Sẽ kết nối 180 doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng biển, cảng hàng không

(eFinance Online) - Đó là thông tin do ông Lê Đức Thành, Phó cục trưởng, Cục CNTT và Thống kê hải quan (Tổng cục Hải quan) đưa ra tại Hội nghị giao ban trực tuyến quý I/2018, phương hướng nhiệm vụ quý II/2018 của Tổng cục Hải quan.
Ông Lê Đức Thành, Phó cục trưởng, Cục CNTT và Thống kê hải quan (Tổng cục Hải quan). Ảnh: Tuấn Dũng.Ông Lê Đức Thành, Phó cục trưởng, Cục CNTT và Thống kê hải quan (Tổng cục Hải quan). Ảnh: Tuấn Dũng.

Ông Thành cho biết, tính đến ngày 30/03/2018, hệ thống quản lý hàng hóa hải quan tự động đã được triển khai tại 4 đơn vị: Cục Hải quan TP. Hải Phòng, Cục Hải quan TP. Hà Nội, Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, Cục Hải quan Bà Rịa – Vũng Tàu. Kết quả triển khai tại 04 đơn vị trên khẳng định tính đúng đắn và hướng đi tất yếu của việc triển khai Hệ thống quản lý hàng hóa hải quan tự động tại các cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu đường bộ đến các kho, bãi, cảng nội địa trong thời gian tới. Những bài học rút ra được từ quá trình triển khai tại 04 đơn vị nêu trên sẽ là tiền đề để mở rộng Hệ thống quản lý hàng hóa hải quan tự động trong năm 2018.

Nâng cao hiệu quả quản lý, hỗ trợ doanh xuất nhập khẩu

Trong thời gian vừa qua, ngành Hải quan đã đẩy mạnh cải cách và hiện đại hóa hải quan, trong đó ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong các khâu nghiệp vụ hải quan. Kết quả cải cách hiện đại hóa hải quan đã mang đến nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan. Tuy nhiên, sức ép nâng cao hiệu quả công tác quản lý cũng như hỗ trợ doanh nghiệp và các bên liên quan trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa ngày càng lớn. Để đáp ứng yêu cầu nêu trên, trong 15 năm qua (2005-2017), công tác hiện đại hóa quản lý hải quan đã được Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đưa thành những nhiệm vụ trọng tâm của ngành tại các Kế hoạch 5 năm của từng giai đoạn:

+ 2005-2010: Quản lý rủi ro và khai điện tử.

+ 2011-2015: Triển khai 5 e: e-Declaration; e-Manifest; e-Payment; e-Permit; e-C/O; e-Office;

+ 2016-2020: Triển khai dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 và 4 cho phép thực hiện thủ tục hải quan mọi lúc mọi nơi bằng mọi phương tiện.

Tuy nhiên, ông Thành cho rằng trong lĩnh vực quản lý, giám sát hàng hóa tại cảng biển, cảng hàng không quốc tế thì vẫn còn chưa thực sự hiệu quả, sự kết nối trao đổi thông tin giữa cơ quan hải quan với các doanh nghiệp kinh doanh cảng vẫn còn rất hạn chế. Điều này dẫn đến việc theo dõi, quản lý hàng tại cảng của cơ quan hải quan gặp nhiều khó khăn; thời gian lưu giữ hàng hóa của doanh nghiệp lâu, chi phí lưu kho bãi của hàng hóa lớn.

