Ngành Tài chính đã từng tiếp cận với ứng dụng tin học từ 30 năm trước

Đã xấp xỉ tuổi 70 nhưng ông Trần Huy Ngọc - người tiếp quản hệ thống tin học của chính quyền miền Nam Việt Nam 30 năm trước và là người được coi là đã tiếp cận với các ứng dụng tin học đầu tiên của ngành Tài chính, nay vẫn còn rất nhanh nhẹn và nhớ rất rõ về những ngày lịch sử ấy.

Ông Trần Huy Ngọc.Ông Trần Huy Ngọc.

Tiếp chúng tôi trong căn phòng khách nhỏ, trên tường treo ảnh Bác Hồ cùng nhiều Bằng khen, Giấy khen, câu chuyện của ông đã đưa chúng tôi ngược dòng thời gian trở lại với thành phố Hồ Chí Minh những ngày đầu mới giải phóng - thành phố của 30 năm về trước…

Hồi đó tôi đang làm việc tại Vụ Chế độ Kế toán thì một lần ông Đào Thiện Thi - Bộ trưởng Bộ Tài chính lúc bấy giờ, gọi tôi lên hỏi: “Anh xem có thể sử dụng máy tính của Mỹ để phục vụ Tổng Kiểm kê tài sản toàn miền Nam được không?”. Nghe Bộ trưởng hỏi vậy, tôi mới bảo: “Anh phải cho tôi xem mặt mũi cái máy tính nó như thế nào thì tôi mới có thể quyết định là có làm được không chứ!”. Thế là ngay sáng hôm sau, cùng với thư tay của Bộ trưởng gửi Ban Thống nhất, tôi lên máy bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Thực ra trước đó tôi đã có 3 năm làm nghiên cứu sinh ở Nga và đã được học về hệ thống máy tính, do đó tôi thấy máy tính của Mỹ nó cũng tương tự với hệ thống máy tính của Nga. Bởi vậy, sau một tuần khảo sát tại chỗ, tôi quay ra Hà Nội và “nhận lời” với Bộ trưởng.

Nếu nói về kỹ thuật, hệ thống máy tính khi ấy không phải là dạng điện tử như bây giờ mà nó chỉ là dạng máy tính cơ học, song ở thời điểm đó nó là dàn máy tính thuộc loại hiện đại và gọn nhẹ nhất. Nguyên lý hoạt động của dàn máy này là dữ kiện được truyền vào qua những phiếu được đục lỗ, phiếu này là một tấm card cách điện, khi đó chỗ nào được đục thủng thì mạch điện sẽ đi qua và tiếp thu các số liệu, nhập vào băng từ và khi đó băng từ mới truyền số liệu vào máy để xử lý thông tin.

Ngành Tài chính đã từng tiếp cận với ứng dụng tin học từ 30 năm trước ảnh 1
Ông Trần Huy Ngọc đang trả lời phỏng vấn của phóng viên Tạp chí Tài chính Điện tử.

Dưới chế độ cũ, cả thành phố Hồ Chí Minh có khoảng hơn 20 dàn máy tính, trong đó riêng ngành Tài chính có 2 dàn, 1 dàn dùng cho Tổng nha Ngân sách Ngoại biện với nhiệm vụ hạch toán riêng toàn bộ chi tiêu ngân sách của Mỹ viện trợ vào miền Nam Việt Nam, 1 dàn nữa dùng cho Tổng nha Thuế vụ với tên gọi là Trung tâm Điện biến Dữ kiện, làm nhiệm vụ xử lý toàn bộ số liệu thuế nội địa, thuế xuất nhập khẩu, hạch toán ngân sách và phục vụ tính lương cho toàn bộ hệ thống cơ quan hành chính sự nghiệp từ Huế vào đến Cà Mau, kể cả lương cho địa phương quân (bây giờ chúng ta gọi là phường đội và huyện đội).

Khi tiếp quản 2 dàn máy tính của ngành Tài chính, để cho thuận tiện, chúng tôi đã cho sát nhập 2 Trung tâm này và đổi tên thành Trung tâm Tính toán. Hai dàn máy tính vẫn để nguyên nhưng mỗi dàn xử lý các bài toán khác nhau, bởi vì lúc đó làm tổng hợp kiểm kê phải giải quyết nhiều bài toán như: tổng hợp tài sản cố định, tổng hợp vốn lưu động, tổng hợp tài chính của các xí nghiệp…

Tôi nhớ lúc đó, để phục vụ Tổng Kiểm kê tài sản toàn miền Nam (khoảng tháng 4/1976), chính quyền ta đã thành lập Ban Kiểm kê Trung ương với 4 cơ quan tham gia là: Quân đội, Tài chính, Thống kê và Ủy ban Khoa học Nhà nước. Quân đội thì tiến hành tổng hợp tài sản của bên Quân đội bởi vì đó là phạm vi mật, còn Thống kê, Kế hoạch vào tiếp quản hệ thống máy tính của Văn phòng Thủ tướng Ngụy. Tuy nhiên, do không biết nghiệp vụ kế toán nên khi triển khai Kiểm kê tài sản, các đơn vị kể trên đã không tận dụng được hệ thống máy tính, duy chỉ có dàn máy của Bộ Tài chính là hoạt động được. Chính vì vậy, Ban Kiểm kê Trung ương đã giao hết về cho Bộ Tài chính thực hiện (bên Quân đội  là số liệu mật nên chúng tôi cũng không tham gia với họ).

