Chính sách tiền tệ đã chủ động xoay quanh mục tiêu tăng trưởng kinh tế hợp lý

Trong 6 tháng đầu năm 2014, kinh tế vĩ mô diễn biến theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương và các giải pháp điều hành của Chính phủ. Tuy nhiên, tổng cầu của nền kinh tế tăng chậm, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn khó khăn...Dù ngành Ngân hàng đã sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ đã đồng bộ và linh hoạt, song sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu.

CS tiền tệ  đã có sự phối hợp chặt chẽ với CS tài khóa.CS tiền tệ đã có sự phối hợp chặt chẽ với CS tài khóa.

Công cụ CS tiền tệ được sử dụng linh hoạt

Trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu, nhiệm vụ của ngành ngân hàng, trong 6 tháng đầu năm 2014, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tham mưu và thực hiện điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết các chỉ tiêu tiền tệ phù hợp với theo mục tiêu kiểm soát lạm phát, giảm lãi suất, thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối và vàng, triển khai các giải pháp tín dụng linh hoạt kết hợp với các chính sách tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực; tăng cường công tác thanh tra, giám sát thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD)...

Tại Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014 ngày 9/7, bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết: Các công cụ chính sách tiền tệ đã được điều hành đồng bộ và linh hoạt. Mặc dù đưa một lượng lớn tiền ra để mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước nhưng đã kịp thời rút bớt tiền về, đảm bảo kiểm soát tiền tệ phù hợp mục tiêu kiểm soát lạm phát. Đến ngày 30/6/2014, tổng phương tiện thanh toán tăng 7,29% so với cuối năm 2013, phù hợp so với chỉ tiêu định hướng tăng 16-18% trong năm 2014.

Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất tiếp tục giảm so với cuối năm 2013, góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ. Lãi suất đã ở mức thấp, thực tế với tình hình thanh khoản dồi dào các tổ chức tín dụng cũng chủ động hạ mức lãi suất huy động. Nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn ngày càng cân đối hơn. Các khoản tiền gửi có kỳ hạn dài ngày một nhiều hơn, đường cong lãi suất được hình thành rõ nét. Trong bối cảnh tín dụng tăng trưởng thấp, việc điều hành chính sách tín dụng của NHNN đã được thực hiện linh hoạt. NHNN đã chấp thuận cho một số TCTD tăng trưởng tín dụng vượt so với thông báo của NHNN, thực hiện cho vay bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn thuộc lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ phù hợp với cơ cấu nguồn vốn và khả năng quản trị rủi ro; cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, các chương trình, chính sách tín dụng đối với lĩnh vực, ngành kinh tế tiếp tục được thực hiện.

Đến cuối tháng 6/2014, tín dụng tăng 3,52% so với cuối năm 2013, trong đó có sự đóng góp từ việc tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cao (tín dụng ngoại tệ tăng 12,03%, tín dụng bằng VND tăng 2,17%). Mặc dù tăng thấp nhưng nguyên nhân chủ yếu là do tính quy luật tín dụng thường tăng thấp trong những tháng đầu năm, sức hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn còn yếu, tình trạng nợ đọng ngân sách, vướng mắc trong xử lý tài sản đảm bảo chưa được xử lý dứt điểm, cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn chưa được đẩy mạnh. Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ: Ước đến cuối tháng 6/2014, tín dụng xuất khẩu tăng 10%, công nghiệp hỗ trợ tăng 5,8%, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 13%, doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 2% so với cuối năm 2013; đến cuối tháng 5/2014 tín dụng nông nghiệp, nông thôn ước tăng khoảng 2,56% so với cuối năm 2013.

Nhờ thế mà thanh khoản VND của toàn hệ thống tiếp tục được đảm bảo, có dư thừa, hoạt động của các TCTD ổn định, thị trường tiền tệ vận hành ổn định và thông suốt thể hiện ở: Các TCTD đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN, dự phòng khả năng chi trả tốt, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán cho doanh nghiệp và người dân; tỷ lệ tín dụng/huy động vốn bằng VND tiếp tục giảm từ mức 92,5% cuối 2013 xuống 87,4%; thị trường liên ngân hàng thông suốt, lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng ổn định ở mức thấp.

Tỷ giá và thị trường ngoại tệ và tỷ giá về cơ bản ổn định nhờ các giải pháp điều hành nhất quán, kết hợp đồng bộ giữa chính sách tỷ giá, lãi suất và các công cụ chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối và công tác truyền thông. Sau điều chỉnh tỷ giá của NHNN, tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đã dần ổn định trên mặt bằng giá mới nhưng mặt bằng này vẫn thấp hơn so với mức trần quy định, thanh khoản thị trường vẫn được duy trì như trong những tháng đầu năm. Nhờ tỷ giá ổn định, NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ để nâng Dự trữ ngoại hối Nhà nước lên mức kỷ lục, khoảng 35 tỷ USD. Tình trạng đôla hóa tiếp tục giảm (đến cuối tháng 6/2014, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán khoảng 11,4%, giảm so với mức khoảng 12,4% vào cuối năm 2012-2013). Trong khi đó, thị trường vàng diễn biến tương đối ổn định, NHNN không phải tổ chức đấu thầu bán vàng miếng, góp phần hạn chế việc sử dụng ngoại tệ của Quỹ Bình ổn tỷ giá và giá vàng để nhập khẩu vàng trên thị trường quốc tế. Thị trường vàng được vận hành đúng hướng khi khoảng 7 tháng qua, NHNN gần như không phải can thiệp vào thị trường vàng, ngay cả khi diễn ra các sự việc phức tạp tại Biển Đông. Diễn biến ổn định của thị trường vàng đã góp phần duy trì sự ổn định của tỷ giá, thị trường ngoại hối, tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô.