Vì vậy, việc triển khai Đề án quản lý, giám sát hàng hóa tại cảng biển, cảng hàng không quốc tế trong bối cảnh hiện nay trở thành đòi hỏi rất bức thiết nhằm đáp ứng các mục tiêu sau: Nhằm đơn giản hóa, hài hòa thủ tục hải quan với thủ tục của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng biển, cảng hàng không và các bên liên quan thông qua việc cơ quan hải quan áp dụng hệ thống công nghệ thông tin tập trung để trao đổi, cập nhật thông tin với doanh nghiệp kinh doanh cảng, sân bay, kho bãi giúp theo dõi chặt chẽ, kịp thời quá trình di chuyển, biến động và tình trạng của hàng hóa từ khi vào đến khi ra khỏi và vận chuyển giữa các địa điểm chịu sự giám sát hải quan; rút ngắn thời gian và chi phí làm thủ tục của người khai hải quan; đồng thời tăng cường công tác quản lý của cơ quan hải quan trong việc kiểm tra, giám sát và kiểm soát hải quan, nâng cao tính tuân thủ của doanh nghiệp, ngăn ngừa gian lận thương mại, phòng chống buôn lậu và đảm bảo an ninh quốc gia.

Đồng thời, việc triển khai hệ thống quản lý hàng hóa hải quan tự động giúp nâng cao tính tự động hóa của hệ thống công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ công tác kiểm tra, đối chiếu và đánh giá rủi ro, giám sát và kiểm soát hải quan.

Mở rộng hệ thống quản lý hải quan tự động

Trong quý I/2018, Cục CNTT và Thống kê hải quan, Cục Giám sát quản lý đã phối hợp chặt chẽ với Cục Hải quan TP. Hải Phòng để đảm bảo triển khai đầy đủ, an ninh, an toàn hệ thống quản lý hải quan tự động tại tất cả các đơn vị thuộc Cục . Theo đó, các vướng mắc phát sinh đã được xử lý kịp thời. Đến nay, hầu như không phát sinh thêm các vướng mắc, khó khăn. Hệ thống vận hành ổn định.

Bên cạnh đó, Cục CNTT và Thống kê hải quan, Cục Giám sát quản lý đã phối hợp với Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu triển khai mở rộng hệ thống quản lý hải quan tự động một cách vững chắc

Trên cơ sở bài học kinh nghiệm từ triển khai hệ thống quản lý hải quan tự động tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng, Cục CNTT và Thống kê hải quan, Cục Giám sát quản lý đã cử các đoàn công tác, phối hợp chặt chẽ với Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai mở rộng hệ thống quản lý hải quan tự động như: Khảo sát và chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật, phương án triển khai, tập huấn, đào tạo, quản lý, vận hành hệ thống,… Kết quả, trong quý I/2018, Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh đã triển khai thành công hệ thống quản lý hải quan tự động tại 03 chi cục. Cục Hải quan Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng triển khai thành công tại 03 chi cục.

Cũng trong quý I/2018, Cục CNTT và Thống kê hải quan tiếp tục phối hợp với Cục Hải quan TP. Hà Nội để xử lý các vướng mắc phát sinh trong triển khai hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng hàng không, làm tiền đề để triển khai mở rộng hệ thống này trong thời gian tới tại Cục Hải quan TP. Hà Nội.

Trong quý I/2018, Cục CNTT và Thống kê hải quan cũng đã cử đoàn công tác xuống Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh để phối hợp rà soát hiện trạng hạ tầng kỹ thuật và chuẩn bị điều kiện cần thiết để triển khai hệ thống trong thời gian tới. Đến nay, công tác chuẩn bị của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh đã cơ bản hoàn thành. Dự kiến, trong tháng 4/2018 sẽ triển khai hệ thống này tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh.

Hiệu quả mang lại

Đề cập tới hiệu quả đối với doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng, khi triển khai hệ thống này, ông Thành cho biết: Doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng được đảm bảo thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi được quy định tại Luật Hải quan 2014, Nghị định 08/2015/NĐ-CP; được cơ quan hải quan cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin (dưới dạng điện tử) về dự kiến hàng đến kho, bãi, cảng (thông qua Manifest), hàng hóa được cơ qua hải quan cấp phép thông quan (thông qua tờ khai và các chứng từ liên quan) từ đó chủ động trong việc xây dựng kế hoạch khai thác cảng cũng như chủ động phối hợp doanh nghiệp trong việc đưa hàng ra khỏi cảng;

