"Hệ thống CNTT hải quan sẽ là hệ thống thông minh, xử lý tập trung"

Trong 28 năm xây dựng và phát triển, Cục CNTT và Thống kê hải quan (Tổng cục Hải quan) luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đi đầu trong việc phát triển và ứng dụng CNTT và thống kê hải quan một cách toàn diện trong tất cả các lĩnh vực công tác của ngành, góp phần đưa CNTT trở thành động lực trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, tăng cường năng lực quản lý nhà nước về hải quan, thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế và khu vực.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

 Đặc biệt, trong năm 2015, Cục CNTT và Thống kê hải quan được đề nghị Nhà nước xét tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lao động. Tạp chí Tài chính điện tử đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Mạnh Tùng, Cục trưởng Cục CNTT và Thống kê hải quan xung quanh sự kiện này.

Xin ông cho biết những thành tựu nổi bật nhất trong ứng dụng CNTT và thống kê mà Cục CNTT và Thống kê hải quan đã đạt được trong thời gian qua?

Thứ nhất, trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, Cục CNTT và Thống kê hải quan đã tham mưu: Đẩy mạnh thực hiện thủ tục hải quan điện tử; thanh toán điện tử; triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và ứng dụng CNTT trong nội ngành Hải quan; cung cấp thông tin thống kê XNK chính xác, phục vụ hiệu quả công tác điều hành của Bộ và Chính phủ.

Trên cơ sở các kết quả về ứng dụng CNTT trong công tác quản lý hải quan, Cục đã tham mưu cho lãnh đạo Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính triển khai nhiều giải pháp ứng dụng CNTT để phục vụ cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, góp phần đơn giản hóa quy trình, thủ tục hải quan, giảm thời gian thông quan cho doanh nghiệp. Cụ thể, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ cho phép triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử từ năm 2005, triển khai mở rộng cho các địa bàn trọng điểm. Từ ngày 01/7/2014, thủ tục hải quan điện tử đã được triển khai rộng rãi trên toàn quốc.

Thủ tục hải quan điện tử mang lại các lợi ích: Cho phép thực hiện thủ tục hải quan 24 giờ trong tất cả các ngày trong tuần (24/7); Đơn giản hóa yêu cầu nộp, xuất trình bộ hồ sơ hải quan trên cơ sở cho phép áp dụng chứng từ điện tử, chữ ký số; Thời gian xử lý bộ hồ sơ hải quan của hệ thống thủ tục hải quan điện tử nhanh (chỉ từ 1 – 3 giây); Trên cơ sở áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, gần 60% bộ hồ sơ hải quan được thông quan ngay và doanh nghiệp có thể lấy hàng tại các cảng; Giảm chi phí cho doanh nghiệp và xã hội do không phải thực hiện hồ sơ giấy. Tăng cường khả năng kết nối, trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước.

Thủ tục hải quan điện tử đã tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực và thông lệ quốc tế của một cơ quan hải quan hiện đại, làm tiền đề cho việc triển khai các cam kết quốc tế và cải cách thủ tục hành chính chung của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.

Trong suốt quá trình triển khai áp dụng thủ tục hải quan điện tử, Cục CNTT và Thống kê hải quan luôn đóng vai trò là đơn vị nòng cốt trong việc đề xuất chủ trương, xây dựng các kế hoạch, phối hợp chặt chẽ với đội ngũ chuyên gia nước ngoài và các đối tác trong việc thiết kế, phát triển hệ thống, chủ trì triển khai trong toàn ngành, đào tạo, tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành và cộng đồng doanh nghiệp, theo dõi, hướng dẫn xử lý các vướng mắc phát sinh.

Thứ hai đẩy mạnh thanh toán điện tử, từ năm 2007, Cục CNTT và Thống kê hải quan đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị trong ngành tham mưu để triển khai, từng bước áp dụng CNTT để thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực thu, nộp thuế. Đến nay, đã thực hiện kết nối, trao đổi thông tin với 19 ngân hàng thương mại, tổng số tiền thuế thực hiện qua hình thức thanh toán điện tử chiếm tỷ lệ 59,71% tổng số thu của ngành Hải quan. 100% các cục hải quan và chi cục hải quan đã thực hiện chấp nhận thanh toán điện tử.

