Tạo thuận lợi thương mại liên quan nhiều tới cải cách thủ tục hải quan

Ngày 26/11/2015, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 108/2015/QH13 phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bộ Tài chính giới thiệu một số nội dung chính về Nghị định thư sửa đổi Hiệp định thành lập WTO và Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại (Hiệp định TF).  

Sáng nay (29/1/2016) Tổng cục Hải quan tổ chức họp báo giới thiệu Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại WTO. Ảnh: T.Huyền. Sáng nay (29/1/2016) Tổng cục Hải quan tổ chức họp báo giới thiệu Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại WTO. Ảnh: T.Huyền.

Liên quan đến tạo thuận lợi thương mại, Hiệp định GATT 1994 có ba điều (điều 5, 8 và 10) chưa được cụ thể hóa bằng các văn kiện của WTO chính vì vậy WTO đã tiến hành đàm phán một văn kiện bổ sung có tên: Hiệp định TF để đưa Hiệp định vào phụ lục 1A của Hiệp định WTO. Hiệp định TF sẽ được đưa vào thực hiện thông qua Nghị định thư sửa đổi này.

Hiệp định TF đặt ra các tiêu chuẩn thuận lợi hóa thương mại rõ ràng, thống nhất, toàn diện theo các chuẩn mực quốc tế do đó khi thực hiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các cam kết liên quan đến tạo thuận lợi thương mại khác trong Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đang và sẽ thực hiện như Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á - Âu (VN-EAEU FTA), Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP)...

Hiệp định TF bao gồm 3 phần chính với 24 điều:

Phần I: Quy định về các biện pháp kỹ thuật, tập trung chủ yếu vào 4 nội dung chính: a) Tiếp cận thông tin và tính minh bạch; b) Quản lý các quy định pháp lý liên quan đến thương mại; c) Thông quan hải quan; d) Quá cảnh thương mại.

Phần II: Các điều khoản về đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các quốc gia Thành viên đang phát triển và kém phát triển trong đó có vấn đề hỗ trợ kỹ thuật cho các Thành viên đang và kém phát triển để thực hiện các cam kết của Hiệp định. Nhóm A là cam kết thực hiện ngay khi Hiệp định TF có hiệu lực; Nhóm B là các cam kết thực hiện sau một thời gian chuẩn bị; và Nhóm C là các cam kết thực hiện sau một thời gian chuẩn bị và có sự hỗ trợ kỹ thuật.

Phần III: Các thỏa thuận thể chế và điều khoản cuối cùng. Thỏa thuận về thể chế quy định về việc thành lập Ủy ban Tạo thuận lợi Thương mại trong WTO cũng như thành lập một Ủy ban Tạo thuận lợi Thương mại quốc gia. Các điều khoản cuối quy định cụ thể về hiệu lực của Hiệp định TF, nghĩa vụ của các nước Thành viên khi thực hiện Hiệp định TF, tính pháp lý của danh sách cam kết Nhóm A, B, C; việc bảo lưu cũng như quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh.

Theo quy định tại Phần II của Hiệp định TF, các cam kết tại Phần I của Hiệp định trên cơ sở rà soát thực tiễn quản lý của Thành viên được phân thành 3 nhóm cam kết:

- Cam kết nhóm A - thực hiện ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực;

- Cam kết nhóm B - cần thêm thời gian để chuẩn bị thực hiện sau khi Hiệp định có hiệu lực;

- Cam kết nhóm C - cần thêm thời gian chuẩn bị và hỗ trợ kỹ thuật để thực hiện sau khi Hiệp định có hiệu lực.

