Lợi ích khi triển khai Cơ chế một cửa quốc gia

(eFinance Online) - Thời gian qua, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan đã cùng các bộ, ngành nỗ lực thực hiện được một khối lượng công việc lớn liên quan đến thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW), Cơ chế một cửa ASEAN (ASW) và kiểm tra chuyên ngành. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai NSW, ASW và kiểm tra chuyên ngành còn nhiều tồn tại, hạn chế. Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về NSW và ASW, eFinance xin giới thiệu toàn văn thông tin báo chí do Tổng cục Hải quan cung cấp xung quanh chủ đề này.
 
Ảnh minh họa - nguồn: internet.Ảnh minh họa - nguồn: internet.

Câu 1: Cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN là gì?

Trả lời:

Khái niệm Cơ chế một cửa quốc gia

Theo Điều 4, Luật Hải quan năm 2014, Cơ chế một cửa quốc gia là việc cho phép người khai hải quan gửi thông tin, chứng từ điện tử để thực hiện thủ tục hải quan và thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua một hệ thống thông tin tích hợp. Cơ quan quản lý nhà nước quyết định cho phép hàng hóa được xuất nhập khẩu, quá cảnh; cơ quan Hải quan quyết định thông quan, giải phóng hàng hóa trên hệ thống thông tin tích hợp.

Khái niệm Cơ chế một cửa ASEAN

Cơ chế một cửa ASEAN là một môi trường trong đó các Cơ chế một cửa quốc gia hoạt động và tích hợp với nhau.

Mô hình kết nối Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN

              Cổng thông tin một cửa quốc gia là nơi tiếp nhận và phản hồi các thông tin từ các Bộ, ngành và các bên có liên quan như sau:

              - Các Bộ, ngành tham gia vào quá trình cấp phép đối với các hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện xuất nhập cảnh, quá cảnh.

              - Cơ quan Hải quan.

              - Người vận tải, đại lý hãng tàu, đại lý giao nhận.

              - Ngân hàng, bảo hiểm.

              - Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đại lý hải quan.

              - Các bên liên quan khác.

              Trên cơ sở đó, Cổng thông tin một cửa quốc gia kết nối với Cơ chế một cửa ASEAN và các đối tác thương mại khác của Việt Nam. 

Quy trình thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN

Khi thực hiện thủ tục cấp phép và thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu có giấy phép trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, doanh nghiệp thực hiện theo quy trình sau:

- Bước 1: Doanh nghiệp gửi đơn xin cấp phép, hồ sơ cấp phép dưới dạng điện tử đến cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia.

- Bước 2: Cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia chuyển đơn xin cấp phép, hồ sơ cấp phép đến hệ thống cấp phép của các Bộ, Ngành.

- Bước 3: Các Bộ, Ngành xử lý hồ sơ xin cấp phép và chuyển giấy phép dưới dạng điện tử về Cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia.

- Bước 4: Cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia chuyển giấy phép dưới dạng điện tử về cho doanh nghiệp đồng thời gửi tới hệ thống của hải quan.

- Bước 5: Hải quan xử lý hồ sơ hải quan, đối chiếu thông tin giấy phép điện tử nhận được từ các Bộ, Ngành (nếu cần), quyết định kết quả thông quan và trả kết quả về Cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia.

- Bước 6: Cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia trả kết quả thông quan về cho Doanh nghiệp và gửi kết quả đến hệ thống của các Bộ, Ngành để tham khảo.

Câu 2. Kết quả và lợi ích triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN?

Trả lời:

Chính thức triển khai từ tháng 11 năm 2014, tới nay, đã có 53 thủ tục hành chính của 11 Bộ, ngành kết nối Cơ chế một cửa quốc gia. Bên cạnh việc triển khai tại các cảng biển quốc tế, từ ngày 15/11/2017, Cơ chế một cửa quốc gia đã được triển khai tại các cảng hàng không quốc tế trên cả nước. Đến 15 tháng 7 năm 2018,  1,34 triệu hồ sơ của 22,8 nghìn doanh nghiệp đã được xử lý thông qua Cơ chế một cửa quốc gia. Riêng Bộ Tài chính, tất cả các quy trình thủ tục hải quan đã kết nối Cơ chế một cửa quốc gia và được tự động hóa ở mức độ rất cao với 99,65% doanh nghiệp tham gia thực hiện tại 100% các đơn vị hải quan trên phạm vi toàn quốc.

