTT hiện nay, đặc biệt là tình trạng chảy máu chất xám từ các cơ quan nhà nước, cá nhân tôi cho rằng ngành tài chính cần phải nâng cao năng lực và cách làm việc chuyên nghiệp cho đội ngũ nhân viên CNTT hiện tại của ngành. Đồng thời hướng tới việc thuê dịch vụ bên ngoài để hỗ trợ dần các mảng dịch vụ trong ngành tài chính, như hỗ trợ bảo hành bảo trì (đặc biệt là bảo trì) và hỗ trợ người sử dụng, kể cả thuê các công ty bên ngoài trong lĩnh vực an toàn bảo mật.

 

Bộ Tài chính là bộ đa ngành, đa lĩnh vực, vậy mặt bằng ứng dụng CNTT có đồng bộ không? - (Mai Tuấn Anh, 33 tuổi, Nam, Thụy Khuê, Hà Nội)

Ông Đặng Đức Mai - Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính trả lời: Từ khi bắt đầu đưa CNTT vào ứng dụng từ năm 1989 đến nay, toàn ngành tài chính đã đạt được rất nhiều kế quả đáng khích lệ. Cho đến nay, trên 90% nghiệp vụ chính của ngành đã được ứng dụng CNTT. Đặc biệt, ngành tài chính đã xây dựng được một hạ tầng truyền thông thống nhất quy mô: Kết nối băng rộng từ Trung ương tới các đơn vị trong ngành đến tận cấp quận huyện. Chúng tôi đã thiết lập được 3.541 kênh truyền (MPLS và leased-line) từ trung ương đến tất cả các địa phương.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 21

Về trang thiết bị, chúng tôi đã thiết lập mạng LAN đến 95% đơn vị cấp huyện, trong đó trang bị 3894 máy chủ (tăng 46% so với 2006 và 53% so với 2005) ;  54.975 máy trạm (tăng 42% so với năm 2006 và 64 % so với năm 2005) ; 21.939 máy in các loại (tăng 25,8% so với 2006 và 26,6 % so với 2005).

Chúng tôi cũng đã xây dựng, thu thập dữ liệu, tổ chức khai thác 5 cơ sở dữ liệu tài chính – ngân sách, bao gồm Kho cơ sở dữ liệu đối tượng nộp thuế (2,5 triệu); kho cơ sở dữ liệu đối tượng sử dụng ngân sách; kho cơ sở dữ liệu thu chi ngân sách; kho cơ sở dữ liệu công sản; cơ sở dữ liệu văn bản pháp quy.

Toàn ngành hiện có 6.300 cán bộ tham gia vào công tác triển khai ứng dụng tin học, trong đó có 3.144 là cán bộ tin học (chiếm 4,9% tổng số cán bộ toàn ngành), còn lại là cán bộ kiêm nhiệm.

 

Hiện nay hoạt động ứng dụng CNTT của ngành tài chính còn tồn tại những mặt hạn chế gì? - (Vương Bích Hằng, 35 tuổi, Nữ, Hào Nam, Hà Nội)

Trả lời: Về xây dựng văn bản chính sách thì các văn bản quy định về CNTT trong ngành tài chính chủ yếu là tự xây dựng, quy định trực tiếp vào các lĩnh vực triển khai CNTT của ngành do hiện nay Chính phủ, Bộ TTTT chưa có văn bản quy định rõ ràng. Các quy định có tính đồng bộ chưa cao, chế tài thấp.

Các quy định hiện nay chưa đáp ứng được việc tăng cường phân cấp trong triển khai CNTT toàn ngành, thiếu các quy định về định mức, về quản lý đầu tư CNTT.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 22

Về xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì đầu tư chưa tính đến việc dự phòng, và đảm bảo cho hệ thống hoạt động 24/24. Việc đầu tư cũng chưa đồng bộ giữa các đơn vị trong ngành: Thuế, Hải quan được đầu tư rất lớn, trong khi dự trữ, Sở Tài chính đầu tư rất thấp.

Hệ thống ATBM vẫn chỉ dựa trên các hệ thống phần cứng chưa có một hệ thống tổng thể về an toàn bảo mật thông tin về chính sách, phần mềm.

Về xây dựng hệ thống ứng dụng: Hệ thống Mail, trang điện tử được phát triển sớm nhưng chưa cập nhật công nghệ kịp thời. Việc cung cấp các dịch vụ công, các trang tin điện tử, Website mới dừng ở mức cung cấp thông tin, thử nghiệm dịch vụ, các diễn đàn trao đổi góp ý

Về triển khai ứng dung thì còn thiếu các ứng dụng tổng hợp, phân tích toàn ngành; chưa hỗ trợ được các khâu thanh tra, kiểm tra; thiếu tính liên kết trao đổi dữ liệu;

Hệ thống CSDL đã được xây dựng, tuy nhiên chưa có ứng dụng phân tích, tổng hợp số liệu từ các CSDL

Về nguồn nhân lực CNTT, đội ngũ cán bộ CNTT tại các STC địa phương chưa ổn định, không đáp ứng được yêu cầu triển khai các hệ thống từ TW, và trao đổi dữ liệu ngang cấp trên địa bàn.

 

Mục tiêu quan trọng nhất mà hoạt động ứng dụng CNTT của ngành tài chính hướng đến trong thời gian tới là gì? - (Phạm Hoàng Nam, 36 tuổi, Nam, Hà Nội)

Trả lời: Từ nay đến 2010, chúng tôi sẽ tập trung đẩy mạnh ứng dụng CNTT hơn nữa. Trước hết chúng tôi sẽ tập trung ứng dụng CNTT nhằm nâng cao năng lực quản lý điều hành. Theo đó, chúng tôi sẽ tập trung xây dựng hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành, hỗ trợ ra quyết định và hoạch định chính sách của các cấp lãnh đạo toàn ngành.