Lợi ích mang lại từ thực hiện thanh toán điện tử như: Doanh nghiệp có thể thực hiện thanh toán tiền thuế mọi lúc, mọi nơi, không phụ thuộc vào giờ hành chính; Giảm thời gian nộp thuế cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi tiến hành thủ tục hải quan. Trước đây, khi thực hiện thủ tục nộp thuế thủ công, thời gian từ khi doanh nghiệp nộp tiền đến khi cơ quan hải quan nhận được thông tin, hạch toán, trừ nợ cho doanh nghiệp mất từ 1 - 2 ngày, cá biệt có thể mất 5 ngày. Sau khi triển khai thanh toán điện tử, thời gian nộp thuế còn 3 phút; Hạn chế tình trạng cưỡng chế, xét ân hạn nhầm, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp; Công tác quản lý theo dõi số liệu nộp thuế nhanh chóng, chính xác hơn; Cùng với việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử, việc áp dụng thanh toán điện tử góp phần giảm thời gian thông quan, đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong quá trình thông quan; Làm tiền đề cho việc mở rộng thanh toán điện tử đối với các loại phí và lệ phí khi thực hiện các thủ tục hành chính của các bộ, ngành tham gia vào Cơ chế một cửa quốc gia.

Thứ ba, tích cực triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN. Trong việc triển khai thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN, Cục CNTT và Thống kê hải quan, trước hết, đóng vai trò là cơ quan chủ trì trong phát triển ứng dụng công nghệ để xây dựng Cổng thông tin một cửa quốc gia kết nối các cơ quan chính phủ và kể từ tháng 4/2015, Cục đã tiếp nhận thêm vai trò là cơ quan điều phối toàn diện việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN của Tổng cục Hải quan nói riêng và đại diện Tổng cục Hải quan thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế một cửa quốc gia (gọi tắt là Ban chỉ đạo quốc gia).

Với vai trò là đơn vị chủ trì xây dựng Cổng thông tin một cửa quốc gia kết nối các bộ, ngành thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và tham gia Cơ chế một cửa ASEAN, Cục  đã chủ động phối hợp với các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục và các bộ, ngành tiến hành hàng loạt các công việc như: Rà soát và đánh giá toàn diện các nội dung phát sinh về quy trình thủ tục, nghiệp vụ, kỹ thuật 29 thủ tục thủ tục hành chính thực hiện trong giai đoạn 2014 - 2015 trên cơ sở các quy định hiện hành với khoảng 167 chứng từ thuộc bộ hồ sơ phải nộp/xuất trình khi thực hiện 29 thủ tục nói trên, trong đó có khoảng 2000 chỉ tiêu thông tin dự kiến sẽ được điện tử hóa dưới hình thức các biểu mẫu điện tử để đưa vào thực hiện; Rà soát và đánh giá toàn diện về các vấn đề kỹ thuật bao gồm: hạ tầng truyền thông, giao thức truyền thông, trang thiết bị, trạm làm việc, các chứng từ điện tử sẽ trao đổi trên hệ thống, các chức năng nghiệp vụ phát sinh mới… Xây dựng bộ tài liệu thống nhất về tiêu chuẩn kỹ thuật, những điều chỉnh phát sinh mới về mặt kỹ thuật,…

Từ tháng 4/2014, tiếp nhận nhiệm vụ điều phối toàn diện công tác triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN từ Ban Cải cách - Hiện đại hóa Hải quan, Cục đã tiếp tục triển khai một cách đầy đủ các nội dung từ xây dựng cơ sở pháp lý, tham gia các phiên làm việc trong ASEAN để đảm bảo mục tiêu kết nối 06 bộ, ngành (Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế) thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia trong 2015 và kết nối ASEAN vào cuối 2015, đầu năm 2016.

Kết quả của quá trình trên là việc Bộ Tài chính đã chính thức kết nối Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải vào cuối 2014; sẵn sàng công bố kết nối các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế vào tháng 6/2015.

Trên bình diện ASEAN, Cục tiếp tục đóng vai trò tham mưu cho Tổng cục Hải quan và thực hiện nhiệm vụ đại diện Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo quốc gia để tham gia các hoạt động trong ASEAN. Về mặt pháp lý, đã hoàn thành cơ bản việcđàm phán và thực hiện các thủ tục cuối cùng để ký kết Ngị định thư về khung pháp lý thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN. Về kỹ thuật, đã phối hợp với các nhóm làm việc và một số nước thành viên để tiến hành thử nghiệm kỹ thuật đảm bảo sẵn sàng kết nối Cơ chế một cửa ASEAN vào cuối 2015.

Việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước: Giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính, đơn giản hóa bộ hồ sơ, tăng cường khả năng kết nối trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước, giảm chi phí thực hiện các thủ tục hành chính, minh bạch và công khai hóa việc thực hiện thủ tục hành chính, tạo tiền đề để tham gia vào Cơ chế một cửa ASEAN và trao đổi thông tin điện tử với các nước theo các hiệp định song phương và đa phương, là động lực để thúc đẩy quá trình cải cách thủ tục hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện Chính phủ điện tử.

Thứ tư, cùng với việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong cải cách thủ tục hành chính, Cục cũng đã tập trung triển khai các hoạt động để từng bước ứng dụng CNTT một cách toàn diện vào tất cả các mặt công tác nghiệp vụ của ngành.

Trong công tác giám sát quản lý về hải quan, đã xây dựng và triển khai trong toàn ngành các hệ thống CNTT phục vụ cho công tác quản lý theo từng chế độ, loại hình nghiệp vụ như: quản lý gia công, sản xuất xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, chế xuất, theo dõi và quản lý cửa hàng miễn thuế, kho ngoại quan, chế độ riêng,… Nhờ áp dụng các hệ thống này, thời gian xử lý các công tác nghiệp vụ của cán bộ, công chức hải quan tại cơ sở đã giảm đáng kể. Khả năng tổng hợp, theo dõi, báo cáo số liệu được nâng cao.

Từ năm 2014, Cục đã triển khai áp dụng hệ thống mã vạch trong công tác giám sát hải quan tại các chi cục hải quan lớn thuộc các cục hải quan tỉnh, thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Ninh, Bình Dương. Việc áp dụng hệ thống mã vạch cho phép giảm thời gian xử lý hải quan tại khu vực giám sát từ 30 phút/lô hàng xuống còn dưới 3 phút/lô hàng.

Trong công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu, từ năm 1998, ngành Hải quan đã triển khai trên phạm vi toàn quốc hệ thống kế toán thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Hệ thống sau khi được triển khai đã đem đến những hiệu quả rõ rệt, giảm khối lượng công việc (liên quan đến công tác kế toán) cho cán bộ hải quan do hệ thống được thiết kế với cơ chế tự động hạch toán kế toán. Với cơ chế này cán bộ nhập liệu chỉ cần nhập các chỉ tiêu thông tin cơ bản của hồ sơ, hệ thống sẽ tự động định khoản kế toán. Với cơ chế này cho phép cán bộ của nhiều bộ phận có thể tham gia cập nhật, khai thác hệ thống (trước đây chỉ có cán bộ kế toán được đạo chuyên sâu mới có thể cập nhật, khai thác thông tin kế toán thuế XNK).

Trước năm 2003, việc xác định trị giá tính thuế được thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp thủ công dẫn đến nhiều khó khăn vướng mắc. Cục CNTT và Thống kê hải quan đã chủ trì xây dựng và triển khai hệ thống quản lý thông tin giá tính thuế trên phạm vi toàn quốc và đem lại các lợi ích chính như sau: Giúp ngành Hải quan thực hiện được cam kết về thực hiện trị giá GATT/WTO; Góp phần giảm thiểu việc áp dụng không nhất quán trong xác định trị giá giữa các đơn vị hải quan. Là công cụ đắc lực giúp ngành Hải quan quản lý, theo dõi các thông tin về giá của hàng hóa xuất nhập khẩu, qua đó đề ra được các biện pháp đấu tranh, chống gian lận thương mại qua giá.

Trong công tác quản lý rủi ro, giai đoạn từ 2005 đến 2015, hàng năm tỷ lệ tăng trưởng số lượng giao dịch xuất khẩu, nhập khẩu (thể hiện thông qua số lượng tờ khai) trung bình khoảng 16%, tỷ lệ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK trung bình 12,6%. Trong khi đó tỷ lệ tăng trưởng biên chế trung bình của ngành hải quan chỉ đạt dưới 5%. Với tốc độ tăng trưởng không tương xứng giữa cán bộ và khối lượng công việc đã tạo ra sức ép rất lớn về việc cải cách phương thức làm việc. Để có được chất lượng công việc tốt, đòi hỏi cơ quan hải quan phải phân loại hồ sơ XNK từ đó có những ứng xử phù hợp và cần tập trung nguồn lực vào những hồ sơ có mức độ rủi ro cao. Nhận thức được vấn đề trên trên cơ sở nghiên cứu hệ thống CNTT của một số nước phát triển, Cục CNTT và Thống kê hải quan đã đề xuất và được các đơn vị vụ, cục chức năng cũng như lãnh đạo Tổng cục Hải quan nhất trí mô hình, qui trình thông quan hàng hóa có áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, cũng như công thức tính toán rủi ro đối với lô hàng XNK. Tháng 12/2005, Cục CNTT và Thống kê hải quan đã hoàn thành việc xây dựng và triển khai trên phạm vi toàn quốc hệ thống quản lý rủi ro.