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Việt Nam đã chính thức trao đổi thông tin C/O mẫu D điện tử với 4 nước Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và sử dụng chứng từ này làm căn cứ để áp dụng mức ưu đãi thuế quan theo Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN. Kết quả, đến ngày 15 tháng 07 năm 2018, tổng số C/O Việt Nam gửi nhận với 04 nước nêu trên là hơn 48 nghìn C/O. Hiện nay, các nước ASEAN đang tiếp tục triển khai để trao đổi các chứng từ điện tử khác như tờ khai hải quan ASEAN, chứng nhận kiểm dịch. Không chỉ dừng lại trong khu vực, Việt Nam cũng đang đàm phán để hoàn thiện các Nghị định thư về trao đổi thông tin kết nối với Liên minh kinh tế Á - Âu (EAEU); thống nhất các yêu cầu kỹ thuật và chuẩn bị xây dựng hệ thống để trao đổi thông tin tờ khai hải quan, chứng nhận xuất xứ.

Việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN bước đầu đã thực sự mang lại những hiệu quả to lớn trong công tác cải cách hành chính. Thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, doanh nghiệp không còn phải trực tiếp làm việc với từng cơ quan nhà nước để hoàn thành các thủ tục hành chính, nhờ đó giảm được chi phí, thời gian, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa; xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của nền kinh tế, cũng như nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Bên cạnh lợi ích đối với doanh nghiệp, việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia cũng mang lại rất nhiều lợi ích cho các cơ quan quản lý nhà nước, giúp các cơ quan nhà nước làm quen và dần chuyển đổi sang thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử phi giấy tờ và có nhiều kinh nghiệm hơn trong đơn giản hóa, cải cách, hiện đại hóa thủ tục hành chính;  giúp Việt Nam sẵn sàng về mặt kỹ thuật cũng như pháp lý để đàm phán các thỏa thuận song phương, đa phương trong việc công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn kỹ thuật, giấy phép/giấy chứng nhận điện tử nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính tại nước nhập khẩu; giảm thời gian thông quan và tạo thuận lợi cho hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu ra các thị trường quốc tế; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; góp phần tăng cường tính  minh bạch, rõ ràng, giảm sự tiếp xúc giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước, khắc phục và ngăn chặn các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu có thể xảy ra, góp phần phòng, chống tham nhũng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới về môi trường kinh doanh: Năm 2017, thời gian thông quan trực tiếp tại cửa khẩu của Việt Nam đối với hàng xuất khẩu giảm 03 giờ (từ 58 xuống 55 giờ); đối với hàng nhập khẩu giảm 06 giờ (từ 62 xuống 56 giờ); chi phí thông quan trực tiếp tại cửa khẩu cho 01 lô hàng giảm 19 USD. Ước tính với trên 11 triệu tờ khai của năm 2017, doanh nghiệp tiết kiệm được trên 200 triệu USD cho thủ tục thông quan; tiết kiệm trên 16 triệu giờ lưu kho đối với hàng xuất khẩu (với 5,36 triệu tờ khai xuất khẩu) và trên 34 triệu giờ lưu kho bãi đối với hàng nhập khẩu (với 5,72 triệu tờ khai nhập khẩu). Kết quả này phản ánh nỗ lực cải cách thủ tục hành chính của các cơ quan thuộc Chính phủ trong lĩnh vực giao lưu hàng hóa qua biên giới. Cũng theo báo cáo về môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, trong vòng 2 năm trở lại đây (2016, 2017), Việt Nam luôn giữ vững vị trí trong 04 quốc gia có chỉ số giao lưu hàng hóa qua biên giới đứng đầu trong khu vực ASEAN.

Câu 3. Dự kiến việc triển khai đến cuối năm 2018 như thế nào? Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan sẽ làm gì với vai trò là cơ quan chủ trì và thường trực để thúc đẩy triển khai NSW, ASW và tạo thuận lợi thương mại?