Bên cạnh đó, việc tự động hóa trong khai thác cảng góp phần giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng công suất khai thác và tăng năng lực cạnh tranh đồng thời công khai, minh bạch quy trình quản lý. Chủ động trong việc thực hiện chế độ quản lý, thống kê, lưu giữ chứng từ, sổ sách, cung cấp thông tin, số liệu hàng hóa đưa vào lưu giữ, đưa ra khỏi khu vực cảng, kho, bãi trên hệ thống điện tử.

Đồng thời, hỗ trợ hoạt động khai thác, kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi. Giảm bớt chi phí quản lý, tổng hợp, báo cáo về hàng hóa ra, vào, tồn trong khu vực giám sát hải quan của doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi.

Còn đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK), ông Thành cho biết thêm: Khi nhận hàng tại khu vực kho, bãi, cảng, doanh nghiệp XNK không phải xuất trình chứng từ để cơ quan hải quan kiểm tra, xác nhận trên hệ thống và chứng từ giấy như trước đây. Doanh nghiệp có thể kiểm tra được trạng thái hàng hóa (thông qua mạng internet), không cần di chuyển giữa bộ phận giám sát hải quan và doanh nghiệp kinh doanh cảng điều này góp phần giảm thời gian lấy hàng ra khỏi cảng. Theo tính toán của Cục Hải quan TP. Hải phòng trước đây chỉ riêng thời gian trung bình để cán bộ hải quan xác nhận cho 1 tờ khai khoảng 2 phút; tính bình quân 1 ngày có 7.592 tờ khai hải quan qua cảng Hải phòng, như vậy sẽ tổng thời gian hàng hóa qua khu vực giám sát sẽ giảm đối với 7.592 tờ khai/ngày là: 7.592 x 2 phút = 15.184 phút = 253 giờ.

Một ví dụ điển hình về giám chi phí cho doanh nghiệp đó là khi thực hiện theo quy trình cũ, doanh nghiệp cần in và xuất trình cho bộ phận giám sát hải quan và doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng danh sách container và danh sách hàng hóa đủ điều kiện qua khu vực giám sát, trong khi đó với quy trình mới không cần việc này. Tính sơ bộ trong năm 2017, toàn quốc có 4,79 triệu containner nhập khẩu được khai hải quan, nếu 1 trang A4 thể hiện được 10 container (do còn kèm theo mã vạch) thì tổng số lượng trang cần sử dụng để in là 479.000 trang giấy.

Đối với cơ quan hải quan: Cơ quan hải quan quản lý toàn bộ quá trình từ khi hàng hóa được khai báo trên thông tin manifest điện tử (đối với hàng nhập khẩu), đưa vào cũng như đến khi ra khỏi khu vực giám sát hải quan và vận chuyển về các địa điểm giám sát khác; kịp thời nắm bắt các diễn biến, thông tin thay đổi nguyên trạng bao bì đóng gói hàng hóa, vị trí lưu giữ hàng hóa, theo dõi hàng tồn,..

Thông tin quản lý, giám sát hàng hóa xuyên suốt được trao đổi, cập nhật thông qua phương thức điện tử giúp công tác quản lý rủi ro, kiểm soát chống buôn lậu, giám sát hải quan, theo dõi, xử lý hàng tồn...  đạt hiệu quả hơn ở cả 3 cấp (cấp Tổng cục, cấp Cục và cấp Chi cục); Đồng thời kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi theo quy định tại Luật Hải quan 2014.

