Nâng cao hiệu quả kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK

Ngày 29/9/2015, Bộ Tài chính đã có tờ trình số 143/TTr-BTC báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK).

Ảnh minh họa - nguồn: internet.Ảnh minh họa - nguồn: internet.

Theo Tổng cục Hải quan việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK tại cửa khẩu nhằm: Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK hàng hóa tại cửa khẩu theo hướng đơn giản hóa thủ tục, nhanh chóng, thuận tiện; giảm chi phí cho doanh nghiệp (DN), giảm chi phí cho ngân sách nhà nước; Giảm thời gian thông quan hàng hóa XNK ngang bằng với các nước ASEAN-6 (Năm 2016 dưới 10 ngày đối với hàng xuất khẩu (XK) và dưới 12 ngày đối với hàng nhập khẩu (NK); Đến năm 2020 còn dưới 05 ngày đối với hàng XK và hàng NK); Tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích XK hàng hóa của Việt Nam; tạo hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa NK (nhất là những mặt hàng Nhà nước không khuyến khích NK); bảo vệ hợp lý sản xuất trong nước, bảo vệ môi trường, quyền lợi và sức khỏe cộng đồng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ, đúng quy định pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế đối với hàng hóa XNK, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, an toàn kinh tế; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cũng theo Tổng cục Hải quan những lĩnh vực, mặt hàng thuộc diện kiểm tra chuyên ngành do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện đó là hàng hóa gây nguy hại đến sức khỏe cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường, nguy hại cho kinh tế, cho an ninh quốc gia (hàng hóa thuộc diện phải kiểm dịch động vật, thực vật, y tế, hóa chất độc hại, thuốc trừ sâu, phế liệu, phế thải, vũ khí, chất phóng xạ...). Những mặt hàng này phải được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ ngay tại cửa khẩu, tại các địa điểm có sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Xã hội hóa hoạt động kiểm tra chuyên ngành: Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác định những lĩnh vực, mặt hàng thuộc diện kiểm tra chuyên ngành thực hiện xã hội hóa; Ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định, điều kiện thực hiện xã hội hóa; Quy định việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK tại cửa khẩu nhằm góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Hoạt động kiểm tra chuyên ngành phải phù hợp với thông lệ quốc tế, với các Công ước/Hiệp định quốc tế Việt Nam đã ký kết và tham gia; áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong kiểm tra chuyên ngành; thừa nhận kết quả kiểm tra chuyên ngành của nước XNK, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), trao đổi dữ liệu điện tử…

Để triển khai thành công đề án, Tổng cục Hải quan cho rằng cần: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Đổi mới phương pháp kiểm tra chuyên ngành theo hướng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, giảm chi phí, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa. Đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Đẩy mạnh công tác truyền thông, đào tạo và nâng cao năng lực hoạt động kiểm tra chuyên ngành cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa.

Để xây dựng đề án, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã chủ trì phối hợp với đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giao thông vận tải tổ chức khảo sát thực tế tại một số cửa khẩu có lưu lượng hàng hóa XNK lớn và tại một số cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN) và tại một số DN XNK hàng hóa thuộc đối tượng KTCN, cụ thể: Cục hải quan tỉnh, thành phố (tại một số chi cục hải quan nơi có lưu lượng hàng hóa XK, NK lớn). Cơ quan kiểm tra chuyên ngành thực hiện kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XK, NK. Một số DN thường xuyên làm thủ tục XK, NK hàng hóa thuộc diện kiểm tra chuyên ngành và quản lý chuyên ngành tại các tỉnh, thành phố.

(H.P)