Thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa (tiếp)

Phần tiếp theo sẽ đề cập đến chế độ thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa với 7 điểm chính.
Thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa (tiếp)

3. Chế độ thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa:

3.1 Nguyên tắc cơ bản của thủ tục hải quan quá cảnh:

3.1.1 Miễn khám hải quan, tiền đặt cọc và áp tải trên đường vận chuyển:

Trong trường hợp đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã được quy định tại Phụ lục 6, hàng hóa vận tải qua biên giới theo quy định của Phụ lục 6 sẽ được miễn kiểm tra hải quan trên đường, áp tải trong lãnh thổ quốc gia và đặt cọc để đảm bảo trả thuế hải quan.

3.1.2 Kiểm tra hồ sơ và kiểm tra bên ngoài:

Phương tiện vận tải cùng với hàng hóa và hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa sẽ được xuất trình cho cơ quan hải quan trên đường vận chuyển chỉ để kiểm tra bên ngoài và kiểm tra khoang chứa hàng.

3.1.3 Kiểm tra hải quan ngoại lệ:

Trong một số trường hợp nhất định, đặc biệt là khi cơ quan hải quan nghi ngờ có sự vi phạm pháp luật hải quan thì cơ quan hải quan vẫn tiến hành kiểm tra hàng hóa trên đường vận chuyển.

3.1.4 Theo dõi phương tiện/hàng hóa:

Cơ quan hải quan có thể áp dụng các biện pháp phù hợp (ví dụ: các thiết bị điện tử, hệ thống định vị vệ tinh, công nghệ thông tin và viễn thông) để giám sát việc chuyên chở hàng hóa mà không làm chậm trễ hoặc phát sinh thêm yêu cầu đối với hoạt động vận tải.

3.2 Niêm phong hải quan:

- Trước khi phương tiện vận tải hoặc côngtenơ xuất phát từ nước xuất phát gốc, cơ quan hải quan của nước này sẽ thực hiện niêm phong khoang chứa hàng của phương tiện vận tải hoặc côngtenơ.

- Khi phương tiện vận tải hoặc côngtenơ đi qua lãnh thổ nước quá cảnh, cơ quan hải quan của nước này sẽ chấp nhận niêm phong của cơ quan hải quan các bên ký kết với điều kiện các niêm phong này còn nguyên vẹn. Trong trường hợp cần thiết, vì mục đích kiểm soát, cơ quan hải quan của nước quá cảnh có quyền gắn thêm niêm phong của mình vào khoang chứa hàng của phương tiện vận tải hoặc container khi các phương tiện này đi vào lãnh thổ nước họ.

- Nếu cơ quan hải quan phải phá bỏ niêm phong để tiến hành kiểm tra hàng hóa trên đường hoặc trong trường hợp thay đổi phương tiện phù hợp với điều 8 (b) của Phụ lục 6, họ sẽ gắn niêm phong mới và ghi rõ điều đó trong hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa. Trong trường hợp này, người hoạt động vận tải không phải trả phí cho việc gắn niêm phong mới.

- Đối với hàng nặng hoặc hàng hóa khối lượng lớn, do trọng lượng, kích thước hoặc điều kiện tự nhiên của hàng hóa đó thông thường không thể chuyên chở trên xe có thùng kín, thì có thể chuyên chở trên phương tiện không có niêm phong hải quan nhưng với điều kiện có thể dễ dàng xác định được số hàng hóa này bằng các bằng chứng mô tả kèm theo (danh mục đóng gói, ảnh chụp, bản vẽ…). Trong trường hợp này, cơ quan hải quan có thể áp dụng những biện pháp giám sát phù hợp để ngăn chặn hành vi xếp thêm hàng hoặc dỡ bỏ hàng hóa xuống.

3.3 Hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa:

Để được áp dụng chế độ thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa, người hoạt động vận tải phải sử dụng hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa (hồ sơ) như được quy định tại Phụ lục 6. Hồ sơ do các cơ quan/tổ chức phát hành/bảo lãnh được ủy quyền phát hành. Như vậy, hồ sơ vừa dùng để làm thủ tục hải quan quá cảnh và thông quan nội địa vừa là chứng từ để cơ quan/tổ chức phát hành/bảo lãnh được ủy quyền thực hiện bảo lãnh việc tra thuế, phí hải quan và lãi suất theo quy định tại Điều 10 của Phụ lục 6.

Hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa được phát hành cho từng khoang chứa hàng có cùng một niêm phong và chỉ có giá trị cho một chuyến đi đồng thời xác định rõ phạm vi địa lý và các cửa xuất nhập tương ứng phù hợp với Nghị định thư 1, thời gian hiệu lực mà nó có giá trị. Đối với hàng hóa liên quan đến một giao dịch thương mại thì một bản sao hóa đơn của hàng hóa phải được đính kèm với từng bản sao của Hồ sơ. Ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Anh và cũng không loại trừ việc sử dụng đồng thời ngôn ngữ quốc gia.

Điều 4 của Phụ lục 6 cũng quy định số lượng bản gốc và cách sử dụng của hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa. Tuy nhiên, vì đây là vấn đề mới đối với các nước trong tiểu vùng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện trong thực tế, do vậy Phụ lục 6 cũng quy định Ủy ban Hỗn hợp có thể thay đổi hoặc chỉnh sửa các chi tiết trong hồ sơ cho phù hợp với tình hình thực tế.--PageBreak--

3.4 Xác nhận thực tế xuất khẩu, vận tải quá cảnh và nhập khẩu:

Khi bắt đầu thực hiện một hoạt động vận tải quá cảnh, người hoạt động vận tải phải ký vào bản gốc đầu tiên của hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa. Bản gốc này cũng được cơ quan hải quan nước xuất phát đóng dấu xác nhận xuất khẩu.