Trả lời:      

Từ nay đến cuối năm 2018, các Bộ, ngành sẽ khẩn trương hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành Nghị định về thực hiện các thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, kiểm tra chuyên ngành và tạo thuận lợi thương mại. Trên cơ sở Kế hoạch hành động của Chính phủ, các Bộ, ngành xây dựng Kế hoạch hành động của đơn vị mình và tổ chức thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia.

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành cũng đẩy nhanh việc rà soát, thống nhất thủ tục hành chính; xây dựng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN cũng như tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, tuyên truyền, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN.

Với vai trò là cơ quan thường trực, bên cạnh việc tập trung nguồn lực xây dựng và nâng cấp Cổng thông tin một cửa quốc gia để kết nối với các Bộ, ngành, Tổng cục Hải quan luôn phối hợp chặt chẽ và làm cầu nối giữa các Bộ, ngành trong việc triển khai các mục tiêu đặt ra tại kế hoạch hành động cũng như có cơ chế giám sát triển khai và báo cáo Ủy ban chỉ đạo 1899.

Câu 4. Đánh giá khả năng hoàn thành mục tiêu về Kế hoạch triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN đến 2020 như thế nào?

Trả lời

Kế hoạch tổng thể triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2016 – 2020, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu: “Đến hết năm 2020, hoàn thành triển khai tất cả các thủ tục hành chính của các Bộ, ngành tham gia quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; người và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thông qua Cơ chế một cửa quốc gia”. Đồng thời, “Đến 2020, 100% các thủ tục hành chính thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia thu phí, lệ phí bằng phương thức điện tử”.

Về Cơ chế một cửa ASEAN, Chính phủ đặt mục tiêu: “Tham gia và triển khai đầy đủ Cơ chế một cửa ASEAN theo đúng cam kết và lộ trình thực hiện của các nước ASEAN; Sẵn sàng về mặt kỹ thuật để kết nối và trao đổi thông tin với các đối tác thương mại khác ngoài ASEAN theo các hiệp định và thỏa thuận mà Việt Nam tham gia”.

Mục tiêu nêu trên là rất to lớn và đầy thách thức nhưng chúng ta sẽ hoàn thành nếu có sự đồng tâm, đồng lòng từ Chính phủ cho tới các bộ, ngành, cộng đồng doanh nghiệp và các bên có liên quan, đồng thời có quyết tâm, nỗ lực, phương pháp và giải pháp khoa học, hiệu quả trong triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại.

Việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia trong thời gian gần đây bắt đầu có dấu hiệu chững lại. Một trong những nguyên nhân là một số Bộ, ngành vẫn chưa thực sự quyết liệt trong tổ chức thực hiện.

Có thể nói, mục tiêu triển khai Cơ chế một cửa quốc gia trong thời gian tới là rất lớn. Để có thể hoàn thành thực mục tiêu này, từ thực tiễn triển khai Cơ chế một cửa quốc gia trong thời gian vừa qua, chúng tôi cho rằng cộng đồng doanh nghiệp và các Bộ, ngành đóng vai trò rất quan trọng trong việc triển khai thành công Cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN. Điều đó được thể hiện ở những khía cạnh cụ thể sau:

1. Các thủ tục hành chính chỉ đi vào cuộc sống khi được đông đảo người dân và doanh nghiệp tham gia và thực hiện. Một trong những trở ngại của doanh nghiệp khi thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia là chuyển đổi phương thức thực hiện thủ tục hành chính từ thủ công sang phương thức điện tử. Theo đó, khi thực hiện thủ tục hành chính trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, doanh nghiệp phải chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa trong việc chuẩn bị hồ sơ, sử dụng phương thức điện tử trong giao dịch với các cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy, sự tích cực, chủ động và chuẩn bị của doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục hành chính trên Cổng thông tin một cửa có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng.

2. Các Bộ, ngành sẽ là người xác định mục tiêu và lộ trình triển khai các thủ tục hành chính của Bộ, ngành mình trên Cổng thông tin một cửa quốc gia. Vì vậy, việc quyết định triển khai thủ tục nào trước, thủ tục nào sau sẽ ảnh hưởng tới cộng đồng doanh nghiệp nói chung cũng như hoạt động thương mại nói trên, đồng thời ảnh hưởng đến mục tiêu tổng thể về triển khai Cơ chế một cửa quốc gia đến năm 2020.