Lúc đó, do không có đủ lực lượng am hiểu về kỹ thuật sử dụng máy tính, cho nên chúng tôi đã tuyển dụng toàn bộ 193 nhân viên của chế độ cũ ở lại làm việc. Chính điều này cũng đã gây cho tôi không ít khó khăn trong những ngày đầu tiếp quản: làm thế nào để họ tin mình, yêu quý mình - những người mà trong mắt họ là những “ông Việt cộng” đối lập với chế độ cũ mà họ đã từng phục vụ? Chiếm được lòng tin của họ rồi, lại phải tiếp cận được với họ, giúp họ hiểu về chế độ của ta và phục vụ cho chế độ của ta. Mặt khác, để tránh địch gài người trở lại phá hoại máy nên chúng tôi cũng phải đề cao cảnh giác, thậm chí nhiều đêm tôi còn phải ngủ lại cơ quan để “gác” máy. Việc bảo mật quả là không bao giờ thừa, trong thời gian làm việc ở đây, chúng tôi cũng đã bắt được một tên CIA của Mỹ cài lại. Lần đó là nhờ đọc được một tài liệu lưu trên máy mà tôi đã phát hiện ra tên này và báo cho cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Có thể nói “khởi nguồn” sự nghiệp tin học của ngành Tài chính là như vậy đấy. Người ta cứ nói tôi là người đầu tiên làm tin học của ngành Tài chính, nhưng tôi cũng có đóng góp được gì nhiều đâu. Ngoài bài toán về Tổng kiểm kê tài sản, sau đó tôi tiếp tục làm bài toán về Tính toán Bảo hiểm và cuối năm đó thì có thêm nhiệm vụ làm quyết toán ngân sách. Rất tiếc sau đó hệ thống máy tính này hầu như không được sử dụng đến nữa. Chính điều này đã làm tôi trăn trở rất nhiều, tôi cứ nghĩ giá như Bộ Tài chính khi ấy quan tâm hơn và bản thân chúng tôi quyết tâm hơn thì có lẽ hệ thống máy tính đó sẽ còn phục vụ cho công tác nghiệp vụ tài chính được nhiều hơn và biết đâu có thể cũng từ những dàn máy tính đó mà sự nghiệp tin học hóa, hiện đại hóa quản lý tài chính của chúng ta được bắt đầu sớm hơn chăng…

Ở đây cũng cần nhấn mạnh đến yếu tố con người, theo tôi muốn làm tin học giỏi thì trước hết phải hiểu rõ nghiệp vụ tài chính kế toán, bởi vì kế toán chính là quản lý, nếu một cán bộ giỏi quản lý và kỹ thuật quản lý thì tin học sẽ là một công cụ phục vụ đắc lực cho nghiệp vụ. Một cán bộ tin học giỏi thì có nghĩa là người đó hình dung được hết “đường đi nước bước” của nghiệp vụ để đưa tin học vào ứng dụng.

Mặt khác, mặc dù hiện nay hệ thống tin học của chúng ta hiện đại hơn trước rất nhiều, nhưng tổ chức thông tin của chúng ta vẫn còn phân tán, mỗi đơn vị làm một kiểu, mỗi người là một “vương quốc”, mỗi vương quốc lại có hệ thống máy khác nhau, đào tạo khác nhau, áp dụng khác nhau… nên không tận dụng được hết công năng của tin học. Theo tôi, các cơ quan muốn mở nhiều “ngõ, ngách” cũng được, nhưng hệ thống phần mềm thì phải được xây dựng thống nhất, yêu cầu phải đi vào một “cửa”, chứ không thể có nhiều cửa. Ngay như ngạch kế toán cũng vậy, khi mới thành lập Kho bạc thì kế toán chi tiêu tập trung trong kế toán chung của Kho bạc, nhưng gần đây tôi thấy lại tách ra, một anh giám đốc ký 2 bản báo cáo quyết toán: một báo cáo về chi hành chính sự nghiệp, một báo cáo về kế toán Kho bạc. Như vậy thì khác nào một cơ quan có 2 kế toán trưởng?… Về chuyện này, có lần trong một hội nghị ngành Kho bạc tổ chức ở Phan Thiết cách đây đã lâu, khi đó tôi cũng đã gặp và nói chuyện với anh Trần Nguyên Vũ (hiện là Phó Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính) là ngành Tài chính chúng ta làm sao phải hoạch định, phải tập trung thống nhất được hệ thống tin học Thuế, Kho bạc và Tài chính vào làm một mối...

Để hướng tới một nền Tài chính điện tử, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, gánh nặng đang đè nặng lên đôi vai của những người làm tin học. Tôi xin chúc cho Tin học Tài chính ngày càng phát triển và giúp ích được nhiều hơn nữa cho sự nghiệp Tài chính nước nhà!

(Chí Thanh - ghi chép)