Những khó khăn ban đầu khi đặt nền móng xây dựng đội ngũ tin học tài chính

Là những người đầu tiên và gắn bó trực tiếp với hệ thống tin học tài chính từ ngày đầu sơ khai, những suy nghĩ, chia sẻ của họ về chặng đường hình thành và phát triển của Tin học thống kê tài chính đã trở thành những tư liệu lịch sử quý giá.

Nhận Cúp Vàng cho sản phẩm CNTT suất xắc nhất.Nhận Cúp Vàng cho sản phẩm CNTT suất xắc nhất.

Năm 1989, khi nền kinh tế bắt đầu chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, công tác tài chính cũng có sự thay đổi đáng kể. Trước tình hình đó Lãnh đạo Bộ Tài chính đã nghĩ ngay tới việc xây dựng một Đề án ứng dụng tin học, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào công tác quản lý. Mục tiêu đặt ra lúc bấy giờ là ngành Tài chính phải có một hệ thống thông tin sử dụng máy vi tính và các thiết bị tin học khác để có thể thực hiện việc thu nhận đầy đủ, phân loại lưu trữ một cách khoa học và xử lý nhanh chóng, chính xác các thông tin kinh tế làm cơ sở khoa học để lãnh đạo Bộ kịp thời điều hành, cũng như đưa ra các chủ trương, chính sách, kế hoạch về tài chính đất nước.

Những khó khăn ban đầu khi đặt nền móng xây dựng đội ngũ tin học tài chính ảnh 1
Nhũng chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực CNTT được huy động để... giúp xây dựng hệ thống CNTT cho ngành Tài chính.

Cũng cần phải nói, ở thời điểm năm 1989 máy tính đối với Việt Nam vẫn còn là một loại thiết bị “xa lạ”, ít người biết đến, do đó để xây dựng được đề án “Ứng dụng tin học vào công tác quản lý ngành Tài chính”, Bộ Tài chính đã phải mời các cơ quan, Viện nghiên cứu trong nước có kinh nghiệm về CNTT tư vấn như:

- Viện Khoa học Việt Nam

- Viện Công nghệ - tin học

- Viện Kỹ thuật Quân sự I thuộc Bộ Quốc phòng

- Viện Kỹ thuật Quân sự II thuộc Bộ Quốc phòng

- Trung tâm Tin học thuộc Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước

- Trung tâm Thống kê Tính toán thuộc Tổng cục Bưu điện

- Ban Thư ký Hội Tin học Việt Nam

Như vậy là tháng 10/1989, “Tổ nghiên cứu đề án tổ chức hệ thống tin học” đã được thành lập, do tôi (khi ấy đang là Phó chánh văn phòng Bộ) được chỉ định làm Tổ trưởng với vài ba anh em khác cũng kiêm nhiệm. Kết quả là Bộ Tài chính đã chọn Dự án ứng dụng Tin học vào công tác quản lý Tài chính của Viện Tin học với thời gian thực hiện 3 năm và đã được Hội đồng Bộ trưởng chấp thuận cho phép tiến hành.

Cuối năm 1989, Bộ Tài chính tổ chức Hội đồng xét duyệt Đề án, mời các giáo sư, tiến sỹ đầu ngành khi ấy tham gia như: ông Chu Tam Thức, Phó tiến sĩ kinh tế – cố Thứ trưởng thứ nhất Bộ Tài chính, Chủ tịch Hội đồng; ông Phan Đình Diệu, Giáo sư tiến sĩ - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam; ông Vũ Đình Cự, Giáo sư tiến sĩ – Viện trưởng Viện Công nghệ – tin học; ông Phạm Văn Nghiên, Tiến sĩ kinh tế – Giám đốc Trung tâm Phân tích hệ thống, Viện quản lý kinh tế Trung ương; ông Nguyễn Văn Thiều, Phó tiến sĩ – Giám đốc Trung tâm dân số, Bộ Lao động Thương binh xã hội; ông Huỳnh Mùi, Giáo sư tiến sĩ -  Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; ông Vũ Lục, Phó tiến sĩ - Phó Chủ nhiệm Khoa tin học, trường Đại học bách khoa; ông Võ Đình Hảo, Giáo sư, Phó tiến sĩ kinh tế - Viện trưởng Viện Khoa học Tài chính, Bộ Tài chính; ông Nguyễn Sinh Hùng, Phó tiến sĩ kinh tế - Chánh văn phòng Bộ Tài chính (sau là Bộ trưởng Bộ Tài chính và nay là Phó Thủ tướng thường trực).

Những khó khăn ban đầu khi đặt nền móng xây dựng đội ngũ tin học tài chính ảnh 2
Tham quan học hỏi kinh nghiệm nước ngoài.

Tháng 12/1990, Bộ trưởng Bộ Tài chính ra Quyết định thành lập Ban quản lý các công trình ứng dụng tin học vào công tác quản lý tài chính (gọi tắt là Ban quản lý công trình tin học) trực thuộc Văn phòng Bộ và tôi khi ấy là Phó chánh Văn phòng trực tiếp phụ trách. Với quyết định này, Bộ Tài chính đã thể hiện quan điểm rất coi trọng vai trò quản lý ứng dụng CNTT trong quá trình hiện đại hoá ngành Tài chính và cũng là đặt thêm gánh nặng trách nhiệm cho chúng tôi – những người chưa biết gì về máy tính, nhưng phải đặt những viên gạch đầu tiên để xây nên một đội ngũ cán bộ tin học tài chính, một hệ thống máy móc thiết bị tin học có thể vận hành tốt, phục vụ nghiệp vụ tài chính.