3. Hiện nay, Cổng thông tin một cửa quốc gia đã được xây dựng và đưa vào vận hành, các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật cơ bản được đảm bảo. Như vậy, về mặt kỹ thuật, thông tin mà doanh nghiệp gửi đến Cổng thông tin một cửa quốc gia đã sẵn sàng tiếp nhận và gửi đến các Bộ, ngành có liên quan. Vì vậy, hiện nay, việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia phụ thuộc vào việc các Bộ, ngành có quyết tâm thực hiện hay không, đặc biệt là việc chủ động tin học hóa quy trình, nghiệp vụ và xây dựng hệ thống công nghệ thông tin và kết nối với Cổng thông tin một cửa quốc gia phục vụ cho việc thực hiện các thủ tục hành chính.

4. Việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ việc hoàn thiện cơ sở pháp lý và cải cách thủ tục hành chính. Vì vậy, để có thể triển khai đầy đủ, thành công Cơ chế một cửa quốc gia trong thời gian tới phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực của các Bộ, ngành trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp lý, đặc biệt là xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm tra chuyên ngành đáp ứng yêu cầu triển khai Cơ chế một cửa quốc gia.

5. Để có thể triển khai Cơ chế một cửa quốc gia một cách hiệu quả cũng đòi hỏi các Bộ, ngành đổi mới phương pháp thực hiện, đặc biệt là phương pháp kiểm tra chuyên ngành theo hướng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, giảm chi phí, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa. Đồng thời, các Bộ, ngành cũng cần ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

Ngay sau Hội nghị, Chính phủ sẽ ban hành Kế hoạch hành động và triển khai nhiều giải pháp quan trọng để thúc đẩy cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại. Vì vậy, việc nâng cao và tạo sự chuyển biến trong nhận thức, ý chí, quyết tâm và hành động của doanh nghiệp cũng như các Bộ, ngành trong việc triển khai Cơ chế một cửa trong bối cảnh hiện nay là một trong những yếu tố then chốt, quyết định để hoàn thành mục tiêu về Kế hoạch triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN đến NĂM 2020.

Câu 5. Số lượng thủ tục thực hiện cơ chế một cửa còn ít, đề nghị Tổng cục Hải quan cho biết sắp tới có giải pháp gì để mở rộng thủ tục kết nối?

Trả lời:

Sắp tới, Tổng cục Hải quan dự kiến đề xuất Bộ Tài chính trình Chính phủ thực hiện các giải pháp sau:

- Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và cải cách thủ tục hành chính để tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc sử dụng, trao đổi chứng từ điện tử, hồ sơ điện tử đối với thủ tục hành chính trong nước và các nước, khối - cộng đồng kinh tế; việc trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan Chính phủ trên nền tảng Cổng thông tin một cửa quốc gia...

- Xây dựng, triển khai hệ thống CNTT phục vụ triển khai NSW theo định hướng xử lý tập trung trên nền tảng Cổng thông tin một cửa quốc gia; hoàn thiện Cổng thông tin một cửa quốc gia sẵn sàng về mặt kỹ thuật để thực hiện ASW theo lộ trình; đẩy mạnh thuê dịch vụ của bên thứ ba trong cung cấp các tiện ích cho cả doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.

- Tiếp tục tổ chức đào tạo, tuyên truyền và hỗ trợ cho các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

- Đảm bảo tài chính để thực hiện các nhiệm vụ về thực hiện NSW, ASW và tạo thuận lợi thương mại…

- Xây dựng và triển khai đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới.

- Xây dựng và thiết lập cơ chế giám sát và đánh giá độc lập từ phía cộng đồng doanh nghiệp đối với việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của các Bộ, ngành theo chương trình, kế hoạch của Chính phủ.

