Từ 1/1/2015: Luật Hải quan (sửa đổi) có hiệu lực thi hành

Luật Hải quan sửa đổi đã được Quốc hội thông quan ngày 23/6/2014 với 91,16% tổng số đại biểu Quốc hội (453 đại biểu Quốc hội) tán thành. Luật Hải quan sửa đổi được Quốc hội thông qua gồm 8 Chương, 104 Điều, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2015. Những đổi mới trong Luật Hải quan sửa đổi được đánh giá rất mạnh mẽ và phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế đất nước, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế sâu rộng được nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2020-2030 đã được Quốc hội phê duyệt, Chiến lược xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030, Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.
Luật Hải quan có tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, kim ngạch XNK của Việt Nam tăng liên tục ở mức cao. Luật Hải quan đã được sửa đổi theo hướng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động hải quan mà cụ thể là áp dụng rộng rãi hải quan điện tử. Nhìn chung, các quy định trong Luật sửa đổi đã tạo thuận lợi cho hoạt động XNK của doanh nghiệp (DN), đơn cử như thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ truyền thống, bán điện tử sang điện tử, quy định rõ về hồ sơ hải quan, thời hạn công chức hải quan kiểm tra hồ sơ hải quan, bổ sung cơ chế xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan…
 
Ví dụ như  Điều 23, Dự thảo Luật quy định về hồ sơ hải quan theo hướng giảm bớt các loại giấy tờ phải nộp không cần thiết khi làm thủ tục hải quan đối với các chứng từ có liên quan thuộc hồ sơ hải quan (hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải, hợp đồng mua bán hàng hóa, chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, giấy phép XK, NK, các văn bản thông báo kết quả kiểm tra hoặc miễn kiểm tra chuyên ngành, các chứng từ liên quan đến hàng hóa theo quy định của pháp luật có liên quan). Bên cạnh đó, chứng từ thuộc hồ sơ hải quan có thể là chứng từ giấy hoặc chứng từ điện tử.
 
Một sửa đổi có tác động tích cực nữa là quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong lĩnh vực hải quan cũng được quy định rõ. Đó là trách nhiệm của người khai hải quan/chủ hàng, cơ quan hải quan/công chức hải quan, người vận chuyển trong giám sát hải quan, DN kinh doanh kho bãi, các tổ chức cá nhân liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới...
 
Luật Hải quan sửa đổi cũng đẩy mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa nhưng cũng bảo đảm kiểm soát chặt chẽ quá trình tuân thủ pháp luật của người khai hải quan khi xác định chế độ kiểm tra sau thông quan là khâu quan trọng, đồng thời tăng thẩm quyền xử lý hành vi buôn lậu, xử lý vi phạm cho lực lượng hải quan. Điều 77 của luật quy định, thời hạn kiểm tra sau thông quan là 5 năm, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. Quá trình thảo luận có ý kiến đại biểu cho rằng thời gian như vậy là quá dài, có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp. Ý kiến khác đề nghị quy định thời hạn kiểm tra sau thông quan là 5 năm với trường hợp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan và quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu.Còn với các trường hợp khác thì thời hạn kiểm tra sau thông quan là 2 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan.
 
Tại báo cáo tiếp thu, giải trình dự án luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích, xuất phát từ việc thay đổi phương thức quản lý, chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, kiểm tra sau thông quan sẽ là khâu chủ yếu và có vai trò hết sức quan trọng nhằm bảo đảm kiểm soát chặt chẽ quá trình tuân thủ pháp luật của người khai hải quan. Vì vậy, việc xác định thời hạn kiểm tra sau thông quan là 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan là phù hợp với phương thức quản lý hải quan hiện đại cũng như năng lực thực hiện kiểm tra sau thông quan của tổ chức bộ máy hải quan. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho được giữ quy định 5 năm như dự thảo.
 
Một trong những điểm mới của Luật Hải quan (sửa đổi) lần này là đã bổ sung Điều quy định về các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 10 mới). Theo đó, các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực hải quan đối với công chức hải quan là gây phiền hà, khó khăn trong việc làm thủ tục hải quan; Bao che, thông đồng để buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, gian lận thuế; Nhận hối lộ, chiếm dụng, biển thủ hàng hoá tạm giữ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mục đích vụ lợi; Hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.
 
Đối với người khai hải quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải, các hành vi bị cấm gồm: Thực hiện hành vi gian dối trong việc làm thủ tục hải quan; Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Gian lận thương mại, gian lận thuế; Đưa hối lộ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mưu lợi bất chính; Cản trở công chức hải quan thi hành công vụ; Truy cập trái phép, làm sai lệch, phá hủy hệ thống thông tin hải quan; Hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.
 