Đúng với cái tên gọi khi ấy, Ban Quản lý công trình tin học có nhiệm vụ giúp Chánh văn phòng Bộ tiến hành các công việc chuẩn bị đầu tư, xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án và tổ chức thực hiện kế hoạch thông qua các hợp đồng kinh tế ký kết với các đơn vị nhận thầu; quản lý theo dõi tiến độ thực hiện các hợp đồng, xây dựng và lắp đặt thiết bị, nghiệm thu thử nghiệm các sản phẩm phần mềm và bàn giao cho các đơn vị trong ngành Tài chính sử dụng theo các thủ tục hiện hành; quản lý các nguồn vốn đầu tư, làm thủ tục cấp phát theo kế hoạch và tổ chức hạch toán kế toán, quyết toán hàng năm và quyết toán toàn bộ vốn đầu tư khi công trình đã hoàn thành.

Đến ngày 28/10/1994, căn cứ Nghị định 178/CP của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Tài chính, từ một đơn vị nằm trong Văn phòng Bộ, Ban Quản lý công trình tin học đã trở thành Ban Quản lý ứng dụng tin học - một mô hình tổ chức đơn vị ứng dụng CNTT cấp Vụ có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thống nhất quản lý hoạt động phát triển ứng dụng tin học trong lĩnh vực quản lý tài chính nhà nước; tổ chức Trung tâm dữ liệu và xử lý thông tin phục vụ cho công tác quản lý tài chính và điều hành ngân sách Nhà nước của Bộ.

Ban Quản lý ứng dụng tin học khi ấy có khoảng trên dưới 30 người, gồm có 4 phòng và 1 trung tâm là: Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Phòng Quản lý Hệ thống, Phòng Phát triển Ứng dụng, Phòng Quản lý mạng và Hỗ trợ Kỹ thuật, Trung tâm Dữ liệu và Xử lý thông tin.

Ngày 1/1/2000, Ban Quản lý ứng dụng tin học được thành lập thêm Trung tâm cơ sở dữ liệu dự phòng II đặt tại thành phố Hồ Chí Minh và tháng 8/2002 Tạp chí Tin học Tài chính ra đời (số đầu tiên ra mắt bạn đọc vào tháng 1/2003), đánh dấu một bước phát triển mới về chất đối với yêu cầu tăng cường thông tin tuyên truyền cũng như phổ biến kiến thức tin học tài chính không chỉ đến đông đảo cán bộ trong ngành mà còn tới bạn đọc trong cả nước.

Ngày 29/7/2003, Ban Quản lý ứng dụng tin học chính thức chuyển thành Cục Tin học và Thống kê tài chính căn cứ theo Nghị định 77/2003/NĐ-CP ngày 1/7/2003 của Chính phủ và Quyết định 117/2003/QĐ - BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Đây có thể coi là một quyết định quan trọng trong việc kiện toàn bộ máy giúp việc cho Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin tài chính hiện đại, đảm bảo hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu của ngành Tài chính đến năm 2010.

Cục Tin học và Thống kê tài chính lúc này đã có một đội ngũ cán bộ tin học gần một trăm người, được trang bị kiến thức tin học đầy đủ, với 10 đơn vị cấp phòng gồm: Phòng Hành chính Tổng hợp, Phòng Quản lý hệ thống, Phòng Quản trị mạng, Phòng Phát triển ứng dụng, Phòng Thống kê và phân tích dự báo, Trung tâm cơ sở dữ liệu (trong đó có Tổ thường trực trang WEBSITE Bộ Tài chính trên Internet thuộc cấp phòng), Trung tâm Chuyển giao công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật, Trung tâm cơ sở dữ liệu dự phòng và hỗ trợ triển khai tin học tại Tp. HCM và Tạp chí Tin học Tài chính.

Tôi muốn dùng hình tượng của cái cây khi mới nảy mầm, non nớt và bé nhỏ, nhưng ai có thể biết trước được lớn lên nó sẽ là loại cây ngắn ngày hay cây đại thụ? Từ một Tổ nghiên cứu đề án tin học hóa ngành Tài chính (năm1989) phát triển lên thành Ban quản lý ứng dụng tin học (năm 1994) và thành Cục Tin học và Thống kê tài chính (năm 2003). Bên cạnh đó các hệ thống Thuế, Kho bạc, Hải quan, Ủy ban chứng khoán cũng đều đã thành lập được các Trung tâm Tin học và Thống kê. Điều này cho thấy công tác tin học ngành Tài chính đã ngày một “đâm trồi nảy lộc” phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Hơn nữa, việc gắn thêm chức năng thống kê vào hoạt động hệ thống tin học cũng là cách nhìn nhận mới, càng tăng thêm khả năng phân tích, dự báo, hỗ trợ cho các quyết sách của các cấp lãnh đạo.

Nhìn lại những năm qua, điều tôi muốn nói và cảm thấy tự hào hơn cả là chúng tôi đã tập hợp được một đội ngũ đông đảo những người làm công tác tin học hình thành từ cấp trung ương đến địa phương trong toàn ngành tài chính, họ đang sát cánh bên đội ngũ chuyên môn nghiệp vụ để việc triển khai ứng dụng CNTT bám sát, gắn chặt (có khi còn đi trước) với sự phát triển, đổi mới của công tác quản lý tài chính, khẳng định quy mô phát triển rộng lớn và một tầm nhìn chiến lược hướng tới một nền tài chính điện tử hiện đại. Tôi nghĩ rằng chúng ta có quyền hy vọng hệ thống tin học tài chính sẽ trở thành một nhân tố mang tính đột phá, góp phần quan trọng tạo nên bước chuyển mình lịch sử trong tiến trình phát triển của ngành Tài chính Việt Nam.

(Ghi chép của Đinh Bạch Hường, theo lời kể của ông Phạm Văn Thuận - nguyên Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính)