Quản lý tuân thủ đối với doanh nghiệp - Bước tiến sâu trong nghiệp vụ hải quan

Qua gần mười năm thực hiện Luật Hải quan (2005) và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như thực tế áp dụng đối với quản lý rủi ro (QLRR), công tác này đã có tiến triển vượt bậc cả về nhận thức và hành động, đem đến thành công trong cải cách thủ tục hành chính về hải quan, tiết kiệm chi phí, thông quan nhanh và hiệu quả ở cả doanh nghiệp và hải quan.

Ảnh minh họa - nguồn: Website Cục Hải quan TP.HCM.Ảnh minh họa - nguồn: Website Cục Hải quan TP.HCM.
Bước tiếp theo của Luật Hải quan năm 2014, cơ quan hải quan phải bắt tay vào nghiên cứu triển khai Quản lý tuân thủ hải quan (Customs Compliance Management) - một vấn đề đã được Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) nêu trong Cẩm nang về gian lận thương mại là “quản lý mức độ của các thương nhân tuân thủ pháp luật, quy định và chính sách mà cơ quan Hải quan phải thực thi”. Đây là một bước tiến sâu hơn trong nghiệp vụ quản lý hải quan hiện đại. Từ kinh nghiệm về lĩnh vực này, Hải quan Australia đã đưa ra rằng “Quản lý tuân thủ của cơ quan Hải quan là chương trình hỗ trợ các khách hàng có mong muốn và có khả năng tuân thủ pháp luật, các quy định và chính sách mà cơ quan Hải quan phải thực thi”.

Mục đích cơ bản  của Quản lý tuân thủ hải quan là tăng cường mức độ và đảm bảo sự tuân thủ luật pháp quốc gia từ người nhập khẩu (NK), xuất khẩu (XK), đại lý làm thủ tục hải quan và các đối tượng khác có liên quan đến hàng hóa XNK... Khi việc trao đổi buôn bán thương mại toàn cầu tăng cao, ảnh hưởng dây chuyền đến dòng lưu chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác dẫn đến kim ngạch XNK tăng cao thì khả năng kiểm soát hàng hóa với nguồn lực hải quan hạn chế sẽ dẫn đến thất thoát nguồn thu ngân sách, không quản lý chặt chẽ các mặt hàng XNK có điều kiện theo yêu cầu của các bộ, ngành chức năng; việc áp dụng quản lý tuân thủ dựa trên cơ sở QLRR sẽ hạn chế tình trạng can thiệp trực tiếp của cơ quan hải quan (từ đó giảm thời gian thông quan, tạo thuận lợi cho thương mại), đồng thời có thể gia tăng việc kiểm soát hải quan qua theo dõi, đánh giá lịch sử tuân thủ của người NK, XK.

Quản lý tuân thủ trong lĩnh vực hải quan là một công cụ hữu hiệu giúp cơ quan hải quan giám sát, đánh giá được đầy đủ nhất các hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế và áp dụng các biện pháp, chế tài xử phạt có tính chất ngăn chặn, giáo dục đối với các đối tượng hoạt động liên quan đến XNK, xuất nhập cảnh (XNC) không tuân thủ pháp luật. Quản lý tuân thủ hải quan hướng đến nhiều khu vực tiềm ẩn rủi ro cao mà lĩnh vực hải quan luôn để mắt đến:

- Kiểm soát các địa bàn khu vực biên giới, cửa khẩu đất liền, cảng biển, sân bay quốc tế nơi làm thủ tục hải quan cho tàu bè, phương tiện vận tải, hành khách qua lại;

- Kiểm soát hàng hóa với các loại hình xuất nhập, lưu giữ, vận chuyển qua lại kho bãi, kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm kiểm tra, CFS, ICD…;

- Quản lý công tác thu nộp thuế cho ngân sách nhà nước (gồm kiểm tra việc tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế, mức thuế được giảm, miễn thuế, chế độ ưu đãi thuế khác…

Luật Hải quan năm 2014 đã quy định tại khoản 2 Điều 17 cơ quan hải quan có nhiệm vụ : “Xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan”. Như vậy, cơ sở pháp lý cao nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam đã cho phép triển khai thực hiện theo khuyến nghị của WCO. Để tổ chức thực hiện đánh giá tuân thủ pháp luật, cơ quan Hải quan phải tiến hành quản lý tuân thủ trên cơ sở: 

+ Rà soát các quy trình thủ tục, quy định, hướng dẫn để hài hòa hóa và đơn giản hóa các thủ tục hải quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi, đơn giản hơn nữa và đồng nhất thực hiện;

+ Tuyên truyền, hướng dẫn, giới thiệu kỹ thuật QLRR, quản lý tuân thủ như: Đánh giá rủi ro, lập hồ sơ rủi ro và kỹ thuật lựa chọn nhằm xác định lô hàng có rủi ro cao cho mục đích kiểm tra thực tế, giúp giải phóng phần lớn lượng hàng từ khu vực kiểm soát hải quan;

+ Áp dụng mạnh mẽ phương thức kiểm tra sau thông quan trên cơ sở kết hợp quản lý rủi ro; dùng kết quả kiểm tra sau thông quan để đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp;

+ Có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và phát triển hệ thống dữ liệu thương mại điện tử tự động;

+ Phối kết hợp với các cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan liên quan đến công tác quản lý xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh để hợp tác chặt chẽ, toàn diện mới đánh giá được hết các hoạt động của người XK, NK và các bên liên quan.

