Thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa

Hiệp định chính của Hiệp định GMS, Điều 7 quy định: đối với hàng hóa vận chuyển quá cảnh quốc tế, các bên kí kết miễn kiểm tra chi tiết hải quan thông thường tại biên giới, áp tải của hải quan bên trong lãnh thổ quốc gia đó và ký quỹ để bảo lãnh cho việc nộp thuế hải quan.

Thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa

Để có thể thực hiện được quy định này, Phụ lục 6 quy định những chi tiết kỹ thuật về thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa áp dụng đối với hoạt động vận tải quá cảnh.

1. Định nghĩa về quá cảnh quốc tế và quá cảnh nội địa (quốc gia)

Để có cách hiểu thống nhất về vận tải quá cảnh giữa các cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ thực hiện Hiệp định (hải quan, giao thông vận tải, cơ quan/tổ chức phát hành và bảo lãnh), Điều 1 của Phụ lục 6 đã định nghĩa về quá cảnh như sau:

Quá cảnh quốc tế: là phần hoạt động vận tải giữa hai cửa khẩu quốc tế nơi hàng hóa nhập vào và xuất ra khỏi lãnh thổ quốc gia của một Bên ký kết.

Quá cảnh nội địa (quốc gia): (a) là phần hoạt động vận tải giữa điểm làm thủ tục và cửa khẩu quốc tế nơi hàng hóa xuất ra khỏi lãnh thổ của một Bên ký kết; hoặc (b) là phần hoạt động vận tải giữa cửa khẩu quốc tế nơi hàng hóa nhập vào lãnh thổ của một Bên ký kết và điểm làm thủ tục hải quan nội địa.

2. Phạm vi áp dụng chế độ thủ tục hải quan được quy định tại Phụ lục 6

Căn cứ thực trạng của các nước trong Tiểu vùng, khả năng quản lý và cung cấp dịch vụ của Cơ quan hải quan của các nước, năng lực thực tế của Người hoạt động vận tải qua biên giới của các nước trong Tiểu vùng, Điều 1 điểm b của Phụ lục 6 quy định phạm vi áp dụng chế độ thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa như sau:

- Chế độ quy định tại Phụ lục này chỉ áp dụng đối với quá cảnh quốc tế và quá cảnh nội địa khi hoạt động vận tải quốc tế (có nghĩa là vận tải qua biên giới) và các hoạt động vận tải này phải được thực hiện theo các tuyến đường và các cửa khẩu biên giới được quy định trong Nghị định thư 1 của Hiệp định.

- Chế độ quy định tại Phụ lục này chỉ áp dụng đối với động vận tải để lấy tiền công.

Như vậy chế độ thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa được quy định tại Phụ lục 6 sẽ chỉ áp dụng đối với các hoạt động vận tải qua biên giới mang tính chất thương mại.

- Chế độ quy định tại Phụ lục này sẽ không áp dụng cho các hàng hóa có cùng một niêm phong như quy định tại điều 3 (b) (i) của Phụ lục này và được khai chung tại một Hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa như quy định tại Điều 4 của Phụ lục này, nếu hàng hóa có nhiều điểm xuất phát và điểm đến, vì nó đòi hỏi hoàn thành thủ tục thông quan nội địa và quá cảnh đối với từng phần hàng được vận tải theo hành trình.

- Chế độ và thủ tục quy định tại Phụ lục này là phương án lựa chọn đối với Người hoạt động vận tải, họ có quyền không sử dụng hệ thống thông quan nội địa và quá cảnh được quy định tại Phụ lục này mà áp dụng các quy định và thủ tục hải quan truyền thống của nước chủ nhà, nếu có.

- Khi điều kiện cho phép, chế độ quy định tại Phụ lục này có thể thay thế thủ tục khai báo hải quan quốc gia đối với vận tải quá cảnh (quốc tế và nội địa).

Với quy định này, phụ lục 6 khuyến khích việc mở rộng đối tượng được áp dụng chế độ thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa khi năng lực quản lý và cung cấp dịch vụ của Cơ quan hải quan của các nước, cũng như năng lực khai thác của Người hoạt động vận tải qua biên giới đáp ứng được những điều kiện kỹ thuật đã được quy định tại Phụ lục.

- Trong trường hợp những Bên ký kết đã thực hiện chế độ thông quan điện tử phù hợp với quy định tại Điều 4 (d) của Hiệp định, Điều 8 của Phụ lục 4 và Điều 7 của Phụ lục 12, thì những Bên ký kết này sẽ thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm tạo thuận lợi cho Người hoạt động vận tải tuân thủ chế độ thông quan điện tử... (Còn nữa)

(Theo Nghiên cứu Hải Quan)