Cần giải pháp chính sách vĩ mô hỗ trợ đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng

Hệ thống ngân hàng không thể tự đẩy tăng trưởng tín dụng theo mong muốn của mình trong bối cảnh sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn ở mức thấp và càng không thể tăng trưởng tín dụng vào những địa chỉ tiềm ẩn rủi ro, không thu hồi được vốn. Bên cạnh các giải pháp của hệ thống ngân hàng, tiếp tục cần sự phối hợp đồng bộ từ phía các giải pháp chính sách vĩ mô khác trong việc đẩy mạnh giải ngân.

Cần giải pháp chính sách vĩ mô hỗ trợ đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng

Đây là quan điểm của Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về vấn đề đẩy mạnh giải ngân, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới.

Tăng trưởng tín dụng theo quy luật

Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế luôn là tâm điểm và là vấn đề được các nhà kinh tế quan tâm, phân tích, đánh giá, nhận định. Điều này thật dễ hiểu bởi thực tế ở Việt Nam hiện nay, thị trường vốn chưa phát triển, khả năng đa dạng hóa nguồn vốn huy động của doanh nghiệp còn hạn chế, bởi vậy các doanh nghiệp phụ thuộc khá lớn vào nguồn vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng, kể cả nguồn vốn đầu tư trung, dài hạn.

Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã hết sức cố gắng nỗ lực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường như NHNN đã điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để giảm mặt bằng lãi suất cho vay xuống phổ biến mức 9-11%/năm, bằng với mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006; các TCTD tích cực miễn giảm lãi vốn vay, giảm lãi suất của các khoản cho vay cũ,  đến nay, tỷ trọng các khoản cho vay có lãi suất trên 15%/năm chỉ còn 5,6% so với mức 65% trước thời điểm 15/7/2012; thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho khoảng trên 300.000 tỷ đồng dư nợ; tổ chức nhiều đoàn công tác tới các tỉnh, thành trong cả nước để tháo gỡ những vướng mắc trong quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và ngân hàng, tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư tại các vùng miền, địa phương...

Số liệu thống kê nhiều năm cho thấy, tăng trưởng tín dụng tại Việt Nam theo  quy luật thường tăng cao trong tháng cuối năm, sau đó giảm hoặc tăng rất chậm vào những tháng đầu năm. Diễn biến  hoạt động tín dụng năm 2014 cũng không ngoài quy luật đó . Tín dụng tháng 1 giảm 0,55% và giảm 0,65% trong tháng 2, và đến tháng tháng 3 tín dụng đã tăng khoảng 1,35% so với tháng 2, phù hợp với xu hướng của những năm trước (tháng 3/2012 tăng 0,98%, tháng 3/2013 tăng 1,17%). Nếu so với cùng kỳ năm trước, đến cuối tháng 3, tín dụng tăng khoảng 11,59%, bằng với mức tăng trưởng của cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân tín dụng tăng chậm chủ yếu do những tháng đầu năm nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp ở mức thấp; một số ngành, lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh có tính mùa vụ và chưa có nhu cầu vay vốn các tháng đầu năm; ngoài ra một nguyên nhân nữa là sức hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn còn yếu, tình trạng nợ đọng ngân sách, nợ giữ doanh nghiệp và ngân hàng nhưng doanh nghiệp không có dòng tiền do không có đầu ra, nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện vay vốn...

Tuy nhiên, trong bối cảnh lạm phát so cùng kỳ tăng ở mức thấp (4,39%), tín dụng đến tháng 3 đã có tăng trưởng thực, có tác dụng mở rộng đầu tư để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điều này mở ra chiều hướng tích cực để ngành Ngân hàng đạt kế hoạch tăng trưởng tín dụng của năm 2014.

Diễn biến tín dụng cũng có những điểm tích cực nếu nhìn vào cơ cấu tín dụng tiếp tục có sự dịch chuyển theo hướng tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Đến cuối tháng 1/2014, tín dụng xuất khẩu tăng 1,28%, công nghiệp hỗ trợ tăng 1,73%, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 0,41% so với cuối năm 2013. Đến cuối tháng 2/2014, tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn tăng khoảng 0,15% so với cuối năm 2013. Riêng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn giảm so với cuối năm 2013 bởi sức hấp thụ vốn của khối doanh nghiệp này thấp, nhiều doanh nghiệp có tình hình tài chính yếu kém, nên không đủ điều kiện vay vốn.

Hệ thống NH dồn đầu tư vào trái phiếu

Trong bối cảnh tín dụng tăng thấp, hệ thống ngân hàng đã tăng cường đầu tư vào trái phiếu chính phủ. Từ đầu năm đến nay, các TCTD đã mua khoảng 83% lượng trái phiếu Chính phủ phát hành (số liệu đến 28/3/2014, tổng lượng trái phiếu Chính phủ phát hành khoảng 81.600 tỷ đồng).