Trước mắt, trong năm 2018, Bộ Tài chính sẽ phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành khẩn trương hoàn thành và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018 – 2020; Quyết định về việc bổ sung nhiệm vụ điều phối hoạt động logistics vào Ủy ban chỉ đạo quốc gia 1899; trình Chính phủ ban hành Nghị định về thực hiện các thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại trong thời gian tới. Đồng thời, trong năm 2018, Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành  triển khai mới 130 thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia theo Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ và phấn đấu đạt 143 thủ tục hành chính theo kết quả rà soát và cam kết mới nhất của các Bộ, ngành (sẽ đưa vào Kế hoạch hành động của Chính phủ).

Câu 6. Những mục tiêu, giải pháp đột phá như thế nào về Cơ chế một cửa trong thời gian tới?

Trả lời:

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra một cách nhanh chóng và tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống. Trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trong triển khai Cơ chế một cửa quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra, cụ thể:

Mục tiêu tổng quát

Đến năm 2020:

- Tất cả các thủ tục hành chính liên quan thực hiện thông qua Cơ chế một cửa quốc gia được dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4.

- Tham gia và triển khai đầy đủ Cơ chế một cửa ASEAN theo đúng cam kết.

- Toàn bộ các cơ quan Chính phủ có liên quan được kết nối và chia sẻ thông tin quản lý nhà nước thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Mục tiêu cụ thể

- Đến hết năm 2019, triển khai các thủ tục hành chính có số lượng giao dịch nhiều, tác động lớn tới hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức và người dân đạt ít nhất 80% trên tổng số các thủ tục hành chính.

- Tiếp tục giữ vị trí ngang bằng với nhóm 04 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN về thời gian thông quan và giải phóng hàng hóa, người và phương tiện liên quan tới các thủ tục hành chính một cửa.

- Đến 2020, 100% các thủ tục hành chính thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia thu phí, lệ phí bằng phương thức điện tử.

- Các chứng từ điện tử được cấp thông qua Cơ chế một cửa quốc gia được sử dụng khi thực hiện các thủ tục hành chính khác có liên quan.

- Thực hiện trao đổi và công nhận lẫn nhau về các chứng từ thương mại được cấp dưới dạng điện tử với các nước ASEAN và các trao đổi, xử lý chứng từ thương mại với các nước, khối – cộng đồng kinh tế theo các thỏa thuận và cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

- Hoàn thiện về cơ chế quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới.

Mục tiêu từ nay đến hết năm 2018:

- Trong năm 2018, Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành  triển khai mới 130 thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia theo Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ và phấn đấu đạt 143 thủ tục hành chính theo kết quả rà soát và cam kết mới nhất của các Bộ, ngành (sẽ đưa vào Kế hoạch hành động của Chính phủ).

- Sẽ thực hiện trao đổi thí điểm tờ khai hải quan ASEAN;  trao đổi thông tin kiểm dịch điện tử (e-SPS).

- Hoàn thành đàm phán và ký Nghị định thư về trao đổi thông tin với Liên minh kinh tế Á-Âu (EAEU) và tổ chức triển khai thực hiện Nghị định thư.

Giải pháp:

Trong thời gian tới, Bộ Tài chính dự kiến đề xuất Chính phủ, Ủy ban chỉ đạo 1899 chỉ đạo các Bộ, ngành tập trung thực hiện các giải pháp quan trọng sau:

1. Ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, kiểm tra chuyên ngành và tạo thuận lợi thương mại. Trên cơ sở Kế hoạch hành động của Chính phủ; các Bộ, ngành xây dựng Kế hoạch hành động của đơn vị mình và tổ chức thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia.

2. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, trong đó khẩn trương hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành Nghị định về thực hiện các thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

3.  Đẩy nhanh việc rà soát, thống nhất thủ tục hành chính; xây dựng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và thực hiện thí điểm thuê dịch vụ trong cung cấp các tiện ích cho doanh nghiệp và cơ quan nhà nước để thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN.

4. Chủ trì xây dựng kỹ thuật công nghệ, kết nối thông tin với các Bộ.

5. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc các Bộ, ngành thực hiện theo kế hoạch; tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban 1899.

6. Xây dựng và triển khai đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới.

7. Xây dựng và thiết lập cơ chế giám sát và đánh giá độc lập từ phía cộng đồng doanh nghiệp đối với việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của các Bộ, ngành theo chương trình, kế hoạch của Chính phủ.

8. Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, tuyên truyền, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN.