Việc triển khai hệ thống quản lý rủi ro đã mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển ứng dụng CNTT, đó là giai đoạn thực hiện các chuẩn mực của Tổ chức Hải quan Thế giới trong thông quan hàng hóa. Cho đến nay, hệ thống quản lý rủi ro hàng ngày, hàng giờ, đang cung cấp thông tin phục vụ quá trình thông quan tự động cũng như giúp ngành hải quan tập trung nguồn lực để xử lý hồ sơ có nghi vấn. Việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý rủi ro đã góp phần tạo thuận lợi thương mại đồng thời nâng cao năng lực quản lý của cơ quan hải quan.

Trong công tác kiểm tra sau thông quan và điều tra, chống buôn lậu, xử lý vi phạm, Cục đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị để nghiên cứu, xây dựng và đưa vào áp dụng các hệ thống CNTT phục vụ cho công tác kiểm tra sau thông quan và điều tra, chống buôn lậu, xử lý vi phạm. Các hệ thống trên đều đã được triển khai thống nhất trong toàn Ngành và mang lại hiệu quả tích cực trong công tác quản lý nhà nước về hải quan.

Cùng với việc triển khai thủ tục hải quan điện tử và thanh toán thuế điện tử, Cục đã đưa vào vận hành Cổng thông tin điện tử hải quan để góp phần cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp như: Tuyên truyền, phổ biến các cơ chế, chính sách, các quy trình, hướng dẫn về hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, thủ tục hải quan và các quy định liên quan khác.

Đã đăng tải và cập nhật thường xuyên 84 bộ thủ tục hành chính về hải quan, 770 các văn bản quy phạm pháp luật, Là nơi tiếp nhận các ý kiến phản ánh của người dân và doanh nghiệp để tổng hợp, xử lý. Tiếp nhận các yêu cầu giải đáp thắc mắc của doanh nghiệp về thủ tục hải quan.

Bên cạnh đó, Cục CNTT và Thống kê hải quan còn đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào công tác chỉ đạo điều hành. Hàng năm ngành Hải quan phải tiếp nhận và xử lý khoảng 7 triệu tờ khai hải quan với việc tuân thủ hệ thống rộng lớn các quy định của Luật, Nghị định, Thông tư. Với khối lượng công việc như vậy không thể tránh khỏi các vướng mắc phát sinh từ đó phải trả lời, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn doanh nghiệp XNK.

Để có thể quản lý được khối lượng khổng lồ văn bản đi và đến ngành hải quan cũng như thực hiện việc chỉ đạo điều hành nội bộ qua mạng, ngay từ năm 2003, Cục CNTT và Thống kê hải quan đã giúp Tổng cục Hải quan triển khai hệ thống Net Office cho phép quản lý công văn đi, đến.

Từ năm 2007-2009, Cục đã triển khai đến các cục hải quan  tỉnh, thành phố hệ thống này, đồng thời tại Tổng cục Hải quan đã từng bước thực hiện việc điều hành qua mạng. Việc triển khai hệ thống Net.Office cho phép cơ quan hải quan tiếp nhận văn bản ở dạng giấy hoặc điện tử, chuyển hóa văn bản giấy ra dạng điện tử từ đó giúp các cấp Lãnh đạo phân luồng, phân công cán bộ xử lý văn bản, phát hành văn bản trả lời. Cơ sở dữ liệu văn bản dạng điện tử thống nhất trong toán ngành giúp cán bộ có thể tiếp cận được nhiều thông tin, văn bản hướng dẫn từ đó góp phần thống nhất cách xử lý nghiệp vụ trong phạm vi toàn quốc.

Ngoài ra, Cục cũng đã phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và triển khai các hệ thống trong các lĩnh vực quản lý cán bộ, thi đua khen thưởng, tài chính, tài sản, xây dựng cơ bản,…

Thông tin thống kê hải quan được cung cấp đầy đủ, kịp thời, ngày càng có độ tin cậy và chất lượng cao, qua đó góp phần quan trọng nâng cao hiệu và hiệu lực quản lý nhà nước nói chung, sự phát triển và hiện đại hóa của ngành Hải quan nói riêng. Chất lượng số liệu thống kê hàng hoá XNK, đánh giá tình hình XNK… ngày càng chính xác và đáng tin cậy, phục vụ đắc lực cho công tác điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong hoạt động kinh tế đối ngoại và chính sách thuế của Chính phủ, của các bộ, ngành chức năng trong các năm qua.

Đối với nội ngành, số liệu thống kê hải quan về hàng hoá XNK đã phục vụ tốt cho các yêu cầu của công tác nghiệp vụ trong ngành. Đối với ngoài ngành, số liệu thống kê hải quan về hàng hoá XNK được đánh giá là một trong những nguồn số liệu thống kê kinh tế vĩ mô có chất lượng tốt nhất và duy nhất trong hệ thống các chỉ tiêu thống kê quốc gia.

Đến nay CNTT đã được ứng dụng vào tất cả các quy trình nghiệp vụ hải quan, đặc biệt những năm qua, ngành Hải quan đã thực hiện quyết liệt, có hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian làm thủ tục hải quan, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Để có được thành công này ắt hẳn vai trò của CNTT đã được lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ nhìn nhận là “hạ tầng của hạ tầng”, thưa ông?

Có thể nói CNTT đã được ứng dụng mạnh mẽ trong tất cả các quy trình nghiệp vụ hải quan; để có được thành công này, bên cạnh sự nỗ lực của cán bộ, công chức làm công tác CNTT, không thể thiếu được sự quan tâm, ủng hộ và nỗ lực của cán bộ, công chức nghiệp vụ trong toàn ngành.

Điều này thể hiện ở 02 khía cạnh sau: Thứ nhất, từ lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ trong toàn ngành đã có sự thống nhất nhận thức chung là việc ứng dụng CNTT là yếu tố sống còn đối với công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, là xu thế phát triển không thể đảo ngược của một cơ quan hải quan hiện đại, là chìa khóa giải quyết giữa hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan trước khối lượng công việc ngày càng lớn với việc tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp.

Thứ hai, là sự triển khai quyết liệt, mạnh mẽ của cán bộ, công chức nghiệp vụ trong toàn ngành. Ứng dụng CNTT đã đi vào cuộc sống, chứng minh tính ưu việt và mang lại lợi ích khi cán bộ, công chức nghiệp vụ triển khai mạnh mẽ, đúng với quy định. Thực tế triển khai vừa qua cho thấy, cán bộ, công chức trong toàn ngành Hải quan đã rất nhiệt tình và có nhiều nỗ lực trong việc triển khai các ứng dụng CNTT hải quan.

Đặc biệt, trong quá trình triển khai hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS vừa qua minh chứng điều đó. Chỉ trong thời gian đào tạo chưa đầy 6 tháng, gần 10.000 cán bộ, công chức nghiệp vụ trong toàn ngành đã nắm vững và sử dụng thành thạo hệ thống VNACCS/VCIS, thể hiện sự quyết tâm cao độ của cán bộ, công chức trong toàn ngành.

Theo tôi biết, để đạt được kết quả đó, bên cạnh sự đào tạo, hỗ trợ của Tổng cục, nhiều cán bộ, công chức nghiệp vụ còn tự đào tạo, tìm hiểu hệ thống trong những ngày nghỉ, đồng thời học hỏi lẫn nhau để có thể sử dụng thành thạo hệ thống.

Nguồn nhân lực quyết định cơ hội phát triển của CNTT, vậy ông đánh giá như thế nào về lực lượng cán bộ làm công tác CNTT và thống kê hải quan?  

Trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT, nhằm đảm bảo yêu cầu triển khai ứng dụng CNTT mạnh mẽ trong ngành Hải quan, với chức năng, nhiệm vụ của mình, Cục đã chủ động xây dựng và phát triển nguồn nhân lực CNTT và thống kê hải quan không chỉ trong nội bộ đơn vị mà các đơn vị trong toàn ngành, đảm bảo nguồn nhân lực để triển khai các ứng dụng lớn về CNTT.

