Giảm thời gian thông quan: Cần các bộ, ngành vào cuộc

Tổng cục Hải quan vừa công bố kết quả đo thời gian giải phóng hàng năm 2013, được thực hiện tại 11 Chi cục Hải quan Cảng/cửa khẩu, thuộc 07 Cục Hải quan tỉnh, thành phố, thuộc 03 tuyến đường vận tải hàng hóa XNK gồm: đường không, đường bộ và đường biển theo phương pháp nghiên cứu thời gian giải phóng hàng (TRS) của tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) - Phiên bản 2.0 - 2011.

Ông Hoàng Việt Cường, Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Hải quan: Tổng cục đã thực hiện cuộc đo năm 2013 và năm 2015 sẽ là năm tiếp theo Tổng cục thực hiện đo thời gian giải phóng toàn diện. Ảnh: TH.Ông Hoàng Việt Cường, Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Hải quan: Tổng cục đã thực hiện cuộc đo năm 2013 và năm 2015 sẽ là năm tiếp theo Tổng cục thực hiện đo thời gian giải phóng toàn diện. Ảnh: TH.

Các kết quả chung của cuộc đo thời gian giải phóng hàng đã xác định được: Tổng thời gian thông quan/giải phóng hàng trung bình của hàng hóa xuất nhập khẩu năm 2013; Thời gian xử lý công việc thuộc trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong quy trình làm thủ tục đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu năm 2013; Xác định các khâu nghiệp vụ gây chậm trễ, kéo dài thời gian thông quan và đề xuất một số biện pháp thực hiện nhằm giảm thời gian.

Đây là lần đầu tiên Việt Nam thực hiện một cuộc đo thời gian giải phóng hàng nhằm đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức tham gia trong quy trình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa (doanh nghiệp XNK, cơ quan Hải quan, cơ quan kiểm dịch, cơ quan kiểm tra chất lượng nhà nước, Biên phòng...) nên trong quá trình phối hợp với các Bộ, Ngành còn có việc chưa đạt được như mong muốn.

Kết quả chung tuy chưa phân tích sâu được thời gian tác nghiệp của các đơn vị quản lý chuyên ngành có liên quan đến quá trình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua các cảng/cửa khẩu nhưng cũng nêu ra được tỉ lệ % về khoảng thời gian tác động của cơ quan Hải quan và của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động XK, NK hàng hóa qua cảng/cửa khẩu.

Kết quả chung các khoảng thời gian giải phóng hàng của cơ quan Hải quan, được tổng hợp từ kết quả của 11 Chi cục Hải quan tiến hành đo, cụ thể như sau:

Đối với hàng nhập khẩu: Thời gian từ khi hàng đến cảng/cửa khẩu cho đến khi hàng đã có quyết định thông quan/giải phóng hàng ra khỏi khu vực giám sát hải quan (Tổng thời gian giải phóng hàng) là: 115:00:17 (giờ:phút:giây)

Trong đó, thời gian từ khi đăng ký tờ khai cho đến khi cơ quan Hải quan ra quyết định thông quan/giải phóng hàng là: 32:37:55 (chiếm khoảng 28% tổng thời gian từ khi hàng đến cảng/cửa khẩu đến khi hàng có quyết định thông quan/giải phóng hàng rời khỏi khu vực giám sát hải quan); 72 % còn lại là thời gian tác nghiệp của các cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động XNK hàng hóa.

Đối với hàng xuất khẩu: Thời gian từ khi đăng ký tờ khai cho đến khi cơ quan Hải quan ra quyết định thông quan/giải phóng hàng là: 11:06:33 (giờ:phút:giây).

Thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa có liên quan đến rất nhiều cơ quan, đơn vị thuộc các Bộ, Ngành cũng như các doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng, logistics,… Vì vậy, để đạt mục tiêu giảm thời gian thông quan, thời gian xuất, nhập khẩu hàng hóa theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 19/NQ-CP nói trên thì bên cạnh sự chủ động, nỗ lực của ngành Hải quan thì rất cần có sự nỗ lực, cố gắng của các Bộ, Ngành quản lý nhà nước, các doanh nghiệp liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, để giảm thiểu các giấy tờ trong bộ hồ sơ, giảm thời gian và chi phí làm các thủ tục có liên quan đến quá trình xuất, nhập khẩu hàng (thủ tục kiểm dịch, thủ tục kiểm tra chất lượng nhà nước, thủ tục liên quan đến logistics,…).

Việc tổ chức đo thời gian giải phóng hàng sẽ được thực hiện định kỳ 5 năm 3 lần (đầu kỳ, giữa kỳ, cuối kỳ) nhằm đánh giá việc thực hiện Kế hoạch cải cách, phát triển và Hiện đại hóa Hải quan theo giai đoạn 5 năm. Hiện tại, Tổng cục đã thực hiện cuộc đo năm 2013 và năm 2015 sẽ là năm tiếp theo Tổng cục thực hiện đo thời gian giải phóng toàn diện.

(Phương An)