Khi phương tiện vận tải cùng với hàng hóa và người được vận chuyển trên phương tiện vận tải đó tới lãnh thổ nước quá cảnh thì người hoạt động vận tải lại ký vào một bản gốc tiếp theo của hồ sơ và cơ quan hải quan của nước chủ nhà 2, sẽ đóng dấu xác nhận việc này vào bản gốc đó. Khi rời lãnh thổ nước quá cảnh thì người hoạt động vận tải lại ký vào một bản gốc tiếp theo của hồ sơ và cơ quan hải quan của nước chủ nhà sẽ đóng dấu xác nhận việc này vào bản gốc. Khi tới lãnh thổ của nước đích đến cuối cùng thì người hoạt động vận tải lại ký vào một bản gốc cuối cùng của hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa và cơ quan hải quan của nước chủ nhà sẽ đóng dấu xác nhận nhập khẩu vào bản gốc.

3.5 Hoàn thành hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa:

Hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa sẽ được coi là hoàn thành nếu hồ sơ đã được cơ quan hải quan của nước quá cảnh đóng dấu xác nhận vào một bản gốc khi phương tiện vận tải cùng với hàng hóa và người được vận chuyển trên phương tiện vận tải đó rời lãnh thổ nước quá cảnh; Hoặc khi cơ quan hải quan của nước đích đến cuối cùng hoàn thành thủ tục thông quan nội địa hoặc xác nhận áp dụng chế độ hải quan khác khi tới lãnh thổ của nước đích đến cuối cùng.

3.6 Thời hạn:

Tại hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa có ghi rõ thời hạn có giá trị của hồ sơ, nhưng thời hạn tối thiểu là 6 tháng kể từ ngày phát hành nếu hồ sơ đó được trình cho cơ quan hải quan của nơi xuất phát trước khi hết hạn thì hồ sơ đó vẫn có giá trị cho đến khi hoàn thành chuyến vận tải. Điều 7 điểm c của Phụ lục 6 cũng quy định hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa phải được hoàn thành thủ tục trong thời hạn không quá 3 tháng kể từ ngày phương tiện vận tải cùng với hàng hóa và người được vận chuyển trên phương tiện vận tải đó đi vào lãnh thổ nước chủ nhà.

3.7 Rủi ro trên đường:

3.7.1 Hàng hóa bị mất mát, giảm phẩm chất, thiếu hụt hoặc niêm phong hải quan bị hư hại:

Trong trường hợp trên đường vận chuyển mà hàng hóa bị mất mát, giảm phẩm chất, thiếu hụt hoặc niêm phong hải quan bị hư hại thì người hoạt động vận tải phải ngay lập tức thông báo cho cơ quan hải quan của nước chủ nhà. Nếu cơ quan hải quan thỏa mãn rằng hàng hóa được xác định trong hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa đã bị hỏng hoặc bị mất không thể phục hồi vì lý do bất khả kháng trên đường hoặc chúng bị thiếu hụt vì lý do tự nhiên thì số hàng đó sẽ không bị đánh thuế.

3.7.2 Thay đổi phương tiện vận tải giữa hành trình vận tải :

Trong trường hợp buộc phải thay đổi phương tiện vận tải giữa hành trình vận tải thì người hoạt động vận tải phải ngay lập tức thông báo cho cơ quan hải quan nước chủ nhà. Cơ quan hải quan nước chủ nhà sẽ giám sát việc chuyển hàng sang phương tiện vận tải mới, thay thế niêm phong hải quan đã bị hư hại hoặc bị gỡ bỏ, ghi xác nhận việc này vào hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa.

3.7.3 Thay đổi hành trình:

Trong trường hợp do hoàn cảnh không mong muốn, người hoạt động vận tải bị buộc phải không đi theo hành trình đã định trước, thì ngay lập tức họ phải thông báo cho cơ quan hải quan nước chủ nhà. Cơ quan hải quan nước chủ nhà sẽ phải thông báo cho các cơ quan khác có thẩm quyền để xác định hành trình sẽ phải đi tiếp.

3.7.4 Vượt quá thời hạn quy định:

Nếu người hoạt động vận tải, vì lý do bất khả kháng hoặc vì một lý do hợp lý nào đó, mà không có khả năng hoàn thành đúng hạn hoạt động vận tải theo chế độ quy định tại Phụ lục này trên lãnh thổ của nước chủ nhà hoặc không thể hoàn thành hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa đúng hạn, thì họ phải gửi văn bản yêu cầu gia hạn tới cơ quan hải quan của nước chủ nhà trước khi hết thời hạn quy định. Cơ quan hải quan của nước chủ nhà sẽ gia hạn nếu họ thỏa mãn rằng thời hạn để hoàn thành hoạt động vận tải và/hoặc việc hoàn thành hồ sơ hải quan quá cảnh và thông quan nội địa là không thể thực hiện được vì lý do bất khả kháng hoặc vì một lý do hợp lý nào đó... (Còn nữa)

(Theo Nghiên cứu Hải Quan)