Cần tính toán lại giới hạn đảm bảo an toàn trong hoạt động của Quỹ TDND

Tỷ lệ đảm bảo an toàn Luật các TCTD không yêu cầu NHNN phải quy định cụ thể các giới hạn để bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên, để thống nhất trong việc thực hiện tính toán các giới hạn này, dự thảo Thông tư vẫn có quy định và hướng dẫn thống nhất đối với một số giới hạn (góp vốn, cho vay đối với khách hàng).

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Cần quy định tỷ lệ

Luật các TCTD quy định tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài (chi nhánh NHNNg) phải duy trì các tỷ lệ khả năng chi trả; Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% hoặc tỷ lệ cao hơn theo quy định của NHNN trong từng thời kỳ; Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn; Trạng thái ngoại tệ, vàng tối đa so với vốn tự có; Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi; các tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn so với tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn.          

Trong đó, tổng số vốn của một TCTD đầu tư vào một TCTD khác, công ty con của TCTD dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần và các khoản đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần nhằm nắm quyền kiểm soát các doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán phải trừ khỏi vốn tự có khi tính các tỷ lệ an toàn.

Trong trường hợp TCTD, chi nhánh NHNNg không đạt hoặc có khả năng không đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định, TCTD, chi nhánh NHNNg phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước giải pháp, kế hoạch khắc phục để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định. Theo đó, NHNN phải quy định cụ thể các tỷ lệ bảo đảm an toàn gồm: Tỷ lệ khả năng chi trả; Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn; Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi; Các tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn so với tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn.

Tuy nhiên, Dự thảo Thông tư không quy định về tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn so với tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn vì cho vay trung dài hạn cũng như huy động trung dài hạn ở quỹ tín dụng nhân dân hiện nay quy mô còn rất nhỏ, không đáng kể, do đó chưa cần thiết phải có quy định về tỷ lệ nêu trên. Hơn nữa, cũng như các loại hình TCTD khác, hiện chưa có cơ sở thực tế cũng như số liệu thống kê về các tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn so với tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn để làm cơ sở nghiên cứu, quy định. Do đó, trước mắt, NHNN sẽ quy định các chỉ tiêu báo cáo đối với tỷ lệ này, làm cơ sở giám sát. Sau đó sẽ nghiên cứu, quy định bổ sung (nếu cần thiết).

Luật các TCTD không yêu cầu NHNN phải quy định cụ thể các giới hạn để bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên, để thống nhất trong việc thực hiện tính toán các giới hạn này, dự thảo Thông tư vẫn có quy định và hướng dẫn thống nhất đối với một số giới hạn (góp vốn, cho vay đối với khách hàng).

Đồng thời, để tính toán các giới hạn nêu trên, dự thảo Thông tư bổ sung  khái niệm người có liên quan để thống nhất thực hiện trong toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, tạo điều kiện cho các quỹ tín dụng nhân dân thực hiện, cơ quan quản lý có cơ sở kiểm tra, giám sát.

Hiện nay, NHNN đã có Quyết định số 1328/2005/QĐ-NHNN ngày 06/9/2005 ban hành quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở (Quyết định 1328). Tuy nhiên, Quyết định 1328 đã không còn phù hợp với hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân trong, cụ thể, Quyết định 1328 ban hành căn cứ vào Luật các TCTD năm 1997. Hiện Luật các TCTD 1997 đã được thay thế bởi Luật các TCTD năm 2010. Theo đó, các nội dung quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD, chi nhánh NHNNg cũng thay đổi. Do đó, các quy định trong Quyết định 1328 không phù hợp với Luật các TCTD năm 2010.

Từ các lý do trên, việc xây dựng Thông tư quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân là cần thiết để phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và để bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân và làm cơ sở để các cơ quan quản lý thống nhất thực hiện quản lý, giám sát.

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%

Dự thảo Thông tư quy định về 06 giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, gồm: Tỷ lệ an toàn vốn; tỷ lệ về khả năng chi trả; tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn; tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi; giới hạn cho vay và giới hạn góp vốn.

Về cơ bản kế thừa nội dung quy định tại Quyết định 1328 và có sửa đổi bổ sung phù hợp với Luật các TCTD 2010 và Dự thảo Thông tư về quỹ tín dụng nhân dân, Dự thảo Thông tư quy định tỷ lệ an toàn vốn mà quỹ tín dụng nhân dân phải duy trì tối thiểu là 8%.