Từ năm 2005 đến nay, cán bộ, công chức làm công tác tại Cục CNTT và Thống kê hải quan đã tăng gần 03 lần về số lượng. Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức thuộc Cục đã được tôi luyện và thử thách qua hàng loạt các công việc được giao. Chúng tôi đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức đảm nhiệm vai trò chuyên gia trong các lĩnh vực CNTT và thống kê, cụ thể là các chuyên gia trong lĩnh vực phần mềm, thiết kế hệ thống ứng dụng, hạ tầng mạng, hệ thống máy chủ lớn, an ninh an toàn, quản lý vận hành hệ thống CNTT lớn. Đội ngũ chuyên gia trong Cục đã đóng vai trò “đầu tàu” trong hướng dẫn, đào tạo, xây dựng các hệ thống, hợp tác với các chuyên gia nước ngoài trong lĩnh vực CNTT và thống kê.

Bên cạnh việc phát triển độ ngũ cán bộ, công chức tin học của đơn vị, để đảm bảo triển khai thành công các ứng dụng CNTT, Cục đã triển khai hàng loạt các giải pháp để phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tin học tại các cục hải quan tỉnh, thành phố như: Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu, tham gia vào việc cùng xây dựng và triển khai các ứng dụng CNTT… Trong toàn ngành đã hình thành 10 Trung tâm dữ liệu và CNTT tại các cục hải quan tỉnh, thành phố với đội ngũ cán bộ công chức có chuyên môn sâu về lĩnh vực CNTT, đảm nhiệm thực hiện việc triển khai, hỗ trợ các cán bộ nghiệp vụ trong vận hành các hệ thống CNTT. Đến nay, cán bộ, công chức làm công tác chuyên trách tin học tại các đơn vị trong ngành với hơn 400 cán bộ, công chức đạt trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đủ năng lực đảm nhận các nội dung phức tạp, triển khai các dự án lớn.

Đây là nguồn lực cực kỳ quan trọng để đáp ứng yêu cầu ứng dụng mạnh mẽ hơn nữa về CNTT của ngành Hải quan trong thời gian tới.

Danh hiệu Anh hùng Lao động là phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ghi nhận những nỗ lực, đóng góp to lớn không ngừng của các thế hệ cán bộ CNTT của Cục trong suốt 28 năm xây dựng, trưởng thành và cũng là đơn vị  CNTT đầu tiên của Bộ Tài chính được đề cử danh hiệu cao quý này. Xin ông chia sẻ cảm xúc của mình?

Việc được đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động mang đến cho tôi rất nhiều cảm xúc, đó là: Cảm xúc vui, tự hào nhưng cũng bồi hồi, xao xuyến khi nhớ lại những năm tháng gian khổ từ những ngày đầu xây dựng và phát triển của Cục CNTT và Thống kê hải quan.

Vui, tự hào vì những nỗ lực, cống hiến của tập thể cán bộ, công chức Cục CNTT và Thống kê hải quan trong những năm qua được các cấp lãnh đạo ghi nhận và biểu dương. Bên cạnh đó, trong giờ phút này, lòng tôi cũng se lại khi nhớ tới những đồng chí, đồng đội mình. Một số đồng chí đã nghỉ hưu, một số đồng chí đã chuyển công tác và một số đồng chí đã ra đi. Tôi nhớ những ngày đồng cam, cộng khổ, khó khăn bên nhau, tình đồng chí, chia ngọt sẻ bùi để hoàn thành nhiệm vụ đề ra.

Chúng tôi luôn biết ơn và ghi nhớ những đóng góp của những đồng chí, những thế hệ đi trước với những đóng góp vô cùng quý báu đối với sự phát triển của Cục như ngày hôm nay. Chúng tôi tự hứa với lòng mình luôn quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao để xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của đơn vị!

Để xứng đáng với danh hiệu vẻ vang này, theo ông Cục CNTT và Thống kê hải quan cần phải làm gì và mục tiêu của Cục trong thời gian sắp tới là gì?

Chúng tôi xác định mục tiêu của Cục trong thời gian tới tiếp tục tham mưu cho ngành và là đơn vị nòng cốt trong việc tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong lĩnh vực hải quan, phấn đấu, đến năm 2020, hệ thống CNTT hải quan là hệ thống thông minh, xử lý tập trung trên nền tảng công nghệ hiện đại, có khả năng sẵn sàng cao, tích hợp chặt chẽ với các hệ thống thông tin của các bên liên quan đáp ứng yêu cầu công tác quản lý hải quan theo chuẩn mực quốc tế “Mọi lúc – Mọi nơi – Mọi phương tiện”.  

