Xin hoàn thuế nhập khẩu

Hỏi: Xin hướng dẫn thủ tục xin hoàn thuế nhập khẩu, trong khi đó chúng tôi vẫn nợ thuế nhập khẩu (trong hạn) của 28 tờ khai nhập khẩu theo loại hình NSXXK (tính đến ngày 15/1/2009) do loại hình này được ân hạn thời gian nộp thuế là 275 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai nhập khẩu, nhưng không có phát sinh thuế để khấu trừ thì làm như thế nào?

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Trả lời: Căn cứ vào điểm 7.4 mục I Phần E Thông tư số 59/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có qui định: “Hàng hoá đã xuất khẩu nhưng phải nhập khẩu trở lại Việt Nam được xét hoàn thuế xuất khẩu đã nộp và không phải nộp thuế nhập khẩu.

          7.4/ Trường hợp hàng hoá xuất khẩu là hàng hoá sản xuất từ nguyên liệu, vật tư nhập khẩu; hàng hoá kinh doanh tạm nhập, tái xuất (thuộc đối tượng được hoàn thuế khi xuất khẩu) phải nhập khẩu trở lại Việt Nam thì doanh nghiệp bị truy thu số thuế nhập khẩu lần đầu đã được hoàn lại hoặc sẽ không được xét hoàn lại thuế (nếu chưa hoàn) tương ứng với số hàng hoá phải nhập khẩu trở lại Việt Nam. Khi thực tế xuất khẩu số hàng hoá đã nhập khẩu trở lại Việt Nam thì doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế xuất khẩu (nếu thuộc đối tượng phải nộp thuế xuất khẩu) và được xét hoàn thuế nhập khẩu theo quy định tại điểm 4, 5 và 6 Mục I Phần E Thông tư này.”

Do đó, theo quy định thì đối với lô hàng xuất khẩu nay phải tái nhập do bị trả về thì không phải nộp thuế nhập khẩu.

Tuy nhiên, nếu Công ty đã nộp thuế nhập khẩu cho lô hàng Tái nhập trên thì Căn cứ vào điểm 11 mục 1 phần E của Thông tư 59/2007/TT-BTC ngày 24/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thì các trường hợp được xét hoàn thuế, bao gồm:  « Trường hợp có sự nhầm lẫn trong kê khai, tính thuế, nộp thuế (bao gồm cả người nộp thuế hoặc cơ quan hải quan) thì được hoàn trả số tiền thuế nộp thừa nếu sự nhầm lẫn đó xảy ra trong thời hạn 365 ngày trở về trước, kể từ ngày kiểm tra phát hiện có sự nhầm lẫn. Ngày phát hiện có sự nhầm lẫn là ngày ký văn bản xác nhận có sự nhầm lẫn giữa người nộp thuế và cơ quan hải quan. »

Do đó, đối với trường hợp trên nếu số thuế nhập khẩu được miễn, giảm mà ngày kiểm tra, phát hiện được xác định bằng văn bản còn trong thời hạn 365 ngày trở về trước thì Công ty được phép hoàn lại số thuế nhập khẩu được miễn, giảm trên theo qui định.

Đối với trường hợp trên thì thủ tục hoàn thuế được qui định tại tại điểm 18 mục II phần E của Thông tư 59/2007/TT-BTC ngày 24/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu như sau :

« a/ Công văn yêu cầu xét hoàn thuế đã nộp trong đó nêu rõ loại hàng hoá, số tiền thuế, lý do yêu cầu hoàn thuế, Tờ khai hải quan. Trường hợp có nhiều loại hàng hoá, thuộc nhiều Tờ khai hải quan khác nhau thì phải liệt kê các Tờ khai hải quan yêu cầu hoàn thuế; cam kết kê khai chính xác, cung cấp đúng hồ sơ đề nghị xét hoàn thuế (1 bản chính);

b/ Tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã làm thủ tục hải quan (1 bản photocopy và xuất trình bản chính để đối chiếu);

c/ Chứng từ nộp thuế (1 bản photocopy và xuất trình bản chính để đối chiếu). »

Căn cứ khoản 5.3 điểm 5 mục IV phần E Thông tư 59/2007/TT-BTC ngày 24/6/2007 của Bộ Tài chính có quy định: “5.2/ Trường hợp nguồn tiền hoàn thuế từ ngân sách:

5.2.1/ Trường hợp người nộp thuế không còn nợ tiền thuế, tiền phạtkhông yêu cầu bù trừ vào số tiền thuế phải nộp của lần tiếp theo, cơ quan hải quan gửi quyết định hoàn thuế cho Kho bạc Nhà nước nơi hoàn trả thuế. Căn cứ quyết định hoàn thuế do cơ quan hải quan ban hành, Kho bạc Nhà nước thực hiện hoàn trả cho người nộp thuế.

5.2.2/ Trường hợp người nộp thuế được hoàn thuế và phải nộp bù trừ cho các khoản thuế khác, cơ quan hải quan gửi quyết định hoàn thuế và lệnh thu ngân sách cho Kho bạc Nhà nước nơi hoàn trả thuế để Kho bạc Nhà nước hạch toán theo quy định. 

(Theo Cục Hải quan Đồng Nai)