Các TCTD đầu tư vào trái phiếu Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho Chính phủ phát hành thành công khối lượng lớn trái phiếu với lãi suất thấp (lãi suất TPCP các kỳ hạn giảm từ 1%/năm -1,3%/năm so với phiên đầu năm) để tiết kiệm chi phí cho ngân sách và cơ cấu lại các TPCP đến hạn thanh toán, đồng thời đáp ứng nguồn vốn để giải ngân các dự án, công trình trọng điểm. Đối với nền kinh tế, việc tăng đầu tư vào TPCP có tác động rất tốt ở chỗ trong khi tín dụng chưa thể mở rộng, việc các TCTD đầu tư TPCP  có thể giúp tăng thanh khoản cho nền kinh tế. Khi các khoản vốn này được giải ngân và sử dụng hiệu quả, sẽ giúp kích hoạt dòng tiền trong nền kinh tế. Các dự án, doanh nghiệp thuộc diện sử dụng nguồn TPCP có tiền để đầu tư, sẽ giúp lưu thông hàng hóa, dịch vụ của nhiều doanh nghiệp khác, qua đó có tác động lan tỏa và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Số dư TPCP do các TCTD nắm giữ tăng thêm trong 3 tháng đầu năm (bằng số mua TPCP trừ đi số TPCP đến hạn thanh toán) là khoảng 43.000 tỷ, tương đương với 1,09% tăng trưởng tín dụng.

Trong điều kiện các TCTD chưa thể mở rộng tín dụng mặc dù lãi suất cho vay đã giảm mạnh, thì việc các TCTD tăng cường đầu tư vào trái phiếu Chính phủ cũng là một sự linh hoạt vừa đem lại hiệu quả đầu tư của nguồn vốn huy động phải trả lãi, đồng thời tăng dự trữ thanh khoản.

Xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng

Theo bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ-NHNN, thời gian tới, để hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, lưu thông dòng vốn trong nền kinh tế, NHNN tiếp tục tập trung chỉ đạo triển khai các giải pháp tín dụng để đạt được mục tiêu tín dụng cả năm 2014 là 12-14%. Cụ thể, NHNN sẽ xem xét linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các TCTD trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính, khả năng mở rộng tín dụng của các TCTD. Đồng thời, tập trung ưu tiên vốn tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên, đảm bảo đủ nguồn vốn tín dụng để cho vay thu, mua, tạm trữ lúa, gạo để hỗ trợ cho nông dân; triển khai chương trình cho vay thí điểm mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất, các mô hình sản xuất áp dụng khoa học và công nghệ cao, các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu với lãi suất hợp lý theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ tại Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 2/2014 và tại Hội nghị về sản xuất và tiêu thụ lúa, gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Thêm nữa, thực hiện nhân rộng ra một số tỉnh, thành phố khác việc áp dụng mô hình chương trình kết nối ngân hàng-doanh nghiệp đã và đang triển khai có hiệu quả tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó NHNN chi nhánh phối hợp với các sở, ngành, hiệp hội ngành nghề ở địa phương chủ động tìm hiểu những khó khăn của doanh nghiệp liên quan đến nhu cầu về vốn, mức lãi suất...; trên cơ sở đó NHNN chi nhánh thực hiện rà soát, kiểm tra chéo, rà soát nhu cầu vốn thực tế và chỉ đạo các NHTM trên địa bàn chủ động tìm và hỗ trợ tín dụng cho từng nhu cầu cụ thể; tiếp tục chỉ đạo các NHTM nhà nước đẩy mạnh triển khai chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ.

Đáng chú ý, hưởng ứng chương trình mới đây của Ngân hàng Xây dựng, NHNN sẽ triển khai sản phẩm tín dụng cho vay liên kết 4 nhà trong lĩnh vực xây dựng bao gồm ngân hàng - chủ đầu tư - nhà thầu - nhà cung cấp nhằm gắn kết nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà thầu, nhà đầu tư, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, góp phần lưu thông hàng hóa, giải quyết lượng hàng tồn kho.

Tuy nhiên, Vụ Chính sách tiền tệ-NHNN cũng cho rằng, cần phải thấy rằng hệ thống ngân hàng không thể tự đẩy tăng trưởng tín dụng theo mong muốn của mình trong bối cảnh sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn ở mức thấp và càng không thể tăng trưởng tín dụng vào những địa chỉ tiềm ẩn rủi ro, không thu hồi được vốn.

Bên cạnh các giải pháp của hệ thống ngân hàng, tiếp tục cần sự phối hợp đồng bộ từ phía các giải pháp chính sách vĩ mô khác trong việc đẩy mạnh giải ngân, thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, giải ngân vốn từ nguồn phát hành TPCP cũng như tăng cường hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn này để tăng thanh khoản vào nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong điều kiện lạm phát còn thấp, tín dụng ngân hàng chưa tăng cao; tạo điều kiện cho các dự án FDI triển khai và hoạt động, khẩn trương hoàn thiện các thủ tục cam kết và bố trí đủ vốn đối ứng để giải ngân vốn ODA.

Theo đó, Bộ Công thương, Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường phối hợp chặt chẽ với NHNN trong việc xây dựng các quy định liên quan đến xác định đối tượng cho vay, nhu cầu vốn, nguồn vốn, các cơ chế về xử lý rủi ro trong các chương trình tín dụng liên kết trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp, các mô hình sản xuất áp dụng khoa học và công nghệ cao, các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu…; tổ chức triển khai thu mua tạm trữ lúa gạo, thực hiện cơ cấu sản xuất lúa gạo phù hợp với tình hình thị trường và thực hiện các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản. Các địa phương tích cực triển khai mô hình kết nối doanh nghiệp đang triển khai có hiệu quả tại TP. Hồ Chí Minh, tham gia hỗ trợ nguồn vốn của chính quyền địa phương để cùng với ngân hàng thực hiện cho vay theo các chương trình bình ổn giá.

(T.Hương)