Đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra sau thông quan

Năm 2013, toàn ngành Hải quan đã thực hiện 2.430 cuộc kiểm tra; tổng số tiền ấn định và truy thu thuế 1.643,7 tỉ đồng, tăng 20% so với năm 2012, số thực thu vào ngân sách Nhà nước (NSNN) đạt 1.407 tỉ đồng, tăng 60% so với năm 2012, vượt chỉ tiêu được giao 23%.

Ảnh minh họa - nguồn Internet.Ảnh minh họa - nguồn Internet.

Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, sau 10 năm hoạt động (2003 - 2013), kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) ngành Hải quan đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đã có được bộ máy tổ chức hoạt động thống nhất từ tổng cục đến cục hải quan các tỉnh, thành phố; xây dựng được hệ thống cơ sở pháp lý cơ bản đáp ứng cho hoạt động KTSTQ; đào tạo được đội ngũ cán bộ KTSTQ có nghiệp vụ bước đầu đáp ứng yêu cầu.

Kết quả thu NSNN từ hoạt động KTSTQ đã góp phần chống thất thu cho NSNN, nâng cao tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, ngăn chặn kịp thời các sai phạm, góp phần thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước trong điều hành hoạt động XNK.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, công tác KTSTQ gặp một số khó khăn, vướng mắc như: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KTSTQ chưa được quy định thống nhất hoàn chỉnh tại Luật Hải quan, một số nội dung được quy định tại văn bản dưới luật, do đó chưa đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý, thẩm quyền của hoạt động KTSTQ và vướng mắc trong triển khai thực hiện, như: Chưa quy định đầy đủ các trường hợp kiểm tra, nội hàm phương pháp quản lý rủi ro trong KTSTQ; Chưa quy định về thẩm quyền của Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan trong việc ban hành quyết định hành chính KTSTQ, ấn định thuế và xử lý vi phạm; Các nội dung quy định KTSTQ về giá còn thiếu và chưa cụ thể tại Nghị định và các thông tư hướng dẫn,... Quyền hạn của Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan trong việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự trong lĩnh vực hải quan đã được quy định, tuy nhiên, trong ngành Hải quan chưa triển khai nhiệm vụ này.

Bên cạnh đó, hoạt động XNK có xu hướng tăng mạnh qua từng năm. Số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK tại thời điểm năm 2011 có khoảng 46.800 doanh nghiệp, đến năm 2013 có khoảng trên 50.000 doanh nghiệp. Năm 2012 và 2013, mỗi năm với hơn 5 triệu tờ khai hải quan (tăng gấp đôi năm 2006 khoảng 2,5 triệu tờ khai) thì theo quy định thời hạn KTSTQ là 5 năm thì hiện nay khối lượng công việc KTSTQ phải thực hiện là rất lớn (phải phân tích đánh giá theo tiêu chí quản lý rủi ro khoảng 18 đến 20 triệu tờ khai của hơn 6 vạn doanh nghiệp). 

Công tác kiểm tra hồ sơ hải quan mới chỉ là một khâu trong cả một chuỗi công việc của KTSTQ đã có khối lượng công việc nhiều như vậy, thì toàn bộ hoạt động KTSTQ, từ khâu thu thập, phân tích thông tin lựa chọn đối tượng kiểm tra, đến thực hiện việc kiểm tra, xử lý kết quả kiểm tra…của trên 5 vạn doanh nghiệp, khoảng trên 18 triệu tờ khai với phạm vi, quy mô, lĩnh vực loại hình XNK khác nhau, cùng với thực trạng gian lận thương mại qua hoạt động XNK diễn ra tương đối phổ biến, với nhiều hình thức thủ đoạn tinh vi, trong khi các quy định của pháp luật, các chế tài xử lý và sự phối hợp của các bộ, ngành có liên quan còn có những hạn chế, bất cập, thì có thể rút ra kết luận hoạt động KTSTQ có khối lượng công việc phải kiểm soát rất lớn và rất phức tạp...