Câu 7. Với vai trò là Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia, Tổng cục Hải quan đề xuất giải pháp nào để tiếp tục cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian thông quan hàng hóa, trong đó có thực hiện Cơ chế một cửa?

Trả lời:

Trong thời gian tới, với vai trò là Cơ quan thường trực, Tổng cục Hải quan dự kiến trình Bộ Tài chính đề xuất Chính phủ thực hiện các giải pháp quan trọng sau:

- Ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, kiểm tra chuyên ngành và tạo thuận lợi thương mại. Trên cơ sở Kế hoạch hành động của Chính phủ; các Bộ, ngành xây dựng Kế hoạch hành động của đơn vị mình và tổ chức thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia.

- Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, trong đó khẩn trương hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành Nghị định về thực hiện các thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

- Đẩy nhanh việc rà soát, thống nhất thủ tục hành chính; xây dựng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và thực hiện thí điểm thuê dịch vụ trong cung cấp các tiện ích cho doanh nghiệp và cơ quan nhà nước để thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN.

- Xây dựng và triển khai đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới.

- Xây dựng và thiết lập cơ chế giám sát và đánh giá độc lập từ phía cộng đồng doanh nghiệp đối với việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của các Bộ, ngành theo chương trình, kế hoạch của Chính phủ.

- Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, tuyên truyền, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN.

Câu 8. Hiện đã có bao nhiêu thủ tục của các lĩnh vực Bộ phụ trách tham gia cơ chế một cửa quốc gia?

Trả lời:

Chính thức được triển khai từ tháng 11/2014, đến ngày 15/7/2018, 11 Bộ, ngành đã kết nối và thực hiện 53 thủ tục hành chính với gần 1,34 triệu hồ sơ của 22.800 doanh nghiệp được xử lý thông qua Cơ chế một cửa quốc gia.. Cụ thể: Bộ Công Thương - 6 thủ tục; Bộ Khoa học và Công nghệ - 4 thủ tục; Bộ Giao thông vận tải - 12 thủ tục; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - 13 thủ tục; Bộ Tài nguyên và Môi trường - 4 thủ tục; Bộ Thông tin và Truyền thông - 1 thủ tục; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - 1 thủ tục; Bộ Y tế - 5 thủ tục; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - 1 thủ tục; Bộ Quốc phòng - 03 thủ tục liên ngành đối với tàu biển xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; 03 thủ tục liên ngành (Tài chính, Giao thông vận tải, Công an, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đối với tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh. Riêng Bộ Tài chính, tất cả các quy trình thủ tục hải quan đã kết nối Cơ chế một cửa quốc gia với 99,65% doanh nghiệp tham gia thực hiện tại 100% các đơn vị hải quan trên phạm vi toàn quốc.

Câu 9. Những mặt được và chưa được trong việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN đối với doanh nghiệp? Cần phải làm gì để tạo thuận lợi hơn nữa cho DN khi thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN?

Trả lời:

Mặt được

- Về cơ bản, các doanh nghiệp đã thực hiện đúng quy trình, thủ tục thực hiện qua Cơ chế một cửa quốc gia, thực hiện nộp đầy đủ hồ sơ điện tử theo quy định. Doanh nghiệp có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý trong việc thực hiện các thủ tục hành chính.

- Nhận thức của người dân, doanh nghiệp đối với chủ trương của Chính phủ trong việc thực hiện phương thức điện tử và thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia được nâng cao.

Mặt chưa được:

Theo phản ánh của một số Bộ, ngành (Bộ Giao thông vận tải, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ), một số doanh nghiệp vẫn còn chưa thích ứng kịp và chưa tham gia thực hiện các thủ tục bằng phương thức điện tử trên Cơ chế một cửa quốc gia, vẫn còn tình trạng doanh nghiệp thực hiện song song thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia và theo phương thức thủ công (hồ sơ bản giấy).

Giải pháp để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp:

Để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia trong thời gian tới, Tổng cục Hải quan sẽ phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện các giải pháp sau:

- Trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, kiểm tra chuyên ngành và tạo thuận lợi thương mại.

- Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, trong đó khẩn trương hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành Nghị định về thực hiện các thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

- Đẩy nhanh việc rà soát, thống nhất thủ tục hành chính; xây dựng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và thực hiện thí điểm thuê dịch vụ trong cung cấp các tiện ích cho doanh nghiệp và cơ quan nhà nước để thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN.

- Đảm bảo điều kiện hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, trong đó đầu tư hệ thống dự phòng và hệ thống đảm bảo an toàn thông tin, khó đảm bảo việc triển khai ổn định các thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia. Đồng thời khắc phục một số hạn chế về mặt kỹ thuật như: nâng cap tốc độ của hệ thống, xử lý các lỗi kỹ thuật. Cải thiện và bổ sung các tiện ích phục vụ người dân, doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục hành chính qua Cơ chế một cửa quốc gia.

- Để giúp cho người dân, doanh nghiệp tiếp tục thực hiện có hiệu quả các thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia, Tổng cục Hải quan và các Bộ, ngành tiếp tục tổ chức đào tạo, tập huấn cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ, xử lý nhanh chóng các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.

Câu 10. Việc vận hành Cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN có vai trò rất lớn của công nghệ thông tin nhưng công nghệ thông tin chỉ là phương tiện, còn khâu xử lý cuối cùng là con người vận hành phương tiện như thế nào mới quan trọng. Hồ sơ được chuyển vào hệ thống rất nhanh chóng nhưng hồ sơ có được xử lý nhanh hay không lại là trách nhiệm của cán bộ tiếp nhận, xử lý… Xin Bộ Tài chính cho biết, việc này được thực hiện ra sao?

Trả lời:

Khi thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, hệ thống quản lý chuyên ngành của các Bộ, ngành kết nối với Cổng thông tin một cửa quốc gia để tự động nhận hồ sơ điện tử do doanh nghiệp khai báo và trả kết quả xử lý cho doanh nghiệp. Quy trình xử lý thủ tục hành chính được thực hiện theo quy định của các cơ quan xử lý.

Quá trình triển khai, Tổng cục Hải quan đã phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ công chức xử lý các thủ tục hành chính bằng phương thức điện tử thông qua Cơ chế một cửa quốc gia. Bên cạnh đó, các Bộ, ngành cũng đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt các công chức để tìm hiểu, làm quen và chuyển đổi sang phương thức mới.

Câu 11.    Công tác kiểm tra chuyên ngành hiện nay đang vướng ở khâu nào? Trong thời gian tới Bộ Tài chính và các Bộ chuyên ngành liên quan có những biện pháp như thế nào để khắc phục tình trạng trên, tạo điều kiện cho doanh nghiệp XNK?

Trả lời:

Với sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ  cùng Tổ công tác của Chính phủ và sự chủ động, vào cuộc mạnh mẽ của các Bộ, ngành, năm 2017 và 06 tháng đầu năm 2018, công tác KTCN đối với hàng hóa XNK có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều văn bản được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới đã đáp ứng được yêu cầu tại Quyết định 2026/QĐ-TTg và Nghị quyết 19-2017/NQ-CP, được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận và đánh giá cao.

Mặc dù công tác KTCN trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại và hạn chế sau:

- Số lượng hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành còn chiếm tỷ trọng lớn.

- Văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý và kiểm tra chuyên ngành nhiều, phạm vi quản lý và kiểm tra rộng, nhiều mặt hàng chưa có mã số HS, chưa có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện việc kiểm tra; còn quy định chồng chéo một hàng hóa phải thực hiện cùng lúc nhiều thủ tục, chịu nhiều hình thức quản lý, kiểm tra chuyên ngành do cùng một Bộ hoặc nhiều Bộ quy định; việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu còn chậm.

- Kiểm tra chuyên ngành thực hiện chủ yếu bằng phương thức thủ công, chưa áp dụng rộng rãi phương pháp quản lý rủi ro; Chưa áp dụng việc công nhận kết quả kiểm tra; Chưa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tiếp nhận xử lý hồ sơ, trao đổi dữ liệu về kiểm tra chuyên ngành; Chưa xây dựng cơ sở dữ liệu phân tích thông tin, đánh giá mức độ rủi ro của doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa.