Liên quan đến phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới (Điều 88), Luật Hải quan sửa đổi đã bổ sung quy định thẩm quyền truy đuổi của lực lượng hải quan đối với các trường hợp vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới ở ngoài khu vực hải quan. Theo đó, trường hợp có căn cứ xác định hàng hoá buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, phương tiện vận tải chở hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan thì cơ quan hải quan tiếp tục truy đuổi, thông báo cho cơ quan công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, quản lý thị trường trên địa bàn để phối hợp, đồng thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật. Việc dừng, truy đuổi phương tiện vận tải nước ngoài đang đi trong vùng biển Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật Biển Việt Nam.
 
Bên cạnh một số nội dung xin giữ nguyên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã tiếp thu một số ý kiến đại biểu khi hoàn thiện dự thảo luật lần cuối. Như, có ý kiến đại biểu đề nghị bổ sung quy định chủ hàng hóa bên nhận đối với hàng gây ô nhiễm môi trường phải có trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
 
Tiếp thu ý kiến này, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cho biết: Dự thảo luật đã quy định cụ thể các chủ thể có trách nhiệm vận chuyển hàng hóa gây ô nhiễm môi trường ra khỏi lãnh thổ Việt Nam bao gồm: chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền.
Trước khi thông qua Luật, Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi) của Ủy ban thường vụ Quốc hội nêu rõ: Về kiểm tra, giám sát hải quan, xử lý hàng hóa tồn đọng (Điều 58), có ý kiến đề nghị bổ sung vào điểm b khoản 6 quy định chủ hàng hóa bên nhận đối với hàng gây ô nhiễm môi trường phải có trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, cùng với quy định tại khoản 3 Điều này và các quy định tương ứng của Luật Bảo vệ môi trường, để bảo đảm tính minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật, điểm b khoản 6 Điều 58 của dự thảo Luật đã quy định cụ thể các chủ thể có trách nhiệm vận chuyển hàng hóa gây ô nhiễm môi trường ra khỏi lãnh thổ Việt Nam bao gồm: chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền.
 
Luật Hải quan sửa đổi cũng dành riêng một điều (Điều 16) quy định về hoạt động quản lý rủi ro (QLRR) - đây là điểm mới so với Luật Hải quan hiện hành. Theo quy định mới này, cơ quan hải quan áp dụng QLRR để quyết định việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; hỗ trợ các hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Công tác QLRR trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm việc thu thập, xử lí thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan; tổ chức thực hiện các biện pháp quản lí hải quan phù hợp.
 
Cơ quan hải quan quản lí, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lí dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lí rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.
 
Nhằm thực thi hiệu quả, đồng bộ, Luật Hải quan sửa đổi (được Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014, có hiệu lực từ ngày 1/1/2015) vừa qua, Đảng ủy cơ quan Tổng cục Hải quan đã ban hành Nghị quyết về việc triển khai thực hiện Luật Hải quan sửa đổi. Nghị quyết nhằm quán triệt sâu sắc cho toàn thể đảng viên, công chức, viên chức, nhất là đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của các đơn vị, cấp ủy Đảng, đoàn thể nghiên cứu, học tập để nắm vững đầy đủ nội dung Luật Hải quan sửa đổi, thống nhất về nhận thức và trách nhiệm, tạo sự chuyển biến, lan tỏa trong toàn ngành trong thực hiện Luật Hải quan sửa đổi.
 
Nghị quyết đặt ra yêu cầu các cấp ủy đảng, đảng viên, công chức, viên chức toàn Đảng bộ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, tổ chức, cá nhân nêu cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm triển khai xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn, thi hành Luật Hải quan sửa đổi đúng thời gian nhằm đưa Luật đi vào cuộc sống. Huy động được nguồn lực, chuẩn bị cơ sở vật chất trong quá trình triển khai Luật, tạo sự chủ động cho các cục hải quan trong quá trình triển khai Luật. Việc triển khai thực hiện tốt Luật Hải quan sửa đổi là một trong những nội dung quan trọng, cơ bản và có ý nghĩa thiết thực hướng tới chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Hải quan Việt Nam (10/9/1945-10/9/2015). Coi đây là tiêu chí để đánh giá phân loại, khen thưởng chi bộ, đảng bộ, đảng viên trong năm 2014.

(Phương An)