TCTD đã "tự giác" trích lập dự phòng

Về xử lý nợ xấu, Thống đốc Nguyễn Văn Bình khẳng định, chưa lúc nào, tính tự giác trích lập dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng tốt như hiện tại. VAMC đã mua được trên dưới 50 ngàn tỷ đồng nợ xấu, dự kiến trong năm nay sẽ mua từ 75-100 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Việc mua nợ xấu là quan trọng, nhưng việc xử lý, cơ cấu các khoản nợ xấu đã mua đóng vai trò đặc biệt hệ trọng. VAMC đang tiến hành thực hiện các biện pháp tái cơ cấu nợ xấu, hoàn thiện khung pháp lý về việc xử lý nợ xấu đã mua về, để xử lý nợ xấu tốt hơn.

Tuy vậy, một vấn đề là tín dụng cho nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2014 vẫn tăng thấp so với cùng kỳ năm ngoái và thấp so với chỉ tiêu định hướng cả năm 2014. Trước lo ngại này, Thống đốc cho rằng: Tăng trưởng tín dụng NH mới tăng 3,5% còn khá thấp so với mục tiêu 12-14%. Tuy nhiên, cũng không quá lo ngại vì thường những tháng cuối năm tín dụng sẽ tăng nhanh hơn, thậm chí gấp đôi so với những tháng đầu năm, do đó, hoàn toàn có khả năng tăng trưởng tín dụng trên 10%. Để lưu thông dòng vốn tín dụng, thời gian tới đòi hỏi cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp chính sách vĩ mô để tháo gỡ những nút thắt quan trọng như xử lý nợ xấu, tăng tổng cầu, hỗ trợ thị trường, tiêu thụ sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp, giải quyết dứt điểm nợ đọng của ngân sách, xử lý các vướng mắc liên quan đến tài sản bảo đảm...

Trước một số ý kiến băn khoăn về việc chững lại của tái cơ cấu NH, Thống đốc Nguyễn Văn Bình khẳng định: đây là giai đoạn ngành ngân hàng đang củng cố các đề án dự kiến triển khai mạnh mẽ hơn vào những tháng cuối năm. Hoạt động hệ thống ngân hàng ngày càng nhịp nhàng chặt chẽ hơn, với sự vào cuộc tốt hơn các chi nhánh NHNNN. NHNN cũng đã và đang tích cực triển khai các chương trình kết nối ngân hàng doanh nghiệp, ở nhiều địa phương và đạt kết của tốt (điển hình là TP.HCM). VAMC tích cực xây dựng văn bản pháp luật, phân tích các khoản nợ, cơ chế mua bán, tái cấp vốn thông thoáng hơn. Đến nay đã có nghị quyết của Chính phủ về việc các DN, Tập đoàn, TCT NN khi thoái vốn khỏi TCTD, toàn bộ phần thoái vốn sẽ do NHNN trực tiếp quản lý để góp phần lành mạnh hóa các tổ chức tín dụng. Hiện tại cũng đang xây dựng trình CP về các đề án tái cấu trúc NH nhỏ, từ này đến cuối năm tiếp tục đẩy mạnh tct.

Hiện nay, CP đã phát hành 300 nghìn tỷ đồng TPCP, đến nay TPCP đã mua là 150 nghìn tỷ, hỗ trợ tốt chính sách tài khóa, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Trong điều kiện thâm hụt ngân sách được mở rộng lên 5,3% GDP và khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành tăng lên, việc điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng sẽ chịu nhiều áp lực, bởi vậy không thể chủ quan với những diễn biến của lạm phát. Việc tăng cường nắm giữ trái phiếu Chính phủ một mặt giúp các TCTD tăng dự trữ thanh khoản nhưng cũng có thể phát sinh khó khăn nếu các TCTD không chủ động trong việc cân đối vốn theo kỳ hạn hợp lý. 

Có thể nói, chính sách tiền tệ  đã có sự phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là phối hợp với chính sách tài khóa, chính sách các ngành kinh tế đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý. Hiện tại, chính sách tiền tệ đã chủ động xoay quanh mục tiêu lạm phát. Tuy vậy, thời gian tới vẫn cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt, gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ và đặc biệt là lạm phát, góp phần ổn định thị trường tiền tệ. Ngoài ra, còn theo dõi sát diễn biến thị trường, vốn khả dụng của các TCTD, kế hoạch phát hành, giải ngân trái phiếu Chính phủ để chủ động, kịp thời trong điều hành chính sách tiền tệ. 

(T.Hương)