Việc trao đổi thông tin, giao dịch giữa các đơn vị thuộc Bộ được lưu chuyển trên mạng, giảm thiểu sử dụng giấy tờ, thiết lập hệ thống Giao ban điện tử

Đào tạo và xây dựng đội ngũ chuyên gia tin học giỏi về nghiệp vụ tài chính, chuyên sâu về tin học, có khả năng hoạch định chiến lược tin học hoá. Ổn định và thống nhất mô hình tổ chức tin học và thống kê toàn ngành.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 23

Thứ 2 là phục vụ người dân và doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ xây dựng và triển khai Cổng thông tin điện tử có đầy đủ thông tin về: pháp luật, chính sách, quy định, thủ tục hành chính, quy trình làm việc, các dự án đầu tư, đấu thầu, mua sắm, thông tin hoạt động của Bộ Tài chính và các đơn vị trực thuộc (Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Kho bạc Nhà nước, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Cục Dự trữ quốc gia)... Và triển khai ít nhất 5 dịch vụ công trực tuyến (mức độ từ 3 - 4 theo định nghĩa của MIC) trên Cổng thông tin điện tử phục vụ người dân và các đối tượng phục vụ của ngành. Những dịch vụ hành chính công sẽ được cung cấp bao gồm: Tư vấn thủ tục hải quan qua mạng; Dịch vụ tra cứu mã số hàng hóa và thuế xuất nhập khẩu; Khai hải quan điện tử; Hỗ trợ kê khai Thuế điện tử, tra cứu đối tượng nộp thuế; Cấp mã số ngân sách qua mạng; Đăng ký tài sản công qua mạng.

Thứ 3 là xây dựng nền tảng cho Chính phủ điện tử. Ngành tài chính sẽ tiếp tục nâng cấp, mở rộng hạ tầng cơ sở kỹ thuật. Bổ sung, hiện đại hóa trang thiết bị tin học: 100% cán bộ nghiệp vụ được trang bị máy tính, 100% đơn vị cấp tỉnh và quận, huyện được lắp đặt mạng cục bộ và kết nối trực tuyến băng thông rộng

Nâng cấp và hoàn thiện năng lực hệ thống mạng truyền thông  đảm bảo kết nối thông suốt trung ương-tỉnh-huyện phục vụ tốt cho các ứng dụng  giai đoạn tích hợp và xử lý tập trung

Chúng tôi cũng sẽ xây dựng các hệ thống ứng dụng tích hợp: hệ thông tin quản lý Ngân sách-Kho Bạc (TABMIS); hệ thống thông tin quản lý thuế tích hợp (ITAIS); hệ thống thông tin quản lý hải quan (VCIS); hệ thống thông tin Thống kê và dự báo tài chính quốc gia (SFSS), hệ thống quản lý thông tin dự trữ quốc gia, hệ thống quản lý và giám sát thị trường chứng khoán

Chúng tôi cũng sẽ nâng cấp 5 cơ sở dữ liệu đã xây dựng và xây dựng mới 7 CSDL gồm: CSDL Quản lý giá, CSDL về đầu tư xây dựng cơ bản, CSDL về hàng hoá xuất nhập khẩu, CSDL Quản lý nợ công và CSDL chuyên ngành về dự trữ quốc gia, CSDL về công ty đại chúng và CSDL về giao dịch trên thị trường Chứng khoán.

 

Để thực hiện được những mục tiêu mang tầm quốc gia kể trên, ngành tài chính sẽ tập trung vào những giải pháp gì? - (Lương Thị Quỳnh Lan, 30 tuổi, Nữ, Hà Nội)

Trả lời: Trước hết, chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý (chính sách, cơ chế và Kế hoạch) để đẩy nhanh tiến độ triển khai các hệ thống ứng dụng.

Thứ 2 là tiếp tục đầu tư đồng bộ, kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả các dự án CNTT.

Thứ 3 là tập trung nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ triển khai.

Chúng tôi sẽ áp dụng các kỹ năng quản lý dự án trong việc phối hợp đồng bộ các nguồn lực trong triển khai.

Bên cạnh đó, chúng tôi tiếp tục đề cao sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo các cấp, phân cấp trách nhiệm trong tổ chức chỉ đạo và giám sát chặt quá trình thực hiện.

Ngành Tài chính sẽ xây dựng chính phủ điện tử như thế nào? ảnh 24

Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính Đặng Đức Mai:  

Mặc dù thời gian giao lưu trực tuyến có hạn, nhưng chúng tôi đã cố gắng trả lời được phần lớn các câu hỏi của quý độc giả.

Những câu hỏi chưa được đăng tải lên diễn đàn hôm nay, chúng tôi sẽ có trách nhiệm trả lời theo địa chỉ email của quý độc giả.

Xin thay mặt hệ thống tin học ngành Tài chính cảm ơn các độc giả đã quan tâm theo dõi và nhiệt tình đặt các câu hỏi giao lưu, đối thoại trực tuyến với chúng tôi hôm nay. 

Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục tăng cường các cuộc giao lưu với độc giả trên diễn đàn của Website eFinance để có thể giải đáp sớm nhất những vấn đề mà độc giả quan tâm. 

Để nhận được câu trả lời liên quan tới chủ đề này, quý độc giả có thể tiếp tục gửi câu hỏi cho Ban Biên tập Website eFinance - Tạp chí Tin học Tài chính, địa chỉ: phòng 2.19 Toà nhà Bộ Tài chính 28 Trần Hưng Đạo - Hà Nội, Điện thoại: 220 2828 (ext: 2074); hoặc qua email: tinhoctaichinh@mof.gov.vndinhbachhuong@mof.gov.vn