Dự thảo Thông tư quy định các cấu phần để xác định tài sản Có có thể thanh toán ngay và Tổng Nợ phải trả để phù hợp với hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân theo Luật các TCTD 2010. Kết thúc ngày làm việc, quỹ tín dụng nhân dân phải duy trì tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 15% cho ngày làm việc tiếp theo.

Dự thảo Thông tư yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân phải ban hành quy định nội bộ về quản lý thanh khoản. Định kỳ hằng năm và khi cần thiết, quỹ tín dụng nhân dân phải rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định nội bộ về quản lý thanh khoản.

Dự thảo Thông tư quy định công thức và cách xác định cụ thể đối với tỷ lệ này. Theo đó, quỹ tín dụng nhân dân phải duy trì tỷ lệ của nguồn vốn ngắn hạn được cho vay trung và dài hạn tối đa là 20%.

Do đặc thù của quỹ tín dụng nhân dân, đối với những quỹ tín dụng nhân dân thiếu hụt nguồn vốn để cho vay được Ngân hàng Hợp tác xã cho vay. Hiện mức cho vay tối đa này đang được Ngân hàng Hợp tác xã cho vay quỹ tín dụng nhân dân với mức 50% tổng dư nợ cho vay của quỹ tín dụng nhân dân.

Khác với hoạt động của các loại hình TCTD khác là có thể mở chi nhánh, phòng giao dịch tại những địa bàn có lượng tiền gửi cao để huy động vốn và điều chuyển vốn trong nội bộ để cho vay những địa bàn có nhu cầu vốn vay cao nhưng không huy động được vốn, địa bàn hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân chỉ trong một xã, phường, thị trấn và trong một số trường hợp hoạt động trên địa bàn liên xã, liên phường. Do đó, đặc thù của việc huy động vốn tại các quỹ tín dụng nhân dân là phụ thuộc vào địa bàn nơi quỹ tín dụng nhân dân hoạt động. Có những nơi việc huy động tiền gửi rất hạn chế như ở vùng xâu, xa, kinh tế không phát triển nhưng những địa bàn này thì dân lại rất cần vốn để sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu đời sống; có những địa bàn kinh tế phát triển, việc huy động cũng như nhu cầu vay vốn đều cao vì kinh tế phát triển.

Trên thực tế, theo số liệu giám sát của Cơ quan Thanh tra Giám sát ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước), tính đến thời điểm 31/12/2013, tỷ lệ cho vay trên huy động thị trường 1 vượt quá 100% là 761 quỹ tín dụng nhân dân trên tổng số 1144 quỹ tín dụng nhân dân. Trong đó, có 219 quỹ tín dụng nhân dân có tỷ lệ cho vay trên huy động thị trường 1 vượt quá 150%; có 73 quỹ tín dụng nhân dân có tỷ lệ cho vay trên huy động thị trường 1 vượt quá 200%. Tại thời điểm 28/2/2014, tỷ lệ cho vay trên huy động thị trường 1 vượt quá 100% là 570 quỹ tín dụng nhân dân trên tổng số 1144 quỹ tín dụng nhân dân. Trong đó, có 151 quỹ tín dụng nhân dân có tỷ lệ cho vay trên huy động thị trường 1 vượt quá 150%; có 46 quỹ tín dụng nhân dân có tỷ lệ cho vay trên huy động thị trường 1 vượt quá 200%.

Số liệu nêu trên cho thấy, số lượng quỹ tín dụng nhân dân huy động vốn trên thị trường 1 chỉ đáp ứng được khoảng 50-70% nhu cầu vay vốn của thành viên là khá lớn (chiếm khoảng 1/3 số quỹ tín dụng nhân dân).

Có thể thấy do đặc thù hoạt động, việc huy động vốn của các quỹ tín dụng nhân dân trên các địa bàn là khác nhau, việc quy định một tỷ lệ cứng dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi để áp dụng đối với tất cả các quỹ tín dụng nhân dân là không phù hợp. Do đó, dự thảo Thông tư quy định các quỹ tín dụng nhân dân phải duy trì tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi theo tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố quyết định theo quy trình.

(T.Hương)