Bổ sung thủ tục chuyển nhượng xe mang biển số ngoại giao

Tiếp theo Công văn 6648/BTC-TCHQ ngày 24/05/2013 hướng dẫn cụ thể về thủ tục chuyển nhượng xe mang biển số ngoại giao, biển số nước ngoài được chuyển nhượng, sử dụng không đúng quy định, ngày 03/6/2013, Bộ Tài chính có thêm Công văn 7057/BTC-TCHQ hướng dẫn bổ sung thủ tục chuyển nhượng xe ngoại giao, biển số nước ngoài.

Ảnh minh họa - nguồn Internet.Ảnh minh họa - nguồn Internet.

Theo đó, thời điểm có sự thay đổi mục đích sử dụng được xác định cụ thể theo từng trường hợp sau: Trường hợp có giấy tờ mua bán hoặc giấy ủy quyền hoặc giấy chuyển nhượng giữa cá nhân nước ngoài được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam hoặc tổ chức, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế có trụ sở tại Việt Nam (được cá nhân nước ngoài uỷ quyền) và tổ chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng xe mang biển số nước ngoài, biển số ngoại giao (sau đây gọi tắt là người đang quản lý, sử dụng xe) là thời điểm được xác định căn cứ một trong những giấy tờ mua bán; chuyển nhượng; hoặc ủy quyền này; với điều kiện thời điểm chuyển nhượng trong nhiệm kỳ công tác của người chuyển nhượng hoặc trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam theo chứng minh thư ngoại giao đối với trường hợp uỷ quyền chuyển nhượng.

Trường hợp có giấy tờ mua bán giữa người đang quản lý, sử dụng xe và tổ chức, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế có trụ sở tại Việt Nam được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ là thời điểm được xác định căn cứ một trong những giấy tờ mua bán, chuyển nhượng; hoặc uỷ quyền.

Trường hợp người đang quản lý, sử dụng xe không xuất trình được giấy tờ mua bán nêu trên hoặc giấy tờ mua bán không phù hợp về thời điểm chuyển nhượng nêu ở điểm 1.1 văn bản này thì căn cứ để xác định thời điểm có sự thay đổi mục đích sử dụng là thời điểm kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam đối với đối tượng là cá nhân nước ngoài được ghi tại chứng minh thư ngoại giao hoặc là thời điểm kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam được ghi tại chứng minh thư ngoại giao của người chuyển nhượng cộng thêm thời gian tối đa 06 tháng.        

Trường hợp cá nhân, tổ chức nước ngoài chuyển nhượng xe cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài khác cũng thuộc đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài và đã được cơ quan Hải quan cấp phép chuyển nhượng thì thời điểm chuyển nhượng mục đích sử dụng là thời điểm được xác định theo giấy tờ mua bán giữa cá nhân, tổ chức nước ngoài được chuyển nhượng cuối cùng với người đang quản lý, sử dụng xe.

Căn cứ tính thuế khi làm thủ tục chuyển nhượng xe: Căn cứ tính thuế là trị giá tính thuế, thuế suất tại thời điểm có sự thay đổi mục đích sử dụng, trong đó:

+ Trị giá tính thuế được xác định trên cơ sở giá trị sử dụng còn lại tính theo thời gian sử dụng xe tính đến thời điểm chuyển nhượng.

+ Thời gian sử dụng xe tính đến thời điểm chuyển nhượng được xác định theo năm (12 tháng) tính từ thời điểm nhập khẩu theo tờ khai hải quan đến thời điểm chuyển nhượng.

- Ví dụ:

+ Thời điểm nhập khẩu (xe mới) trên tờ khai là tháng 4 năm 2005, thời điểm chuyển nhượng xe trên giấy tờ mua bán là tháng 7 năm 2008 (cùng thời điểm cá nhân ngoại giao kết thúc nhiệm kỳ công tác về nước) thì thời gian sử dụng xe tính đến thời điểm chuyển nhượng là 3 năm 3 tháng.

+ Thời điểm nhập khẩu (xe mới) là tháng 4 năm 2005, thời điểm nhân viên ngoại giao kết thúc nhiệm kỳ công tác về nước là tháng 7 năm 2008, thời điểm chuyển nhượng xe cho cá nhân Việt Nam là tháng 9 năm 2010 (có ủy quyền theo quy định) thì thời gian sử dụng xe tính đến thời điểm chuyển nhượng tối đa là 3 năm 9 tháng (sau khi đã được tính thêm 6 tháng).

+ Thời điểm nhập khẩu (xe mới) trên tờ khai là tháng 4 năm 2005, thời điểm chuyển nhượng xe trên giấy tờ mua bán giữa tổ chức, cơ quan ngoại giao và người đang quản lý, sử dụng xe là tháng 7 năm 2008 thì thời gian sử dụng xe tính đến thời điểm chuyển nhượng là 3 năm 3 tháng.

+ Thời điểm nhập khẩu trên tờ khai là tháng 4 năm 2005, thời điểm chuyển nhượng xe lần 1 giữa 02 cá nhân được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ  (gọi tắt là cá nhân A chuyển nhượng xe cho cá nhân B) là tháng 7 năm 2008; thời điểm chuyển nhượng xe trên giấy tờ mua bán giữa cá nhân B và người đang quản lý, sử dụng xe là tháng 7 năm 2010 (cùng thời điểm với cá nhân B kết thúc nhiệm kỳ công tác về nước), có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao và đã được cơ quan Hải quan cấp phép chuyển nhượng thì thời gian sử dụng xe tại Việt Nam tính đến thời điểm chuyển nhượng là 5 năm 3 tháng.

- Thuế suất để tính thuế nhập khẩu không phân biệt xe tại thời điểm nhập khẩu ban đầu là xe mới hay xe đã qua sử dụng tính theo mức thuế suất của xe mới tại thời điểm thay đổi mục đích sử dụng.

Phạt chậm nộp: Trong thời hạn từ 10/4/2013 đến 10/06/2013 theo hướng dẫn tại Thông báo số 27/TB-BCA-C61 ngày 29/03/2013 của Bộ Công an nếu người đang quản lý, sử dụng xe thực hiện khai báo, làm thủ tục thu hồi đăng ký, biển số và hoàn thành thủ tục chuyển nhượng nộp thuế theo nội dung điểm 1, 2 nêu trên thì không xử lý phạt chậm nộp thuế theo quy định. Sau thời hạn nêu trên, nếu phát hiện xe mang biển số ngoại giao, biển số nước ngoài sử dụng không đúng quy định, không làm thủ tục chuyển nhượng thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

(Nhã Tường)