Trước khi triển khai đề án, một số công đoạn nghiệp vụ vẫn thực hiện thủ công, sử dụng văn bản giấy như: Công đoạn trước, trong quá trình khi dỡ hàng từ PTVT xuống cảng: Danh sách hàng hóa phải kiểm tra trong quá trình xếp dỡ; danh sách hàng hóa có dấu hiệu sai khác. Công đoạn trong quá trình lưu giữ hàng hóa tại cảng: thay đổi nguyên trạng hàng hóa (bao bì, rút cont, đóng ghép...), xem hàng trước, lấy mẫu kiểm dịch, kiểm tra chất lượng...Công đoạn hàng hóa đưa ra khỏi khu vực giám sát: Xác nhận thông tin hàng hóa đủ điều kiện qua khu vực giám sát trên mẫu 29/30 do người khai hải quan cung cấp; quyết định "Dừng đưa hàng qua khu vực giám sát".

Các công đoạn này được thực hiện hoàn toàn qua hệ thống quản lý hàng hóa hải quan tự động, giảm bớt thủ tục giấy tờ dẫn đến giảm thời gian giải quyết thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, qua đó giúp cơ quan hải quan có thêm nhân sự để bố trí, tăng cường cho các bộ phận nghiệp vụ khác.

Một số tồn tại, hạn chế

Bên cạnh kết quả đạt được nói trên, việc triển khai hệ thống quản lý hàng hóa hải quan tự động trong thời gian vừa qua vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như sau: Hiện nay, hệ thống quản lý hàng hóa hải quan tự động đã được triển khai tại TP. Hải Phòng, TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Cơ sở pháp lý cho việc triển khai hệ thống trên chỉ mới được quy định bằng quyết định thí điểm của Bộ Tài chính. Do đó, ông Thành cho rằng,  trong thời gian tới, cần sớm ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ban hành ngày 21/01/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan và Thông tư sửa đổi Thông tư số 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, để làm cơ sở cho việc triển khai mở rộng đề án trên phạm vi toàn quốc.

Thêm vào đó, việc phối hợp thực hiện giữa các bên gồm hãng vận tải, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, doanh nghiệp XNK, cơ quan hải quan còn chưa đồng bộ điều này làm giảm hiệu quả của đề án. Ví dụ như việc khai báo Manifest của hãng vận tải đường biển, đường không còn nhiều sai sót thường xuyên phải chỉnh sửa; việc khai báo số định danh đối với hàng hóa của doanh nghiệp XNK chưa thành thói quen; việc cung cấp thông tin của doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi còn chưa ổn định đôi lúc có sai sót; việc vận hành của cán bộ giám sát trên hệ thống VACCSM còn chưa thuần thục.

Các vấn đề trên đòi hỏi phải có các văn bản quy định thống nhất trên phạm vi toàn quốc cũng như có sự hỗ trợ hướng dẫn thực hiện từ các chi cục hải quan.

Do hệ thống VACCSM cần kết nối với 4 phân hệ lõi của ngành Hải quan gồm: Một cửa, VNACCS/VCIS, thông quan điện tử, quản lý rủi ro nên yêu cầu về tính đồng bộ cao tuy nhiên điều kiện hiện tại về hạ tầng trang thiết bị máy móc thiếu điều này sẽ có ảnh hướng rất lớn đến kết quả của việc triển khai mở rộng.

Kế hoạch triển khai trong 2018

Theo ông Thành, đến hết quý III/2018, các cục hải quan tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Cần Thơ hoàn thành việc triển khai hệ thống quản lý hàng hóa hải quan tự động tại tất cả các cảng biển, cảng hàng không tại đơn vị mình.

Trên cơ sở kết quả khảo sát của các cục hải quan tỉnh, thành phố nêu trên. Dự kiến đến cuối năm 2018 sẽ thực hiện kết nối, trao đổi thông tin với khoảng 180 doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng biển, cảng hàng không.

Đối tượng tham gia gồm: cơ quan hải quan và các doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng đường biển, đường không, các hãng tàu, hãng hàng không, đại lý hãng tàu, đại lý giao nhận, đại lý hải quan, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các cơ quan quản lý của các bộ, ngành và những bên liên quan khác.

Phương An