Chúng tôi sẽ tập trung làm tốt công tác tham mưu, điều phối, xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển và ứng dụng CNTT ngành Hải quan giai đoạn 2016 – 2020 với các nội dung cụ thể sau: Một là đảm bảo duy trì, vận hành các hệ thống CNTT thông tin hải quan ổn định, an ninh, an toàn 24/7, trong đó tập trung các công việc sau: Tổ chức quản trị, giám sát 24/7 tình trạng hoạt động, an ninh, kết nối mạng, truyền nhận dữ liệu và việc khai thác sử dụng các hệ thống công nghệ thông tin đặt tại trung tâm; Thực hiện hướng dẫn, hỗ trợ, giải đáp vướng mắc liên quan hệ thống CNTT và điều phối việc giải đáp vướng mắc liên quan các nghiệp vụ hải quan thực hiện trên hệ thống cho các đối tượng sử dụng hệ thống VNACCS/VCIS, Single Windows và các hệ thống thành phần khác; Thực hiện công tác quản lý, đảm bảo kỹ thuật, an ninh an toàn cho hệ thống CNTT tại trung tâm; Thực hiện công tác bảo trì bảo dưỡng, cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống mạng, trang thiết bị, phần mềm hệ thống của Trung tâm để đảm bảo đủ điệu kiện hoạt động theo tiêu chuẩn qui định; Phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành liên quan đến việc khai thác sử dụng các hệ thống đặt tại Trung tâm và kết nối, truyền nhận dữ liệu giữa các hệ thống tại Trung tâm với các hệ thống bên ngoài.

Hai là đầu tư nâng cấp, phát triển các hệ thống ứng dụng CNTT hải quan tập trung theo mô hình kiến trúc hướng dịch vụ phục vụ cho triển khai cơ chế một cửa quốc gia, kết nối cơ chế một cửa ASEAN và áp dụng toàn diện CNTT trong các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan và công tác quản lý điều hành, trong đó tập trung: Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật hệ thống CNTT hải quan thống nhất; Nâng cấp, phát triển Cổng thông tin một cửa quốc gia đáp ứng yêu cầu kết nối với các hệ thống thông tin của các bộ, ngành tham gia vào Cơ chế một cửa quốc gia để xử lý các thủ tục hành chính, kết nối Cổng thông tin một cửa quốc gia với Cổng thông tin của các nước thành viên ASEAN để trao đổi các thông tin được thỏa thuận theo Hiệp định ASEAN; Nâng cấp, phát triển các hệ thống CNTT phục vụ công tác nghiệp vụ hải quan như hệ thống quá cảnh, hệ thống quản lý các chế độ quản lý hải quan, hệ thống phục vụ công tác miễn, giảm, hoàn thuế, hệ thống để cung cấp, thu thập, trao đổi thông tin với các cơ quan có liên quan, ví dụ cung cấp thông tin tờ khai cho ngân hàng, Tổng cục Thuế, kho bạc,… Hệ thống hỗ trợ ra quyết định, hệ thống thống kê hải quan.

Ba là đảm bảo xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT, bao gồm trang thiết bị, hệ thống mạng thông tin và các giải pháp an ninh, an toàn đảm bảo triển khai có hiệu quả các ứng dụng CNTT.

Bốn là phát triển nguồn nhân lực về CNTT. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách CNTT: Xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức thuộc Cục có đủ năng lực để quản trị, vận hành các hệ thống CNTT an ninh, an toàn, bền vững; triển khai ứng dụng CNTT trong lĩnh vực hải quan; có các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực CNTT. Cán bô, công chức nghiệp vụ trong ngành sử dụng thành thạo các ứng dụng CNTT. Các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu sử dụng thành thạo các ứng dụng CNTT trong quá trình làm thủ tục hải quan. Hình thành đội ngũ đối tác CNTT đáp ứng yêu cầu triển khai ứng dụng CNTT giai đoạn 2016 - 2020.

Tôi tin tưởng rằng với việc phát huy truyền thống tốt đẹp của đơn vị, Cục CNTT và Thống kê hải quan sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc mục tiêu trong thời gian tới.

Xin cảm ơn Cục trưởng!

(Phương An - Thực hiện)