Trong số 40 cam kết của Hiệp định, các cam kết được phân nhóm theo các tiêu chí quy định, cụ thể:

- 15 cam kết Nhóm A (đã thông báo cho WTO tháng 7/2014 theo công hàm số 334/VNM.14 của Phái đoàn Việt Nam tại Geneva) gồm:

STT

Điều, khoản

Tên biện pháp

1

1.3

Điểm giải đáp

2

1.4

Thông báo

3

2.1

Cơ hội góp ý và thông tin trước thời điểm có hiệu lực

4

2.2

Tham vấn

5

4.1

Quyền khiếu nại hoặc khiếu kiện

6

6.1

Quy định chung về phí và lệ phí phải thu hoặc có liên quan đến xuất khẩu và nhập khẩu và xử phạt

7

6.2

Quy định cụ thể đánh vào phí và lệ phí hoặc liên quan đến nhập khẩu và xuất khẩu

8

8

Các lô hàng được xử lý nhanh

9

9

Vận chuyển hàng hóa dưới sự giám sát hải quan đối với nhập khẩu

10

10.1

Các yêu cầu về thủ tục và chứng từ

11

10.2

Chấp nhận bản sao

12

10.6

Sử dụng Đại lý hải quan

13

10.7

Các thủ tục quản lý biên giới và yêu cầu chứng từ chung

14

11.1-3

Phí quá cảnh, Quy định, và Thủ tục

15

11.4

Quá cảnh tăng cường không phân biệt đối xử

Căn cứ vào quy định tại Phần II của Hiệp định TF và quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam, 25 cam kết còn lại đang rà soát để phân loại vào các Nhóm B, C và thông báo cho WTO (một năm sau khi Hiệp định TF có hiệu lực). Tính đến thời điểm tháng 25/1/2016, 68 quốc gia và vùng lãnh thổ đã thông báo phê chuẩn Hiệp định TF là: Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, Hoa Kỳ, Mauritius, Malaysia, Nhật Bản, Australia, Botswana, Trinidad và Tobago, Hàn Quốc, Nicaragua, Niger, Belize, Thụy Sĩ, Đài Loan (Trung Quốc), Trung Quốc, Liechtenstein, Lào, New Zealand,  Thái Lan, Togo, Macedonia, Pakistan, Panama, Guyana và 28 nước EU, Việt Nam, Mali, Jamaica, Seychelles.....

Trong quá trình tham gia đàm phán Hiệp định TF từ 2008 đến nay, Việt Nam đã được các thành viên WTO, các tổ chức quốc tế liên quan thông qua nhiều dự án cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, trang thiết bị trị giá gần trăm triệu USD  phục vụ cho định hướng tạo thuận lợi thương mại, và đã giúp Việt Nam điều kiện quan trọng trong công tác cải cách, hiện đại hóa các thủ tục hành chính liên quan như trong lĩnh vực thuế, hải quan.

Có thể kể tên một số dự án như: Dự án về quản lý rủi ro (2007-2010) trị giá 1.083.000 USD; Dự án nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ tại chi cục (2009-2012) trị giá 1.628.412 USD; 02 Dự án trang bị hệ thống máy soi công ten nơ tại cảng Cát Lái (2008-2010) và cảng Hải phòng trị giá 19.073.966 USD; Dự án máy soi công ten nơ tại Lao Bảo trị giá 2 triệu USD; Chương trình xây dựng Hải quan một cửa do Hoa Kỳ tài trợ năm 2010 trị giá 1 triệu USD; Chương trình viện trợ Hệ thống phát hiện chất phóng xạ hàng hóa xuất nhập khẩu trong khuôn khổ sáng kiến Megaports (trị giá 71 tỷ VND) và Chương trình IAEA (trị giá 6 tỷ VND); Dự án viện trợ không hoàn lại hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS trị giá 34 triệu USD (2011-2014); Dự án hỗ trợ kỹ thuật để thực hiện hệ thống VNACCS/VCIS giai đoạn 2 trị giá 5 triệu USD (2015-2018).