Mặc dù, bước đầu đã chuẩn hóa được các phương pháp thu thập và xử lý thông tin; Thực hiện chức năng đầu mối về thu thập, xử lý thông tin, cung cấp số liệu XNK, tổng hợp thu thập và chuyển thông tin về doanh nghiệp có dấu hiệu sai phạm của Cục KTSTQ cho các cục hải quan phục vụ hoạt động KTSTQ; nhưng do một số nguyên nhân khác nhau như: Lúng túng về định hướng cách làm, thiếu cán bộ có kinh nghiệm về tin học, chưa thực sự được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo,… nên còn một số hạn chế như: Các chương trình phần mềm, cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ KTSTQ còn nghèo nàn, chưa phù hợp, chưa được cập nhật; Chưa xây dựng được bộ tiêu chí cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về doanh nghiệp, phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí quản lý rủi ro để phục vụ công tác KTSTQ; Chưa theo dõi được các số liệu chi tiết KTSTQ của các Cục Hải quan,… 

Số lượng cán bộ làm công tác KTSTQ còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu khối lượng công việc; cán bộ KTSTQ phần lớn còn thiếu về kinh nghiệm, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu; Khối lượng công việc làm được của KTSTQ ngành Hải quan mới chiếm một tỷ lệ nhỏ so với khối lượng công việc cần phải làm. Ứng dụng công nghệ thông tin và thu thập thông tin phục vụ hoạt động KTSTQ còn yếu.

Nhằm tăng cường năng lực KTSTQ đến năm 2015 và tầm nhìn đến 2020, Tổng cục Hải quan sẽ tập trung ở các giải pháp chính như: Xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất từ Luật tới các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến công tác kiểm tra sau thông quan: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung hệ thống các quy định pháp luật về kiểm tra sau thông quan thống nhất tại Luật Hải quan và các nghị định, thông tư hướng dẫn phù hợp với thông lệ quốc tế, thực tiễn, cải cách hiện đại hoá hải quan, thực hiện hải quan điện tử và pháp luật có liên quan, để đảm bảo cơ sở pháp lý và tính đồng bộ, nhất quán trong thực hiện.

Công tác nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan được thực hiện thường xuyên, thống nhất đúng quy định của pháp luật, quy trình nghiệp vụ: Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra sau thông quan tại doanh nghiệp nhằm hướng tới đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp đảm bảo hoạt động kiểm tra sau thông quan dần phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Xây dựng các chuyên đề theo kế hoạch để chỉ đạo các địa phương thực hiện kiểm tra sau thông quan có hiệu quả; Tăng cường sự chỉ đạo, quản lý kiểm tra của Tổng cục Hải quan, Cục KTSTQ với hoạt động kiểm tra sau thông quan của các địa phương.

Kiện toàn tổ chức bộ máy Kiểm tra sau thông quan từ Tổng cục Hải quan đến các cục hải quan nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan trong tình hình mới.

Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra sau thông quan: Định hướng đến năm 2020 biên chế cán bộ làm công tác kiểm tra sau thông quan đảm bảo phù hợp với chức năng nhiệm vụ, khối lượng công việc được giao, tăng theo lộ trình hàng năm.

Đẩy mạnh công tác thu thập thông tin dữ liệu và áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra sau thông quan: Nâng cấp, vận hành hiệu quả hệ thống thông tin phục vụ hoạt động kiểm tra sau thông quan (STQ01); Xây dựng bộ tiêu chí phân loại hồ sơ Hải quan, doanh nghiệp theo tiêu chí quản lý rủi ro để xác định đối tượng kiểm tra, nội dung kiểm tra, phương pháp kiểm tra thực hiện thống nhất trên toàn quốc; Xây dựng quy chế và bộ tiêu chí cập nhật thông tin dữ liệu kết quả kiểm tra sau thông quan đầy đủ, kịp thời, tạo nguồn dữ liệu cho lực lượng kiểm tra sau thông quan toàn quốc nghiên cứu thực hiện,…

(Phương An)