- Nguồn lực (bao gồm nguồn nhân lực, tài chính, trang thiết bị máy móc, phương tiện làm việc) thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu còn thiếu và còn yếu; Chưa đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

- Một số Bộ đã ban hành văn bản bãi bỏ danh mục hoặc chuyển thời điểm kiểm tra mặt hàng thuộc quản lý từ giai đoạn kiểm tra trước thông quan sang giai đoạn sau thông quan song vẫn quy định doanh nghiệp phải nộp chứng từ cho cơ quan hải quan để thông quan hàng hóa.

Để thực hiện mục tiêu tại Quyết định 2026/QĐ-TTg và Nghị quyết 19-2018/NQ-CP, Nghị quyết 01-2018/NQ-CP của Chính phủ, trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị chuyên môn của các Bộ, ngành quyết liệt triển khai một số nhiệm vụ sau:         

Rà soát để cắt giảm và đơn giản hóa Danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý và kiểm tra chuyên ngành trước khi thông quan; Chỉ thực hiện quản lý và kiểm tra chuyên ngành trước thông quan đối với những hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao gây mất an toàn, gây nguy hại cho sức khỏe, tính mạng con người, gây ô nhiễm môi trường, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, nguy hại cho kinh tế, cho an ninh quốc gia.

Hoàn thiện trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu.

Rà soát, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và kiểm tra chuyên ngành vừa tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý của nhà nước theo đúng tiến độ.

Cải cách toàn diện hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo hướng:

+ Loại bỏ những chồng chéo trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

+ Ban hành đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ kiểm tra chuyên ngành (trường hợp không ban hành được tiêu chuẩn, quy chuẩn thì phải công bố chỉ tiêu, phương pháp kiểm tra).

+ Ban hành Danh mục hàng hóa chuyên ngành kèm mã số HS.

+ Điện tử hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành.

+ Áp dụng quản lý rủi ro.

Đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động KTCN; Xã hội hóa hoạt động kiểm tra chuyên ngành

Xây dựng quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thí điểm áp dụng cơ chế bảo lãnh thông quan đối với một số mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện kiểm tra chuyên ngành.

Câu 12. Nghị định quy định thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được ban hành nhằm mục tiêu gì và dự kiến đạt được kết quả như thế nào?

Trả lời:

Nghị định ban hành nhằm đảm bảo mục tiêu sau:

- Thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tạo cơ sở pháp lý thống nhất để thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, người và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.

- Tạo cơ sở pháp lý thống nhất để cải cách toàn diện hoạt động kiểm tra chuyên ngành theo hướng giảm lượng hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành tại khâu thông quan, minh bạch hóa công tác kiểm tra chuyên ngành thông qua việc công bố các quy chuẩn, tiêu chuẩn, phương pháp kiểm tra;

- Đảm bảo tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục những chồng chéo, xung đột, bất cập tại các văn bản về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Dự kiến kết quả đạt được khi thực hiện Nghị định:

- Bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc triển khai mở rộng thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa quốc gia.

- Bảo đảm hài hòa quy trình thủ tục hành chính, cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành thực hiện chia sẻ thông tin thực hiện thủ tục hành chính.

- Đẩy nhanh việc thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa quốc gia

- Giải quyết các vướng mắc, chồng chéo trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

- Bảo đảm nguyên tắc chung để các Bộ thực hiện kiểm tra chuyên ngành, thống nhất các điều kiện khi xây dựng danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành; bảo đảm các mặt hàng trong danh mục kiểm tra chuyên ngành trước thông quan phải có mã HS, có tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kĩ thuật quốc gia làm cơ sở cho việc kiểm tra chuyên ngành, trường hợp chưa có tiêu chuẩn quy chuẩn thì phải có quy định cụ thể về chỉ tiêu kiểm tra, phương pháp, cách thức kiểm tra.

- Thu hẹp Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành trước thông quan, giảm thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp và cơ quan Hải quan, tăng cường hiệu quả công tác quản lý chuyên ngành trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro.

- Minh bạch công tác kiểm tra chuyên ngành thông qua việc quy định trình tự kiểm tra, thời hạn kiểm tra và cơ quan, tổ chức thực hiện việc kiểm tra chuyên ngành.

PV - tổng hợp