Sửa Luật Thuế XNK đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí cho doanh nghiệp

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 (sau đây gọi là Luật thuế XNK). Qua 10 năm thực hiện, Luật thuế XNK đã tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế-xã hội của đất nước và đạt được các mục tiêu đề ra khi ban hành Luật.

Ảnh minh họa - nguồn: Báo Hải quan.Ảnh minh họa - nguồn: Báo Hải quan.

Thành tựu nổi bật

Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, Luật thuế XNK đã tạo khuôn khổ pháp lý góp phần quan trọng trong thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, phù hợp với tiến trình cải cách đồng bộ hệ thống chính sách thuế giai đoạn 2005 đến 2015.

Luật thuế XNK đã tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Các quy định tại Luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán và thực hiện cam kết quốc tế về thuế quan khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Việc quy định 3 loại thuế suất thuế nhập khẩu là thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường đã tạo cơ sở để áp dụng các mức thuế nhập khẩu phân biệt theo mức độ cam kết về quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan... và qua đó, thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo nguyên tắc có đi có lại. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ; có thỏa thuận về quy chế tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. 

Bên cạnh đó, luật thuế XNK góp phần tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất và xuất khẩu, hỗ trợ dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời, bảo hộ hợp lý, có điều kiện, có chọn lọc đối với một số nhóm mặt hàng, ngành nghề phù hợp với tiến trình hội nhập và định hướng phát triển của Nhà nước giai đoạn 2005 đến 2015.

Các quy định về miễn thuế, xét miễn thuế, hoàn thuế, không thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã được quy định cụ thể, rõ ràng theo định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ, trong đó tập trung ưu đãi đối với máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu quan trọng theo lĩnh vực hoặc địa bàn đầu tư cần ưu tiên phát triển, góp phần khuyến khích phát triển sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng thời, việc bảo hộ hợp lý, có điều kiện, có chọn lọc đã tạo điều kiện hình thành một số ngành nghề, doanh nghiệp phát triển, tạo việc làm cho người lao động, góp phần đảm bảo an sinh và ổn định xã hội. Đồng thời, cùng với các chính sách khác đã tạo môi trường pháp lý đồng bộ, thuận lợi hơn cho việc quản lý và khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy quan hệ thương mại với các nước, nhóm nước, nhất là quan hệ với các đối tác thương mại lớn như các nước ASEAN, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản.

Tỷ trọng số thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong tổng thu NSNN giảm nhưng số thu vẫn tăng hợp lý hàng năm, góp phần điều chỉnh cơ cấu thu NSNN theo hướng bền vững và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước trong chống gian lận thương mại, chống thất thu thuế.

Tồn tại hạn chế

Theo Tổng cục Hải quan bên cạnh các kết quả tích cực đạt được, Luật thuế XNK hiện hành cũng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế sau: Thứ nhất, Việt Nam đã gia nhập WTO được 8 năm và ký kết 10 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Thời gian tới Việt Nam sẽ tiến tới ký kết một số FTA quan trọng như Hiệp định đối tác kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Việt Nam – EU. Từ năm 2018 trở đi, mức thuế suất thuế nhập khẩu về cơ bản sẽ được xóa bỏ theo các cam kết thuế quan. Theo đó, để góp phần bảo vệ sản xuất trong nước, cần thiết phải bổ sung, nâng cấp cơ sở pháp lý một số nội dung quan trọng về các biện pháp phòng vệ thương mại về thuế (thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ…) quy định ở 3 Pháp lệnh hiện hành thành nội dung của Luật nhằm phát huy công cụ hữu hiệu này trong bảo vệ sản xuất trong nước, trong trường hợp các ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại hoặc bị đe dọa thiệt hại do các hành vi bán phá giá, trợ cấp, phân biệt đối xử của các đối tác thương mại, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ hai, luật thuế XNK ban hành từ năm 2005 nên một số nội dung quy định tại Luật không còn phù hợp với quy định của hệ thống pháp luật nói chung và một số luật liên quan gần đây như Luật Quản lý thuế, Luật Hải quan, Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ môi trường…và thực tiễn xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa những năm gần đây.

Thứ ba, một số quy định trong Luật hiện hành chưa phù hợp với những nội dung cam kết trong hội nhập quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ tham gia.

Thứ tư, một số quy định trong Luật thuế XNK hiện hành sau một số năm thực hiện đến nay không còn phù hợp, cần được sửa đổi để tạo hành lang pháp lý nhằm đáp ứng các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn mới và định hướng cải cách về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã được xác định trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 như các nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất quy định trong luật chưa bảo đảm khuyến khích phát triển sản xuất và xuất khẩu; số lượng mức thuế suất còn nhiều, phức tạp; quy định về đối tượng miễn thuế, hoàn thuế còn chưa hợp lý làm tăng thủ tục hành chính, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế.

