Áp dụng quản lý tuân thủ: Doanh nghiệp lợi đủ đường

(eFinance Online) - Tại buổi họp báo chuyên đề sáng nay (28/10) do Tổng cục Hải quan tổ chức, ông Bùi Thái Quang, Phó Cục trưởng, Cục Quản lý rủi ro cho biết: Áp dụng quản lý tuân thủ doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) sẽ được lợi nhiều thứ.  
Ông Bùi Thái Quang, Phó Cục trưởng, Cục Quản lý rủi ro - Tổng cục Hải quan chủ trì buổi họp báo. Ảnh: Phượng Diễm.Ông Bùi Thái Quang, Phó Cục trưởng, Cục Quản lý rủi ro - Tổng cục Hải quan chủ trì buổi họp báo. Ảnh: Phượng Diễm.

Quản lý tuân thủ là gì? 

Về bản chất, quản lý tuân thủ không phải là một khái niệm mới trong quản lý nhà nước nói chung, cũng như quản lý hải quan nói riêng, mà được hiểu là sự quản lý hướng đến sự chấp hành pháp luật của các đối tượng quản lý. 

Giờ đây, hải quan phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thương mại trong khi vẫn phải duy trì kiểm soát đối với hàng hoá, người và phương tiện vận tải di chuyển quốc tế. Để đạt được sự cân bằng giữa các mục tiêu này, hải quan phải chuyển từ các cách thức kiểm soát truyền thống sang sử dụng tư duy và phương pháp mới cho thực thi nhiệm vụ của mình.

Nhiệm vụ của cơ quan hải quan là phải hướng đến sự cân bằng lợi ích hợp lý giữa việc đảm bảo tuân thủ với việc giảm thiểu sự gián đoạn trong thương mại, giảm chi phí cho thương mại hợp pháp và giảm chi phí xã hội. Điều này sẽ có thể đạt được khi hải quan triển khai áp dụng phương pháp quản lý tuân thủ dựa trên quản lý rủi ro. Một đặc điểm quan trọng của phương pháp này là tích cực "định hướng" cộng đồng kinh doanh đến với việc tuân thủ tự nguyện (rủi ro thấp), để dành nguồn lực cho việc kiểm soát các đối tượng rủi ro cao.

Quản lý tuân thủ hiện đại dựa trên quản lý rủi ro được xây dựng trên một số yếu tố cơ bản. Các yếu tố này có thể được phân thành bốn nhóm chính: khung pháp lý; quản lý rủi ro; quản lý hành chính, và khung kỹ thuật công nghệ mà cơ quan hải quan sử dụng. Nói chung, cả bốn nhóm này đều thể hiện tính chất cơ bản quyết định của cách thức mà hàng hóa, hành khách và phương tiện vận tải được đưa qua biên giới và phương thức kiểm soát hải quan đối với dòng chảy đó.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng gần 60.000 doanh nghiệp thường xuyên có hoạt động XNK. Để quản lý tuân thủ đối với các doanh nghiệp này, cơ quan hải quan phải tổ chức quản lý hệ thống thông tin về doanh nghiệp, hoạt động của doanh nghiệp cũng như quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp. Hàng năm, ngành Hải quan phân cấp nhiệm vụ cho các đơn vị có trách nhiệm thu thập, cập nhật bổ sung các thông tin mới về doanh nghiệp vào hồ sơ doanh nghiệp. Việc thu thập thông tin này được thực hiện dựa trên nhu cầu thông tin phục vụ đánh giá tuân thủ và phân loại rủi ro doanh nghiệp.

Theo Luật Hải quan quy định, Bộ Tài chính có trách nhiệm ban hành bộ tiêu chí đánh giá tuân thủ và phân loại rủi ro doanh nghiệp; trên cơ sở Bộ tiêu chí này, Tổng cục Hải quan xây dựng và ban hành bộ chỉ số để cụ thể hóa hơn nữa các tiêu chuẩn, thông tin cho việc đánh giá tuân thủ và phân loại rủi ro doanh nghiệp.

Thời gian qua, cơ quan hải quan thực hiện đánh giá phân loại 03 nhóm doanh nghiệp để phục vụ áp dụng chính sách quản lý hải quan, gồm: Doanh nghiệp ưu tiên; doanh nghiệp tuân thủ; doanh nghiệp không tuân thủ.

Kết quả đánh giá tuân thủ doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với việc cơ quan hải quan tập trung áp dụng biện pháp kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải của doanh nghiệp. Cơ quan hải quan sẽ thực hiện kiểm tra với mức độ kiểm tra cao đối với hàng hóa, phương tiện vận tải của doanh nghiệp không tuân thủ. Ngược lại, doanh nghiệp tuân thủ được áp dụng tỷ lệ kiểm tra rất thấp, đảm bảo thông quan nhanh chóng, thuận lợi.

Mặt khác, doanh nghiệp tuân thủ còn có cơ hội hợp tác với cơ quan hải quan, được cơ quan hải quan hỗ trợ về thông tin, kiểm soát hệ thống nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế áp dụng đối với hàng hóa, phương tiện vận tải của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp hưởng lợi gì từ quản lý tuân thủ?

Theo ông Bùi Thái Quang, đối với doanh nghiệp tuân thủ, trên cơ sở kết quả đánh giá tuân thủ, các doanh nghiệp thuộc diện này sẽ được ưu tiên như sau: Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin liên quan đến việc đánh giá tuân thủ pháp luật hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật. Nội dung này được quy định tại khoản 3 Điều 8 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính. Được giảm tỷ lệ kiểm tra trực tiếp hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015. 

Trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan, việc kiểm tra đánh giá tuân thủ pháp luật của người khai hải quan theo khoản 3 Điều 78 Luật Hải quan được thực hiện không quá 5% trên tổng số doanh nghiệp tuân thủ theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015. Trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ, nếu doanh nghiệp tuân thủ và đối tác mua bán hàng hóa cũng là doanh nghiệp tuân thủ có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ được giao nhận nhiều lần trong một thời hạn nhất định theo một hợp đồng/đơn hàng cùng với người mua hoặc người bán thì được giao nhận hàng hóa trước, khai hải quan sau và cơ quan hải quan chỉ kiểm tra chứng từ liên quan đến việc giao nhận hàng hóa (không kiểm tra thực tế hàng hóa) theo quy định tại Điều 86 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015.

Được chấp nhận chứng từ bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thuế do tổ chức tín dụng phát hành; Được đưa hàng về bảo quản nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định; Được ưu đãi trong việc lựa chọn hồ sơ thuế để áp dụng chế độ kiểm tra trước, hoặc kiểm tra sau khi thực hiện miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế; được giảm mức độ rủi ro khi lựa chọn để kiểm tra toàn bộ hồ sơ quyết toán thuế.

(Phương An)