Nói về các quyền và nghĩa vụ khi thực hiện Hiệp định TF, ông Nguyễn Toàn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế (Tổng cục Hải quan) cho biết: Được tiếp nhận các hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế, các đối tác nước ngoài để triển khai Hiệp định TF. Sau khi Hiệp định TF có hiệu lực, Việt Nam sẽ phải triển khai ngay các cam kết Nhóm A. Đối với các cam kết chưa triển khai ngay phải tiếp tục rà soát, phân loại vào các Nhóm B, C; xác định thời gian chuyển tiếp; xây dựng lộ trình thực hiện theo cách thức, thời hạn quy định tại phần II của Hiệp định TF. Cần thành lập Ủy ban Tạo thuận lợi Thương mại quốc gia hoặc chỉ định một tổ chức hiện có đảm trách vai trò này để triển khai thực hiện Hiệp định TF một cách hiệu quả, không bỏ lỡ các quyền lợi về hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực của một nước Thành viên đang phát triển.

Đề cập tới lợi ích khi triển khai thực hiện Hiệp định TF, ông Toàn cho biết thêm: Về khía cạnh chính trị, đối ngoại, việc phê chuẩn Hiệp định TF phù hợp với đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định mong muốn và nỗ lực của Việt Nam trong việc tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và quốc tế, đặc biệt là việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015.

Về kinh tế xã hội, Hiệp định TF sẽ thúc đẩy và tạo thuận lợi cho hoạt động vận chuyển, thông quan, giải phóng hàng hóa xuất nhập khẩu, thủ tục quá cảnh tại các cửa khẩu. Mặt khác, sau khi phê chuẩn, Việt Nam có cơ hội nhận được và sử dụng các hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế, các cơ quan hải quan nước ngoài để thực hiện Hiệp định. Các hỗ trợ này sẽ góp phần vào công cuộc cải cách và hiện đại hóa của ngành hải quan nói riêng và cải cách thủ tục tại biên giới nói chung, góp phần vào sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài. Nói cách khác, việc phê chuẩn và triển khai Hiệp định góp phần đẩy mạnh tiến trình thực hiện cải cách thể chế và cải cách hành chính đặc biệt trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan theo tiêu chuẩn quốc tế.

Về pháp luật, đa số các nghĩa vụ cam kết trong Hiệp định TF được xây dựng dựa trên Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan sửa đổi (Công ước Kyoto sửa đổi), do đó, hầu hết các cam kết trong Hiệp định TF đã được nội luật hóa trong hệ thống pháp luật của Việt Nam.

Theo ông Toàn, Bộ Tài chính sẽ chủ trì triển khai một số công việc trong thời gian tới gồm: Rà soát các cam kết của Hiệp định chưa được quy định chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để đề xuất cụ thể về việc sửa đổi hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật để đảm bảo ban hành đầy đủ, kịp thời; Xây dựng Kế hoạch thực hiện Hiệp định; Phổ biến danh sách Nhóm A, nhóm cam kết thực hiện ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực; Tiến hành phân nhóm cam kết B, C và xây dựng lộ trình thực hiện theo quy định của Hiệp định TF (1 năm sau khi Hiệp định TF có hiệu lực); Triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung của Hiệp định tới các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân, đặc biệt cộng đồng doanh nghiệp và khuyến khích sự tham gia của tổ chức, cá nhân và cộng đồng doanh nghiệp trong việc triển khai thực hiện Hiệp định. Thành lập một đầu mối chỉ đạo quốc gia để triển khai các nội dung tạo thuận lợi thương mại của Hiệp định TF và các văn kiện quốc tế liên quan khác trên cơ sở đầu mối đã có (dự kiến Bạn Chỉ đạo quốc gia về cơ chế một cửa ASEAN và cơ chế hải quan một cửa quốc gia).

Cũng theo ông Toàn, những quy định về tạo thuận lợi thương mại trong Hiệp định TF hiện nay thực chất là các nội dung cốt lõi của cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quan lý hải quan mà Chính phủ đang chỉ đạo tích cực thực hiện từ trước đến nay và đặc biệt gần đây với việc ban hành Nghị quyết số 19/2015/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016.

(P.An)