Đổi mới toàn diện phương thức quản lý và chính sách thuế XNK

Bà Lỗ Thị Nhụ, Cục trưởng Cục Thuế XNK cho biết, quan điểm xây dựng Luật thuế XNK của Tổng cục Hải quan là đổi mới toàn diện hơn về phương thức quản lý và chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế theo hướng ổn định, công khai, minh bạch nhằm góp phần thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 và các giai đoạn sau của Đảng, Nhà nước và Chiến lược cải cách hệ thống thuế; đồng thời, phát huy các công cụ phòng vệ về thuế theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao vai trò của công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, góp phần tạo môi trường kinh tế lành mạnh, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, góp phần cải cách thủ tục hành chính, thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.

Do đó, trong dự thảo Luật đã bổ sung các quy định về: thuế phòng vệ để xây dựng môi trường kinh tế lành mạnh; bổ sung những quy định để góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại; khuyến khích phát triển các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi, đặc biệt ưu đãi; tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu, khuyến khích sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hàng hóa Việt Nam có lợi thế; hạn chế xuất khẩu khoáng sản tài nguyên chưa qua chế biến, hàng hóa gia công giá trị gia tăng thấp; đồng thời, thực hiện bảo hộ hợp lý, có thời hạn, phù hợp với thông lệ quốc tế đối với một số hàng hóa sản xuất trong nước; thu gọn số lượng mức thuế suất, từng bước đơn giản biểu thuế, thực hiện mã số hàng hóa thống nhất theo cam kết quốc tế; sửa đổi quy định về phương pháp tính thuế.

Ngoài ra, tại Khoản 2 Điều 10 dự thảo Luật Thuế XK, thuế NK sửa đổi và danh mục nhóm hàng chịu thuế XK không quy định khung thuế suất thuế XK, thay bằng quy định mức thuế tối thiểu đối với một số nhóm hàng chịu thuế XK. Về thẩm quyền thẩm quyền xây dựng biểu thuế, thuế suất đề xuất 2 phương án như sau:

Phương án 1: Quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành mức thuế suất tối thiểu cho từng phân nhóm hàng thuộc danh mục nhóm hàng chịu thuế XK, Bộ Tài chính căn cứ vào nguyên tắc để quy định biểu thuế XK, biểu thuế NK đối với từng mặt hàng, quyết định áp dụng mặt hàng và mức thuế thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp thuế NK ngoài hạn ngạch thuế quan đối với từng mặt hàng.

Ưu điểm của phương án này là đảm bảo tính kịp thời, chủ động trong việc xây dựng mức thuế suất tương ứng với từng thời kỳ, điều chỉnh kịp thời trước những biến động giá cả của thị trường quốc tế, góp phần bình ổn thị trường, phù hợp với tính chất đặc thù của danh mục Biểu thuế NK như phân tích ở trên. Phương án này cũng bảo sự chủ động trong việc thực hiện cắt giảm các mức thuế suất theo cam kết hội nhập.

Tuy nhiên, phương án này có điểm hạn chế là tính ổn định của Biểu thuế chưa cao.

Phương án 2: Sẽ quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành mức thuế suất tối thiểu cho từng phân nhóm hàng thuộc danh mục nhóm hàng chịu thuế XK, Thủ tướng Chính phủ căn cứ vào nguyên tắc để quy định biểu thuế XK, biểu thuế NK đối với từng mặt hàng, quyết định áp dụng mặt hàng và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế NK ngoài hạn ngạch thuế quan, đối với từng mặt hàng trong trường hợp cần thiết.

Việc nâng mức thẩm quyền quyết định hiện nay từ Bộ Tài chính lên mức độ do Thủ tướng Chính phủ quy định cho phù hợp với thực tế và yêu cầu quản lý, phù hợp xu hướng phát triển. Bên cạnh đó, phương án này còn có ưu điểm là đảm bảo sự đồng nhất thẩm quyền ban hành thuế suất, tạo ra sự ổn định cao hơn của Biểu thuế. Thẩm quyền này cũng phù hợp với xu hướng Việt Nam tham gia sâu rộng vào các FTA khi lộ trình cắt giảm thuế quan đã được xác định và phải tuân thủ thực hiện theo đúng cam kết.

Tuy nhiên, hạn chế của phương án này là không tạo sự linh hoạt cao khi giải quyết các vấn đề phát sinh trên thực tế, nhất là trong bối cảnh các chính sách ngành hàng của ta còn có nhiều thay đổi. Bên cạnh đó, giá cả hàng hóa trên thị trường quốc tế có những biến động khó lường đòi sự điều chỉnh kịp thời của mức thuế suất thuế XK, NK để góp phần bình ổn thị trường.

Dự thảo Luật thuế XNK sửa đổi đang được lấy ý kiến góp ý rộng rãi của cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội... trước khi trình Quốc hội thông qua vào tháng 10/2015 tới.

(P.An)