Theo Chiến lược về Hải quan trong thế kỷ 21, với khối lượng công việc ngày càng tăng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu cơ quan Hải quan sẽ buộc phải nghiên cứu và hiểu biết cặn kẽ hơn về tính liên tục của rủi ro. Theo đó, không bao giờ rủi ro mất đi; hàng hóa, phương tiện vận tải và con người càng dịch chuyển nhiều thì rủi ro càng gia tăng; do vậy cơ quan hải quan cần tập trung các nguồn lực hữu hạn của mình vào việc phát hiện những miền rủi ro cao xuất hiện qua theo dõi lịch sử phát triển của nó và xử lý những mục tiêu đã nhắm đến hiệu quả hơn.

Trong lĩnh vực hải quan, việc áp dụng QLRR đối với hàng hoá, phương tiện vận tải hoặc hành khách XNC được bắt đầu từ địa điểm XK hoặc nơi khởi hành và được tiếp tục thực hiện bằng việc kiểm tra tại địa điểm NK hoặc nơi đến, đó là một chu trình khép kín theo vòng tròn mang tính quy luật. Vòng kiểm soát của cơ quan hải quan cũng được thiết lập tương ứng từ trước khi các hoạt động XK hàng hóa được bắt đầu cho đến khi kết thúc việc NK hàng hóa đó và đưa đối tượng vào lưu thông. Hàng hóa được kiểm soát trong quá trình đánh giá rủi ro theo hệ thống từ trước khi thông quan rồi qua quá trình thông quan. Và nếu còn sót lọt vấn đề gì chưa thể phát hiện ra vi phạm thì còn hoạt động kiểm tra sau thông quan sẽ thực hiện tiếp nhiệm vụ của mình.

Ở đây muốn đề cập đến thuật ngữ “đa tầng” trong quản lý tuân thủ khi nói đến tập hợp toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ mà cơ quan Hải quan thực hiện trong cả không gian lẫn thời gian. Cơ quan hải quan đưa ra các quyết định của mình một cách chắc chắn và quyết đoán trong quá trình theo dõi quản lý dòng lưu chuyển của hàng hóa, phương tiện và con người là dựa vào các động thái cụ thể của từng đối tượng trong suốt quá trình vận hành của chuỗi dây chuyền cung ứng. Phương pháp quản lý tuân thủ hiện đại đã chứng minh được cơ quan hải quan có thể và cần thiết phải áp dụng các chiến lược giảm thiểu rủi ro trong suốt quá trình hoạt động của chuỗi dây chuyền cung ứng.

Quản lý tuân thủ cũng cho ta thấy sẽ hiệu quả hơn và tiết kiệm nguồn lực hơn nếu kết hợp nhiều biện pháp, yếu tố quản lý cùng với nhau, ví như có thể kết hợp được giữa hệ thống pháp luật, kỹ thuật công nghệ tiến tiến và giải pháp hành động, thì phương pháp quản lý tuân thủ “đa tầng” nêu trên sẽ giúp nâng cao việc xác định các rủi ro tiềm ẩn. “Đa tầng” ở đây là suốt quá trình trước, trong và sau khi kiểm tra hải quan; cả không gian và thời gian; cả trong và ngoài đối tượng quản lý; cả trong nước và ngoài nước, trong ngành và ngoài ngành Hải quan khi hợp tác và phối hợp hành động giữa các quốc gia, các đơn vị với nhau.

Trong giai đoạn 2016-2020, Hải quan Việt Nam muốn tạo được chuyển biến nâng lên tầm cao mới, rút ngắn khoảng cách phát triển với nhóm Hải quan tiên tiến trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương thì phải nhanh chóng áp dụng phương pháp quản lý tuân thủ doanh nghiệp dựa trên cơ sở QLRR hiện đại.

Phương pháp quản lý tuân thủ đòi hỏi cơ quan Hải quan hiện đại phải tiến hành các biện pháp hành chính bao gồm đưa vào áp dụng giải pháp dịch vụ khách hàng, giáo dục và nâng cao ý thức tự nguyện chấp hành pháp luật, hỗ trợ kỹ thuật bằng cách hướng dẫn cài đặt các chương trình phần mềm miễn phí và tư vấn chế độ chính sách mới ban hành, tham vấn và hợp tác trong các vấn đề có liên quan đến quyền lợi của cả hai bên; xuất bản các phán quyết chính thức và các cơ chế khiếu nại chính thức; xây dựng được một cộng đồng doanh nghiệp ưu tiên với con số hàng trăm doanh nghiệp.

Việc áp dụng một khuôn khổ quản lý tuân thủ chuẩn mực sẽ giúp cho cơ quan Hải quan tiết kiệm được nguồn lực khi thực hiện các thủ tục hải quan, kiểm tra, kiểm soát, giám sát hải quan và đưa ra quyết định hành chính chính xác, hiệu quả dựa trên các nguyên tắc đánh giá phân tích và xử lý các rủi ro có nguồn gốc lịch sử, từ đó cho phép tạo ra một sự cân bằng giữa tạo điều kiện thuận lợi và kiểm soát an toàn chuỗi dây chuyền cung ứng hàng hóa trong một chu kỳ phát triển mới đến năm 2020.

(Theo portal Tổng cục Hải quan)