Chính sách thuế với doanh nghiệp có ngành nghề tư vấn thiết kế

(eFinance Online) -  Xin hỏi thời điểm xác định thuế GTGT đối với hoạt động tư vấn thiết kế xây dựng ở loại hình nào để áp dụng thuế?
Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

 - Theo chính sách hướng dẫn thuế thì hoạt động ngành nghề tư vấn thiết kế chưa nói rõ, chỉ nói" đối với xây dựng" là không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền để nộp GTGT. - Theo thông tư 06/2012/TT-BTC về hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT ở điều 13 khoản 2 mục b thì hoạt động dịch vụ có hợp đồng được xác định bằng doanh thu (x) với tỷ lệ ( % ) GTGT tính trên doanh thu. Nhưng theo chính sách thuế và thông tư hướng dẫn mới 2015 thì không nói rõ cho ngành hoạt động lĩnh vực tư vấn thiết kế.

- Thực tế hoạt động tư vấn thiết kế xây dựng khi ký hợp đồng với các CĐT và có nghiệm thu khối lượng công việc, nhưng chưa nghiệm thu thanh toán vì chỉ khi nào Chủ đầu tư có chế độ giải ngân thì mới được chi trả tính theo ( % ) giá trị giải ngân của dự án để chi trả cho tư vấn .

Vì vậy lĩnh vực hoạt động tư vấn thiết kế xây dựng gặp rất nhiều khó khăn để duy trì hoạt động gây ảnh hưởng đến tâm lý và hoạt động cho DN, tôi xin dẫn chứng - chủ đầu tư cho thanh toán giai đoạn cho 1 công trình A -VD: theo HĐ là 100 triệu thanh toán giai đoạn được 20 triệu, DN thu về 20 triệu xuất hóa đơn nộp GTGT theo doanh thu đến khi đơn vị thuế kiểm tra thì yêu cầu nộp đúng đủ theo hợp đồng. Như thế chúng tôi lấy đâu ra để nộp cho GTGT của 80 triệu kia và đến khi nào CĐT mới quyết toán công trình để tư vấn thực hiện nghĩa vụ về thuế, trong khi đó hợp đồng là thực hiện với các chủ đầu tư là của nhà nước, thực tế nhà nước nợ doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp phải bỏ khoản tiền ra để nộp thuế GTGT trước theo hợp đồng. Xin hỏi những chính sách thu thuế trên có phù hợp với doanh nghiệp có ngành nghề tư vấn thiết kế hay không, chúng tôi nên phải như thế nào để đơn vị thuế chấp thuận với doanh thu theo thực tế. Xin được phân tích giúp! Chân thành cảm ơn. 

Trả lời: 

- Căn cứ Khoản 2  Điều 8 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng quy định thời điểm xác định thuế GTGT:

“2. Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền...”

- Căn cứ Khoản 10 Điều 2 Thông tư  số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính và Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014) quy định:

“Điều 34a. Không tính tiền chậm nộp

1. Người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán (sau đây gọi chung là người nộp thuế) nên không nộp thuế kịp thời dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế.

Trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán một phần từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, phần còn lại từ nguồn ngoài ngân sách, nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán nên không nộp thuế kịp thời dẫn đến nợ thuế thì người nộp thuế không phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế tương ứng với phần được thanh toán từ ngân sách nhà nước

3. Trình tự, thủ tục không tính tiền chậm nộp

a) Người nộp thuế thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 1 Điều này cung cấp cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp văn bản xác nhận của đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước về việc người nộp thuế chưa được thanh toán theo mẫu số 01/TCN ban hành kèm theo Thông tư này…

4. Trách nhiệm của người nộp thuế

Người nộp thuế có trách nhiệm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước ngay sau khi được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán cho người nộp thuế…”

Căn cứ các quy định nêu trên thì:

          1. Hoạt động tư vấn thiết kế xây dựng của doanh nghiệp độc giả là hoạt động cung ứng dịch vụ nên thời điểm xác định thuế GTGT được căn cứ theo quy định tại Khoản 2, Điều 8 Thông tư số 219/2013/TT-BTC nêu trên.

          2. Trường hợp doanh nghiệp của độc giả có phát sinh ký kết hợp đồng tư vấn thiết kế xây dựng với đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán thì doanh nghiệp của độc giả lập hồ sơ không tính tiền chậm nộp theo quy định tại Khoản 10 Điều 2 Thông tư  số 26/2015/TT-BTC nói trên và gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được xem xét không tính tiền chậm nộp tương ứng với phần chưa được thanh toán từ ngân sách nhà nước.

(Theo mof.gov.vn)